Đăng bởi: nguoichanbay | 15/03/2013

Thơ: MỪNG CHÚA PHỤC SINH

 

Ảnh

NHỚ NGÀY CHÚA SỐNG

 

Phượng rơi màu máu trên đường

Hai mươi thế kỷ nhớ thương một ngày

Gô-tha – Đồi Sọ u hoài

Xuân qua, hạ lại, ai hay sự tình?

Ve sầu cất tiếng tôn vinh

Mừng ngày Chúa sống – phục sinh khải hoàn

Nắng lên vũ trụ nhuộm vàng

Biển trần im lặng, thế gian hòa bình.

Lệ sầu ướt má nữ trinh

Mắt nhìn mộ trống hải kinh tấc lòng.

Đường về làng cũ ruổi dong

Thầy nay đã chết còn trông mong gì!?

Đức tin, hy vọng lui đi

Tương lai chất chứa thống bi cơ hàn!

Chúa mở mắt, thấy vinh quang

Thầy đã sống lại vội vàng báo tin

Hôm nay mừng Chúa phục sinh

Trẻ già, trai gái, cung nghinh Chúa Trời

Chúa sống lại đã lên trời

Chúa mau trở lại đời đời quản cai.

Nhớ ngày Chúa Sống hùng oai!

Thiên Quang.

 

3656361224516608

Đăng bởi: nguoichanbay | 15/03/2013

CHÚA TÔI TRÊN ĐỒI GÔ-GÔ-THA

BÀI GIẢNG PHỤC SINH

CHÚA TÔI TRÊN ĐỒI GÔ-GÔ-THA

Kinh Thánh : Giăng 20:1-18

Câu Nền Tảng: “Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm; và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại.”
Ma-thi-ơ 28:6-7a

Lễ Kỷ niệm Cứu Chúa Thương Khó và Phục sinh năm nay Hội Thánh chúng ta có chủ đề “Gô-gô-tha – Đường Chúa Tôi Qua”. Tại sao không dùng mệnh đề “Đường Chúa Đi Qua” hay “Đường Chúa Giê-su đi” !? Dụng ý của tôi ở đây là ý nghĩa của chữ Chúa Tôi, ngoài ý nghĩa chính là Chúa của tôi, thì cũng còn mang hàm ý sâu xa “Chúa và Tôi” nữa. Như Thánh Phao-lô đã nói: “Tôi đã bị đóng đinh cùng Chúa trên thập tự giá” ( ). Trong hàm ý thiêng liêng đó, tôi mời Quý Ông Bà và Các anh chị em cùng tôi suy gẫm về sự hy sinh của Chúa qua 3 bài giảng trong Mùa Phục sinh nầy:

1.Chúa Tôi vào thành Giê-ru-sa-lem
2.Chúa Tôi trong vườn Ghết-sê-ma-nê
3.Chúa Tôi trên đồi Gô-gô-tha.

Hôm nay, chúng ta suy gẫm về Chủ đề cuối: “Chúa Tôi trên Đồi Gô-gô-tha” hay là một chủ đề mới mà khi soạn bài giảng, thì Chúa soi sáng cho tôi là “Từ Đồi Sọ đến Mộ Phần”.

Trong Đêm Kỷ Niệm Cứu Chúa Thương khó, chúng ta đã đề cập đến sự chết đau thương của Chúa Giê-su trên thập tự giá tại Đồi Gô-gô-tha, còn gọi là Đồi Sọ.

Hôm nay, Kỷ niệm về Sự Phục sinh vinh diệu của Chúa Giê-su sau 3 ngày nằm trong thạch mộ. Chúa đã sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Chúng ta cùng suy ngẫm một số chi tiết về sự kiện nầy, qua 3 phần chính sau đây:

I.CHÚA TÔI CHỊU CHẾT TRÊN THẬP-TỰ-GIÁ là SỰ KIỆN CÓ THẬT.

Một số trường phái Thần Học Tân Phái và TH.Hiện Đại cho rằng: Sự chết của Chúa Giê-su chỉ là một huyền thoại.

Như Thuyết Giải trừ Huyền thoại của Rudolf Bultmann, cho rằng Tân ước phần nhiều là huyền thoại. Ông nhấn mạnh rằng những khái niệm nầy phải được “giải trừ”, không có nghĩa là loại bỏ mà là phải được diễn giải lại (THCDG, QII. trang 32).

Tuy nhiên 4 sách Phúc Âm, còn được gọi là Tin lành Cộng quan cho chúng ta biết rỏ sự kiện nầy là thật. Với 4 trước giả cầm bút và miêu tả sự kiện theo góc nhìn khác nhau, nhưng đã bổ sung nhiều chi tiết hoàn hảo về một sự kiện có thật. Thật đến nổi không một trường phái đối lập nào có thể bác bỏ sự kiện nầy được hoặc chứng minh ngược lại rằng đó là một huyền thoại.

Ngay cả chính Chúa Giê-su đã nhiều lần tuyên bố trực tiếp và tự nhận rằng mình có thẩm quyền trên cả sự sống và sự chết.

Giăng 5:21 Chúa Giê-su tự nhận mình có quyền trên sự chết: “Vì Cha khiến kẻ chết sống lại và ban cho họ sự sống, thì Con cũng có quyền ban sự sống cho những ai Ngài vui lòng làm”. Và Ngài đã nói với Ma-thê và đoàn dân trong Lễ Tang La-xa-rơ : “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi” (Giăng 11:25).

Chân lý nầy được Cựu ước chứng minh:

Trong bài ca của Anne đã công nhận Đức Chúa Trời có quyền khiến cho chết hoặc sống (ISam 2:6). Và, trong Thi thiên 119, tác giả cũng hơn 10 lần công nhận Đức Giê-hô-va là Đấng ban sự sống và bảo tồn nó.

Giang Sinh (17)

II.CHÚA TÔI ĐƯỢC CHÔN TRONG MỘ ĐÁ là SỰ KIỆN CÓ THẬT.

Kinh thánh miêu tả việc chôn xác Chúa thật rỏ ràng.

Mathio 27:57-61 57 .Ðến chiều tối, có một người giàu, ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, chính là một môn đồ của Ðức Chúa Jêsus, 58 đến nơi Phi-lát mà xin xác Ðức Chúa Jêsus. Phi-lát bèn truyền cho. 59 Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm trắng, 60 và đưa để trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho mình trong hòn đá; đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi đi. 61 Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác ở đó, ngồi đối ngang huyệt.

Kinh Thánh cũng miêu tả sự kiện Ngôi Mộ Trống và khẳng định Chúa Giê-su thật sự đã sống lại với những chi tiết đầy đủ:

Giăng 20:1-7 “Ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc rạng đông, trời còn mờ mờ, Ma-ri Ma-đơ-len tới mộ, thấy hòn đá lấp cửa mộ đã dời đi.
Vậy, người chạy tìm Si-môn Phi-e-rơ và môn đồ khác, là người Ðức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu. Phi-e-rơ với môn đồ khác bèn bước ra, đi đến mồ. Cả hai đều chạy, nhưng môn đồ kia chạy mau hơn Phi-e-rơ, và đến mồ trước. Người cúi xuống, thấy vải bỏ dưới đất; nhưng không vào.
Si-môn Phi-e-rơ theo đến, vào trong mộ, thấy vải bỏ dưới đất, và cái khăn liệm trùm đầu Ðức Chúa Jêsus chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác.Bấy giờ, môn đồ kia đã đến mộ trước, cũng bước vào, thì thấy và tin. Vì chưng hai người chưa hiểu lời Kinh Thánh rằng Ðức Chúa Jêsus phải từ kẻ chết sống lại.

Mặc dù, Ngôi Mộ trống là một yếu tố công kích của phe đối lập cho phao tin đồn thất thiệt rằng Môn đệ Của Chúa ăn cắp xác Ngài (Mathiơ 28:11-15). Tuy nhiên, nếu thật là như vậy thì Phe đối lập trước sau thì cũng trưng ra bằng cớ khi họ truy tìm được xác Ngài, hoặc minh chứng về sự chết vĩnh viễn của Chúa Giê-su. Sự im lặng của họ nói lên tính chất chân thật sự kiện nầy.
Chúa Giê-su thật sự đã sống lại một cách quyền năng và lạ lùng, đến từng chi tiết như khăn vải liệm cũng nói lên tính cách chân thật của sự kiện.
Hơn nữa, chúng ta cũng rút ra một bài học về Bọn Lính Canh: Họ là những chứng nhân mục kích (thấy, biết rỏ) về Ngôi Mộ Trống. Lúc đầu họ rất sợ hải, nhưng khi nhận được tiền của Thầy Tế lễ thì họ trở nên thành phần chứng nhân giả dối.

2912178760_7c278682a6

III.CHÚA TÔI ĐÃ SỐNG LẠI NHƯ LỜI NGÀI PHÁN là SỰ KIỆN CÓ THẬT.

Kinh thánh cũng miêu tả Chúa Phục sinh hiện ra cho các môn đệ cách tỏ tường:
Ðoạn, hai môn đồ trở về nhà mình. Song Ma-ri đứng bên ngoài, gần mộ, mà khóc. Người vừa khóc, vừa cúi xuống dòm trong mộ, thấy hai vị thiên sứ mặc áo trắng, một vị ngồi đằng đầu, một vị ngồi đằng chân, chỗ xác Ðức Chúa Jêsus đã nằm.
Ðức Chúa Jêsus hỏi người rằng: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Ngươi tìm ai? Người ngỡ rằng đó là kẻ làm vườn, bèn nói rằng: Hỡi chúa, ví thật ngươi là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho ta biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy.
Ðức Chúa Trời phán rằng: Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xây lại, lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng: Ra-bu-ni (nghĩa là thầy)!
Nhân chứng chính của sự kiện nầy theo sách Phúc âm đề cập đến là Bà Ma-ri Ma-đơ-len. Quá khứ của bà Kinh thánh không nói rỏ, chỉ biết bà từng bị quỷ ám và được Chúa Giê-su chửa lành.
Một điều nữa, trong Hội thánh từ xưa đến nay những người được sai phái đi truyền giáo phần nhiều là nam giới, nhưng tại đây trong biến cố nầy, Chúa Phục sinh trước nhất đã hiện ra cho Những Phụ Nữ là Bà Ma-ri Ma-đơ-len, và theo Ma-thi-ơ thì có thêm một Ma-ri khác cũng có mặt lúc ấy:
Matthew 28:1 Sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần lễ, lúc tưng tưng sáng, có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác đến thăm mộ.
Chúa Giê-su đã hiện ra bằng xương bằng thịt cho hằng trăm người nhìn thấy Chúa sống lại (Công vụ 1:3)
Acts 1:3 3 Sau khi chịu đau đớn rồi, thì trước mặt các sứ đồ, Ngài lấy nhiều chứng cớ tỏ ra mình là sống, và hiện đến với các sứ đồ trong bốn mươi ngày, phán bảo những sự về nước Ðức Chúa Trời.

Sứ đồ Phao-lô đã làm chứng rằng:
1 Corinthians 15:6-8 6 Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. 7 Ðoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. 8 Rốt lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy.

Đặc biệt, Chúa Giê-su đã trao mệnh lệnh làm chứng nhân của Chúa cho Những Người Phụ Nữ trước nhất:
Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Ðức Chúa Trời ta và Ðức Chúa Trời các ngươi. Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đã thấy Chúa, và Ngài đã phán cùng mình những điều đó.

KẾT LUẬN:
Ma-thi-ơ 28:6-7a “Ngài không ở đây đâu; Ngài sống lại rồi, như lời Ngài đã phán. Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm; và hãy đi mau nói cho môn đồ Ngài hay rằng Ngài đã từ kẻ chết sống lại.”

Chân lý quan trọng của sự Phục sinh không phải là kiểm chứng lại những chi tiết của sự kiện nầy có thật hay không? Mà chính là suy gẫm sự huyền nhiệm của sự sống lại đầy quyền năng của Chúa. Đức tin của chúng ta phải vượt qua sự kiện Ngôi Mộ Trống hay thân thể phục sinh của Chúa Giê-su như thế nào? Bởi vì, Bọn Lính Canh và Thầy Tế Lễ cũng biết rỏ sự kiện nầy nhưng họ đâu có đức tin nơi Chúa!?

Các môn đệ vừa sợ, vừa sửng sốt và vừa tin cậy đã nhớ lại lời dạy của Chúa nên họp nhau lại tại Ga-li-lê, theo lời Chúa phán trước đây (Matthew 26:32 Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi. Tại đó, họ đã được gặp gở Chúa Phục sinh.

Kính thưa Hội Thánh,
Xuyên suốt chủ đề “Gô-gô-tha – Đường Chúa tôi qua”, chúng ta đã chiêm nghiệm một Cứu Chúa chịu thương khó và Oai quyền Phục sinh. Chân lý ấy là trọng tâm của Cơ-Đốc Giáo. Ngày nay, Chúa phục sinh trao cho chúng ta trọng trách là rao giảng Tin lành cho Đồng bào. Đại Mạng Lịnh được giao không phân biệt Nam Giới hay Nữ Giới. Thậm chí Nữ giới tuy âm thầm phục vụ như những người nữ thăm mộ Chúa, thì chính là người được gặp Chúa và nhận trách nhiệm làm Chứng Nhân cho Chúa Đầu tiên.
Gô-gô-tha Đường Chúa và Tôi cùng trãi qua, không dừng lại nơi Ngôi Mộ Trống hay Bờ biển gặp gỡ Chúa Phục sinh Galilê. Nhưng linh trình thiêng liêng ấy phải cứ tiếp tục cho đến cùng trái đất (Công vụ 1:8), với sức mạnh thiêng liêng của chúng ta là sự đồng hành với Chúa: “Và này, Ta thường ở cùng các con luôn cho đến tận thế” (Mathiơ 28:20). Amen.

Mục sư Nguyễn Văn Đại
Mùa Phục sinh 2013.

2380039509_fbefe85bec

Đăng bởi: nguoichanbay | 04/03/2013

SOS! SOS! DANGEROUS!

SOS! SOS! DANGEROUS!

Cac Ban than men,
Sang nay trong khi soan bai thi tui bi hacker Thu Tac tan cong. Toan bo dia chi e mail ban be, Hoi thanh va gia dinh bi mat het. Ngoai ra con co mot thu viet ve Mexico trip DE LOI DUNG XIN TIEN.
Xin canh bao cho Cac Ban do la GIA MAO. Neu Ban gap e mail de ten tui ma ko co ghi chuc vu thi dung mo mail, de tranh nguy hiem.

Muc su Nguyen Van Dai

Tran trong thong bao cung cac ban.

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/02/2013

Hồi Ký Truyền Giáo Việt Nam

ricefield-3
TRỞ VỀ

Lời Mở Đầu:

Tôi trở lại Hoa Kỳ sau chuyến đi truyền giáo tại Việt Nam cùng Cơ Quan “Phục Vụ Trong Sứ Mạng” (Serving In Mission – SIM). Tôi đã bịn rịn chia tay những người thân và Quê Hương tôi trong cái nắng gay gắt của những ngày cuối Tháng Mười. Saigon hai mùa mưa nắng. Cái nắng nóng của Miền Nhiệt Đới – nơi nung đúc trong tôi từ thơ ấu cái nhiệt tâm phục vụ, và đã bùng cháy trong tôi niềm nhiệt huyết tận hiến cuộc đời mình cho Đức Chúa Trời. Cảm ơn Cha Mẹ đã nung đúc nên con qua bao mùa mưa nắng. Bởi máu của Cha, thịt của Mẹ, đã nuôi lớn đời con giữa mưa nắng nghìn trùng trong cuộc đời này, để hình thành trong con một tâm chí tận hiến cuộc đời cho Chúa. Xin cảm ơn Quê Hương mang mưa nắng nghìn trùng rải xuống mãnh đời tôi.

Cám ơn Chúa cho con được làm một Người Việt Nam, cho dù ngày nay con chỉ là một Người Việt tha hương, một đứa con lang bạt nơi xứ lạ quê người. Để từ mưa nắng mù khơi, đã trỗi dậy trong con cái xao xuyến, bồi hồi khi đặt chân trở về nơi chôn nhao cắt rốn trong chuyến đi nầy; và đã lay động cơ hồ như chao đảo trong tâm hồn con nỗi niềm ray rứt của một thân phận khi đã cất bước xa rời Quê Cha Đất Tổ của mình. Cái nóng hừng hực của Saigon Cuối Tháng Mười mấy ngày trước đây, cơ hồ vẫn còn âm ĩ trong tôi; mặc dù tôi đang sống trong cái lạnh giá của những ngày vào thu của Vùng Miền Đông Hoa Kỳ. Thành phố Charlotte, nơi tôi sinh sống và phục vụ, bây giờ đã thay màu đổi lá. Những chiếc lá xanh tươi hôm nào, nay đã ngã vàng, chuyển qua màu cam, đỏ, nâu, rồi rơi rụng. Gió mùa thu lay lắc từng cơn, lướt trên thiên nhiên và trên tâm hồn người tha hương, làm lạnh thêm, rét thêm, giá buốt thêm trong lòng người viễn xứ.
Nhưng may thay cho tôi, cơn gió ấy chỉ làm lạnh lẽo bên ngồi cơ thể tôi, nhưng tình yêu Quê hương, tình cảm thiêng liêng dành cho nơi mà mình sinh ra và lớn lên qua hai mùa mưa nắng, đã thổi bùng nhiệt huyết đang hừng hực trong tâm hồn tôi. Cái nhiệt tâm ấy làm cho tôi ấm áp tận tâm can sau những ngày được trở về phục vụ Chúa tại Việt Nam. Còn gì quý báu cho bằng khi được trãi lòng mình trên trang giấy, để ghi lại những kỷ niệm trong hành trình truyền giáo đáng trân quý nầy. Bởi vì, những dấu chân trãi qua trong cuộc hành trình được phát sinh từ những tấm lòng của những con người yêu kính Chúa! Chúng tôi vâng phục Đức Chúa Trời và dấn thân trong sứ mạng Ngài trao ban. Chúng tôi chỉ là những con người đơn sơ, yếu đuối và thật đã cảm thấy mệt mõi qua những chặng đường dài. Chúng tôi là những con người bằng xương bằng thịt, đôi khi đã phải lo sợ khi đối diện với những bất ngờ, những nguy hiểm hòng ập đến trãi suốt cuộc hành trình. Nhưng chúng tôi ra đi trong sứ mạng và cùng hành động với những con người cùng có một tâm chí hầu việc Chúa, cùng một tấm lòng khát khao phục vụ Đồng Bào thân yêu. Chúng tôi trãi nghiệm những gian khổ nhưng ngập tràn ơn phước trong suốt cuộc hành trình, tôi thấm thía hơn câu Kinh Thánh từng là kim chỉ nam cho những nhà Truyền giáo: “Những bàn chân Người rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao!” (Rô-ma 10:15). Chúng tôi không cô đơn. Thật vậy, nhìn lại quảng đường đã qua, chúng tôi nhìn biết Chúa đã đồng hành. Chẳng những Ngài đã đồng hành mà hơn thế nữa, Ngài đã đi trước chúng tôi, Ngài vạch đường rẽ lối. Chúng tôi chỉ đi theo sự hướng dẫn của Chúa. Chúng tôi bươn theo dấu chân của Ngài (I Phi-e-rơ 2:21); và chúng ta rất dễ nhận biết dấu chân của Chúa vì vết chân yêu thương ấy hằng in dấu đinh và vết máu của sự hy sinh. Những mệt nhọc, nguy hiểm trong chuyến đi của chúng tôi nào có đáng gì khi sánh với bước đường hy sinh của Chúa. Trong sự dấn thân tưởng chừng như phải hy sinh, ban cho và chia sẻ thật nhiều, nhưng chính tôi lại nhận được trở lại cho mình nhiều hơn những gì từng suy nghĩ. Thật như Lời Chúa phán: “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.” (Ê-sai 55:8-9).
Khi về lại Hoa Kỳ, tôi đã làm chứng cho Hội Thánh nơi tôi phục vụ và cho những Người thân quen trong Cộng Đồng Người Việt nơi tôi sinh sống. Tuy nhiên niềm vui trong hành trình vừa qua và những suy tư về khải tượng cho Việt Nam vẫn cứ hiện lên trong tâm thức tôi, hầu như không ngơi nghỉ. Tôi không thể ngồi yên. Tôi không thể nín lặng. Vì thế, tôi buộc phải để dòng cảm xúc nóng hổi đang trào dâng như phún xuất thạch từ hỏa diệm sơn trong tâm hồn mình, tuôn trào láng lai trên trang giấy, trên những trang hồi ký đơn sơ vụng dại này.
Nguyền xin lửa thánh từ Bụi Gai Cháy Không Hề Tàn năm xưa, nơi Chúa đã trao sứ mạng của Ngài cho Mơi-se, Người Tớ Thánh của Ngài, xin Lửa Thánh Linh ấy cứ mãi bùng cháy trong con lòng nhiệt huyết tận hiến và phục vụ Dân Tộc Con mãi mãi, không thôi! (Xuất 3:2-3; 10-12). Xin cho con học đòi tâm tình của Tiên tri Giê-rê-mi, để dạn dĩ tuyên bố rằng: “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa” (Giê-rê-mi 20:9). Từ cỏi vô minh, tôi được khai sáng bởi Lời Chúa. Bất chợt tôi nghiệm ra rằng: Nắng đổ lửa của Saigon đã làm sôi sụt tâm hồn tôi tình yêu cháy bỏng đối với Dân Tộc mình; nhưng chỉ có Lửa Thánh Linh mới nung nấu tâm linh tôi một bầu nhiệt quyết để dấn thân và phục vụ Quê Hương Việt Nam bằng một tấm lòng kính sợ Chúa và bằng tình yêu thương linh hồn Đồng Bào Việt Nam một cách chân thật tự đáy lòng mình.
Tôi quỳ xuống, ràn rụa nước mắt, dốc đổ lòng mình cầu nguyện cho Dân Tộc tôi – Việt Nam thương yêu.
Tôi đứng lên. Và bổng dưng bật ra tiếng hát tự đáy lòng mình lời một bài hát xưa lơ xưa lắt:
“Lạy Chúa ơi! Đây đời con! Đây hồn con! Đây lòng con!”

Ngộ thật! Đây là một bài hát do Mục sư Đặng Văn Trung – Nhà Truyền Giáo cho Sắc tộc Bahna tại tỉnh Pleiku, Miền Trung Việt Nam – sáng tác. Bài ca kỷ niệm này chúng tôi đã hát cùng với nhau tại Trung Tâm Truyền Giáo An Khê – Phú Phong vào mùa thu năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai (1972). Bây giờ, gần bốn mươi năm sau (2012), bất chợt tôi hát lại bài hát này, không phải để nhen nhúm một kỷ niệm xa xưa, nhưng để sắc son dặn lòng mình một lời tâm niệm: “Có con đây, xin hãy sai con”(Ê-sai 6:8).

“Lạy Chúa ơi! Đây đời con! Đây hồn con! Đây lòng con!”

Charlotte vào thu, tháng mười, hai ngàn mười hai.
Phan Du Mục.

canh-vn-21

Chương I. Trở Về:

Sau gần một tuần lễ họp mặt đầy ơn phước tại Thái Lan với các anh chị em cùng tâm chí phục vụ trong Cánh Đồng Truyền giáo tại Việt nam, chiều nay, chúng tôi lên đường về Việt nam. Chuyến bay của hảng Hàng Không Thổ Nhĩ Kỳ khởi hành lúc 3:00pm ngày 13/10/2012 từ sân bay Bangkok, và sẽ đến sân bay Tân Sơn Nhất, Saigon vào lúc 5:00pm cùng ngày.
Nhóm Truyền Giáo của chúng tôi gồm có bốn người: Một người Mỹ là Tiến sĩ Lâm Hân (Dr.Lynn Haines, gọi tắc là ông Linh), một người Hoa đến từ Singapore là Bác sĩ Anh-Rê Năm (Dr.Andrew NG, gọi tắc là Bác Năm, vì cái họ của ông Andrew là “NG” phát âm giống như Số Năm [ựng] trong Hoa ngữ), cùng hai người Việt là Mục sư Nguyễn Đại Phúc (là một Mục sư trẻ đến từ Hội Thánh Trưởng Lão Hoa Kỳ, hiện đang làm Chaplain – Tuyên Úy Bệnh Viện tại Rock Hill, North Carolina), và tôi – là Mục sư Quản nhiệm Hội Thánh Liên Hiệp Người Việt tại Thành phố Charlotte, North Carolina – nơi có trụ sở chính của Cơ Quan Truyền Giáo SIM. Chúng tôi cùng đến Việt nam trong tinh thần phục vụ Chúa của Cơ quan “Phục vụ trong Sứ Mạng” (SIM – Serving In Mission).

SIM là cơ quan truyền giáo đã được thành lập hơn 120 năm. SIM phát triễn song hành cùng Cơ Quan Truyền Giáo CMA (The Christian and Missionary Alliance -Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp). Được biết, hai vị Lãnh Đạo của hai Cơ Quan: CMA là Tiến sĩ A.B.Simpson và SIM là Tiến sĩ Roland … vốn là hai bạn học tại một Chủng Viện tại Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp, mỗi vị ra đi mỗi hướng. Tiến sĩ A.B.Simpson về Châu Á và CMA đã chính thức mang Tin Lành vào Việt-nam năm 1911, còn Tiến sĩ Roland …. thì hướng đến Châu Phi.
Sau hàng trăm năm, SIM chẳng những góp phần truyền giáo, gây dựng và phát triễn Hội Thánh tại Vùng Châu Phi xa xôi, ngày nay Cơ Quan Truyền Giáo SIM đã trở nên một tổ chức Nhiệm vụ Quốc tế, đã thi hành Đại Mạng Lịnh của Chúa “Môn Đệ Hóa cho Muôn Dân” (Ma-thi-ơ 28:18-20), SIM đã từng bước phát triễn và đã gửi ra hơn 1600 giáo sĩ và góp phần hoạt động phục vụ thiết thực khắp nơi trên thế giới. SIM hoạt động trong nhiều lãnh vực, nghề nghiệp khác nhau trong xã hội, như những công tác giáo dục, Y tế Cộng Đồng và Mục Vụ Truyền Giáo Thể Thao Cơ Đốc. SIM đã hoạt động trong hơn 60 quốc gia, đặc biệt tại Châu Phi, Châu Á, Nam Mỹ và rải rác trong một số quốc gia trên tòan cầu, kể cả những quốc gia đang bị áp bức trong vấn đề tôn giáo.

Nhưng đặc biệt, hiện nay trong bối cảnh ngoại giao thân thiện của Chính Phủ Việt Nam mở rộng sự bang giao cùng thế giới, nhất là với Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Hai quốc gia có thể nói là cựu thù, nay đã từng bước đến gần nhau ngồi lại hòa đàm, hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa đau buồn quá khứ và hướng đến một tương lai hòa bình, thịnh vượng. Trong bối cảnh ấy, đây là lần đầu tiên SIM chính thức đặt chân vào Việt Nam (từ ngày 13 đến 26/10/2012).

Mục tiêu của chúng tôi trong chuyến đi này chủ yếu là nghiên cứu tình hình, tìm hiểu tiềm năng và nhu cầu thực tế của Hội Thánh tại Việt Nam; đồng thời, chúng tôi tìm hướng hợp tác, xây dựng và phát triễn công cuộc truyền giáo qua ba lãnh vực Giáo Dục Đào Tạo, Y tế Cộng Đồng và Truyền Giáo Thể Thao, theo như tôn chỉ truyền giáo của SIM đã vạch ra. Do đó, khi tìm hướng hoạt động trong tương lai, đương nhiên là ưu tiên cho Hội Thánh, nhưng chúng tôi cũng sẽ vươn tầm đến những đơn vị hay tổ chức phù hợp với chủ trương của SIM, cho dù đó là tổ chức hợp pháp của tư nhân hay tổ chức xã hội của Chính phủ. Đây là một sứ mạng trọng đại. Riêng tôi suy nghĩ đây cũng chính là một cơ hội quý báu cho Cánh Đồng Thiêng Truyền giáo tại Việt Nam. Tôi tin cậy ơn thần hựu của Chúa, sự quan phòng của Chúa trên Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam. Tôi tin tưởng tiềm năng của Cơ Quan SIM. Tôi cũng tin quyết rằng, trong sự tể trị của Chúa, sau 35 năm phục vụ Chúa tại quê nhà, Chúa đưa tôi sang Hoa Kỳ không phải là vô cớ. Tơi nhận biết ý chỉ của Chúa trên chức vụ mình khi phải rời Việt nam sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong quá khứ, đôi lần tôi vẫn ưu tư, tự vấn rằng: Tại sao Chúa lại đặt để con trong một hoàn cảnh éo le như vậy!? Rời một Hội Thánh lớn tại Việt Nam để đến một Hội Thánh nhỏ bé như vậy!? Cám ơn Chúa đã ban cho tôi nghị lực để phục vụ Chúa cách trung tín trong mọi hòan cảnh và chờ đợi câu trã lời của Ngài. Chúa không chậm trể để trã lời câu hỏi ấy. Câu trã lời được bày tỏ rõ ràng cho tôi qua sứ mạng truyền giáo mà tôi đang tâm sự cùng bạn hôm nay. Cám ơn Chúa, Ngài xử dụng tôi không chỉ phục vụ trong một Hội Thánh nhỏ tại đây mà thôi, nhưng nhờ Hội thánh nhỏ bé này mà tôi mới có thể nhận lảnh một nhiệm vụ lớn lao cho công tác truyền giáo cho Dân tộc tôi. Và điều đó đã được Chúa hành động bắt đầu từ chuyến đi này. Vì lẽ đó, xin cho tôi được viết lên những trăn trở, những ưu tư trong lòng tôi – một người tôi tớ hèn mọn của Chúa trong thời gian chờ đợi sự trở về thăm lại Quê Hương.

bien-chieu1

Trở về trong Tâm thức.

Mấy độ xuân qua , mấy lần dừng bước,
Mấy hành trình diệu vợi được dừng chân ?
Về quê cha, nghĩ đến được mấy lần ?
Trong tâm thức, dường như là nhiều lắm…!

Trong ký ức tuổi thơ, tôi là một đứa trẻ thuộc lớp nghèo thành phố. Mười một tuổi tôi phải xa cha mẹ già. Tôi rời Lái thiêu – quê ngoại tôi để xuống Sài-gòn đi học. Tôi giúp việc nhà cho một người thân của chị dâu tôi, để có tiền đi học và cơm ăn. Trong hòan cảnh ấy, mỗi lần được trở về Quê Ngoại là Lái thiêu thăm ba má tôi là một điều gì đó quá khó, quá tầm tay của một đứa bé nghèo khổ như tôi. Cho nên, cái cảm xúc rạo rực, cái bồi hồi của ngày trở về quê ngoại năm xưa vẫn hằn sâu trong kỷ niệm tuổi thơ của mình.

Người Việt Tha Hương nào cũng có nỗi niềm khao khát được trở về quê hương. Nhạc sĩ Phạm Duy là một điển hình trong nhóm Văn nghệ Hải ngoại. Trong Tuyển tập nhạc mang chủ đề “30 năm, Về thôi”, Nhạc sĩ Phạm Duy trong lời giới thiệu ca khúc “Trở về mái nhà xưa” đã tâm sự:
“Kể từ ngày xuất ngoại xấp sỉ 20 năm rồi. Tôi xa Quê hương, xa Huế, rất nhiều khi tôi có ý nghĩ trở về thăm quê cũ. Trở về Huế, Sài-gòn và Hà Nội, nhưng tôi cứ bâng khuâng, ngại ngùng, lưỡng lự. . . Về thôi! Làm gì có trăm năm mà đợi, làm gì có kiếp sau mà chờ! . . .”

Khi rời khỏi Quê Hương, tôi đã suy nghĩ đến ngày trở về trong một tương lai gần, nhưng chắc chắn thời gian không phải là trăm năm để đợi chờ, cũng không phải hai mươi năm cứ bâng khuâng, ngại ngùng, lưỡng lự . . . Tôi nghĩ mình sẽ trở về. Tuy nhiên, tương lai là vô định.

Nỗi lòng của những con người ly hương khi nghĩ về cố hương thì không bút mực nào tả xiết. Ngày xưa, khi Dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày qua Ba-by-lôn, họ nhớ về Si-ôn và khóc. Si-ôn là núi thánh, là thủ đô của quê hương họ, là nơi có đền thờ Đức Chúa Trời. Si-ôn là biểu tượng của Tuyển Dân Ngài. Trên đấy Dân Ngoại họ nhớ Si-ôn và khóc.

Thi thiên 137:1-4 chép rắng:
“Chúng tôi đang ngồi trên mé sông Ba-by-lôn, Bèn nhớ lại Si-ôn, và khóc. 2 Chúng tôi treo đàn cầm chúng tôi trên cây dương liễu của sông ấy. 3 Vì ở đó những kẻ bắt chúng tôi làm phu tù, Có biểu chúng tôi hát xướng; Kẻ cướp giựt chúng tôi có đòi chúng tôi hát mừng, mà rằng: Hãy hát cho chúng ta một bài ca của Si-ôn. 4 Trên đất ngoại bang, Chúng tôi làm sao hát được bài ca của Ðức Giê-hô-va?”
Trong thân phận nô-lệ trên đất ngoại bang, họ bị đòi hỏi phục vụ bằng lời ca, tiếng hát của Dân Tộc mình. Nhưng Dân Y-sơ-ra-ên làm sao hát được trong thân phận nô-lệ xứ người. Tiếng hát bặt tăm và chiếc đàn cầm của dân tộc đã treo trên cành dương liễu, bên cạnh giòng sông ly hương. . .

Còn tôi thì sao? Cám ơn Chúa, tôi được đến định cư ở một xứ sở tự do, tôi không phải mang thân phận nô-lệ như Người Y-sơ-ra-ên tại Ba-by-lôn. Tôi đang sống trong một Quốc Gia mà Quyền Con người được đề cao hàng đầu trong các sắc luật. Con người được sống trong tự do. Con người được tự do phát biểu, tự do viết lách, sáng tác theo suy nghĩ của mình. Cho nên, tôi và các con có hiệp lại làm một tờ báo, mang tên là Tạp Chí Cội Nguồn – với khẩu hiệu là Tìm về bản sắc tâm linh Người Việt. Chỉ Cái tên thôi cũng gieo trong lòng người đọc một khao khát trở về với cội nguồn Dân Tộc, cho dù chỉ là trên những dòng tư tưởng mà thôi.
Và trong cuộc sống tự do đó, tôi xử dụng ân tứ Chúa cho để viết lách cho một vài tờ báo địa phương của Cộng Đồng Người Việt. Chuyên mục mà tôi thường viết là Một Góc Đời Thường và Tiếng Mẹ Đẻ – chuyên mục bảo tồn văn hóa Việt. Tôi nghĩ rằng đây cũng là một phương cách truyền giảng qua văn phẫm, tôi viết lách với mục đích để Phúc Âm hội nhập văn hóa trong đời sống Người Việt. Trong phương diện viết lách này, mấy năm trước đây, tôi có suy nghĩ đến ngày trở về quê hương và đã viết một số bài, trong đó có một tùy bút và sáng tác một bài thơ. Giờ đây, khi ngồi viết hồi ký, tôi chợt nhớ đến hai bài này. Tôi tìm lại trong những tác phẫm đã viết, rồi mang ra đọc lại. Tôi đọc, để được nhìn lại chính mình.

Bài thơ: Cánh Chim Lang Bạt.

Như cánh chim lạc đàn
Vươn mình tìm về quê cha đất tổ
Giữa bộn bề, hối hả nhịp thời gian
Mang nỗi niềm trìu trĩu thuỡ hồng hoang.

Tôi đã về quê cha thật sao ?
Bướm là người ?
Hay người là bướm bay vuốt ở trên cao
Hồn rạo rực giữa bao la gió núi
Lãng đãng, phiêu bồng trong vòm trời ký ức
Hoà vào hồn thiêng sông nước hôm nay
Mấy độ xuân qua , mấy lần dừng bước,
Mấy hành trình diệu vợi được dừng chân ?
Về quê cha, nghĩ đến được mấy lần ?
Trong tâm thức, dường như là nhiều lắm…!

Sống ly hương giòng đời nào êm ắng
Chợt hồi hương, qua câu hát bên đường
“Mưa Cali không buồn bằng mưa Sàigòn…”*
Lời dung dị, sao rừng thương, biển nhớ!

Trên đất khách, hồn tìm về nguyên thuỷ
Vần thơ xưa xao xuyến tận tâm hồn

“Anh thương binh về thăm nguyên quán
Một bàn tay vĩnh viễn gởi sa trường
Anh trở lại với bàn tay còn lại
Vẫy vẫy chào non nước với quê hương…

Quê hương anh mây giăng đèo ải
Chiều ấu thơ êm ả câu hò
Nước mấy nguồn , sông hẹn về cửa Ðại
Ngũ Hành Sơn năm cụm núi xanh lơ…” **

Tôi đã về quê cha thật sao ?
Mơ thành hiện thực, phải không nào ?
Rưng rưng tưởng niệm người đã khuất
Giao ca thế hệ, lệ tuôn trào.

Tôi đã về quê cha thật đây
Cánh chim lang bạt đã sum vầy
Trùng trùng điệp điệp niềm hoài vọng
Ðan kết vào hồn, tổ ấm đây.

(*) Trích Nhạc phẩm Mưa Ca-li Mưa Sài-gịn do Ca sĩ Giao Linh hát.
(**) Trích Bài Thơ Năm Cụm Núi Quê Hương của Thi sĩ Tường Linh.

canh-vn-261

Tùy Bút:

GỐC MAI GIÀ

Tôi nôn nao trong lòng sau ba mươi năm xa xứ, nay trở về quê xưa với hành trang là lòng hoài hương và tình thương đối với đứa cháu kêu tôi bằng cậu. Nhân dịp Tết Nguyên đán, vợ chồng nó mời tôi về quê “ăn tân gia” vì mới cất một căn nhà khá đẹp. Căn nhà ấy do tôi giúp đở cháu tiền xây cất với một điều kiện nhỏ nhoi, ấy là nhớ để lại gốc mai già trước sân.
Ngồi trên máy bay sang trọng, tôi thả hồn về vùng trời ký ức… tuổi thơ hoa mộng với biết bao kỷ niệm. Tết năm nào cũng vậy, ba dạy tôi lặt lá mai để hoa kịp nở mùng một tết. Ðón tết thật vui, nhà có hai chị em, tôi phụ ba cắt nhánh mai đem “chưng” ở tủ thờ, chị thì giúp mẹ nấu nướng đón xuân. Ðêm giao thừa mai nở rộ, chúng tôi ra sân đứng bên gốc mai đốt pháo thật là vui. Ba tôi dặn nhớ chăm sóc gốc mai này để mỗi năm đón tết.
Thời gian đã gỏ nhịp xuân, ha,ï thu, đông, như lướt trên phím đàn đen trắng của đời người. Tôi vào quân ngũ nên luôn vắng nhà. Chị tôi đi lấy chồng làng bên. Dầu vậy, cứ tết đến là chúng tôi cố gắng về vui xuân bên cha mẹ, vui bên gốc mai cũ ngày nào.
1975. Tôi ly hương. Cuộc viễn du trãi qua bao mùa xuân lang bạt xứ người, tôi cố gắng vươn lên giữa muôn ngàn thử thách, trãi qua những mùa xuân xa xứ. Khi cha mẹ mất, chị tôi dọn về ở để giữ đất, giữ nhà. Chị tôi cố giữ lại gốc mai già sần sùi và xem như một kỷ vật của cha me ïđể lại cho chúng tôi
Rồi chị tôi cũng qua đời. Mảnh đất giao lại cho cháu tôi bảo quản…
Tiếng loa thông báo từ phi hành đoàn đưa tôi về với thực tại. Tôi thật đã về lại quê hương sau bao năm xa cách! Cháu tôi đón từ sân bay và đưa về thẳng về làng. Làng quê nay thay đổi quá nhiều! Biết bao căn nhà mới được cất lên, và nhà cháu tôi cũng vậy.
Ba mươi tết , cũng là ngày cháu tôi làm lễ mừng Tân gia, tôi sung sướng khi nhìn thấy hạnh phúc của gia đình cháu tôi vượt qua cảnh nghèo khổ. Tôi xúc động vì nghĩ rằng mình đã làm một điều gì đó thật tốt, không phải chỉ cho cháu, mà cơ hồ như một chút lễ vật từ tấm lòng đứa con ly hương kính dâng lên ba mẹ tôi trên mảnh đất này. Nước mắt từ lâu đã khô trong tôi, bây giờ tuôn chảy, tôi không cầm lại được. Tôi bước ra trước thềm nhà và cứ khóc, khóc như đứa trẻ ngày nào bị cha rầy, mẹ mắng. Trong tro tàn kỷ niệm, tôi chợt nhớ đến cây mai ngày nào bên cha mẹ đón xuân . . . Ờ! chính tại nơi này! nơi này đây là cây mai kỷ niệm được trồng. Tôi hoảng hốt phát hiện sao cây mai bây giờ không còn nữa? Nó đã chết, hay là ai đã chặt bỏ đi đâu? Có lẽ cháu tôi vì cất căn nhà lớn nên đã đốn cây mai rồi? Tôi ray rức trong lòng khi nghĩ đến lời dặn dò của người xưa để lại, một nỗi niềm xót xa khôn tả quặn thắt trong lòng tôi. Dường như tơi đang bị mất mát một bảo vật hay một gia tài to tác lắm!
Có lẽ không thấy tôi vào nên cháu tôi ra tìm tơi. Nhân tiện không có ai, tôi liền trách nó: “Sao con không nhớ lời cậu dặn. Cất nhà chi cho lớn mà đốn mất cây mai?” Tôi nói với cháu rất nhẹ, nhưng dường như tự lịng tơi là một lời kết án đối với kẻ xa nguồn, quên cội. Nó đã quên công đức tổ tiên. Nó đã xóa đi kỷ vật của gia đình… Nhưng cháu tôi nỡ một nụ cười, níu tay tôi và dẫn lên lầu. Giữa sân thượng rực nắng mùa xuân, cội mai già được đặt trong một cái chậu lớn bằng sành tráng men tuyệt đẹp. Hoa mai đang nơ’ rực rỡ, vàng óng, nổi bật giữa đám bông thược dược, cúc đại đóa và hồng tiểu muội. Hai cậu cháu đến bên cây mai, trong ân cần cháu nói với tôi : “Cậu ơi! ngày nay người ta chơi kiểng quý phải để trong chậu mới đẹp!” Tôi yên lặng không nói gì, lòng thì cảm động trước tấm lòng trân trọng của cháu tơi đối với gốc mai già. Tôi cứ để lòng mình thinh lặng. Nhìn gốc mai già dù vô ngôn mà sao nói thật nhiều tiếng nói của ký ức, của thâm tình, của kỷ niệm thân thương ngày nào. Gió nhẹ nhàng đưa bàn tay vô hình, đầy trìu mến vuốt ve ngàn hoa xuân. Tôi nhìn từng cánh mai lay động mà nghe trong ấy lời thì thầm của ngày xưa.(Còn tiếp)

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/02/2013

BÀI GIẢNG LỄ VƯỢT QUA

C027

LỄ VƯỢT QUA

Kinh Thánh nền tảng: Xuất Ê-díp-tô ký 12:1-28

Câu Nền tảng: I Cô-rinh-tô 5:6-8

Nhân Ngày Đầu Năm, Tết Âm Lịch, chúng ta cùng nhắc lại câu chuyện về Ngày Đầu Tiên thuộc Năm Đầu Tiên của Lịch Sử Dân Do-thái. Đó là Lễ Vượt Qua được thực hiện lần đầu tiên tại Ai-cập. Biến cố này được kể như sự kiện đánh dấu sự khai sinh lịch sử Dân Tộc Do Thái, Tuyển Dân của Đức Chúa Trời. Bài học Tuyển Dân ngày xưa luôn luôn là hình bóng về Hội Thánh ngày nay trên con đường đức tin. Đầu Xuân, mời Bạn Đọc cùng tôi suy ngẫm sau đây.

I.NGUỒN GỐC LỄ VƯỢT QUA.

A)Bối cảnh: Lúc ấy Dân Do-thái đang sống trong thân phận nô-lệ tại Ai-cập (430 năm)
Đức Chúa Trời chuẩn bị từ một Gia đình 70 người thành một Dân Tộc (Sáng 46:27)

B)Thực hiện: bởi Đức Chúa Trời để giải thoát Dân Do-Thái khỏi ách nô lệ.
Thời điểm xảy ra: Trước tai vạ thứ 10 – những con trai đầu lòng của Người Ai-cập bị giết, buộc Pha-ra-ôn phải đồng ý cho người Do-thái ra đi (Xuất 12:2).
imagesCA2OFA6N
II.NGHI THỨC GIỮ LỄ VƯỢT QUA.

A)Từng Gia đình: Bắt Con Chiên đầu lòng làm lễ, tùy theo sức ăn của gia đình. Nếu nhiều có thể mời người lân cận cùng chia.

B)Thời gian: Lúc mặt trời lặn, thì giết con chiên không tì vít, lấy huyết bôi lên hai cây cột và mài cửa nhà của chính gia đình mình. Trong đêm ấy, Thiên sứ đi hành hại Người Ai-cập sẽ thấy dấu hiệu này và sẽ vượt qua, không hành hại con đầu lòng trong gia đình đó.
*Việc bôi huyết giống như phong tục Việt nam dán giấy liễng đỏ trước cửa nhà đón Tết.

C)Đêm đó, cả gia đình ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng (12:8). Nếu ăn dư thì thì thiêu tất cả, không được để đến sáng mai.

D)Trang sức lễ: Khi ăn phải mặc áo dài, thắt lưng, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn một cách hối hả (ăn nhanh) trong tư thế của người sẳn sàng lên đường.

III.Ý NGHĨA LỄ VƯỢT QUA.

A)Chiên Con – Sinh tế của Lễ Vượt qua là hình bóng về Cứu Chúa Giê-su Christ (I Cô 5:6-7).
Thánh Kinh cho biết: Chúa Giê-su được mệnh danh là Chiên Con của Đức Chúa Trời. Ngài đến thế gian chịu chết, đổ máu ra cứu chuộc tội lỗi của toàn thể nhân loại.
*Tại sao Chúa phải chết? – Kinh Thánh khẳng định: “Không có sự đổ huyết thì không có sự tha thứ” (Hê-bơ-rơ 9:22). Sự chết của Chúa Giê-su làm phu phỉ sự công bình của Đức Chúa Trời. Điều ấy có nghĩa là: Theo sự thánh khiết của Chúa, con người phạm tội phải chịu chết và bị hình phạt trong hỏa ngục. Nhưng theo sự yêu thương thì Đức Chúa Trời ban Đức Chúa Giê-su đến thế gian chịu chết đền tội cho chúng ta (Giăng 3:16). Chúng ta chỉ ăn năn tội lỗi, tin nhận Chúa Giê-su và công nhận giá trị hy sinh của Chúa, Ngài Ngài đổ ra vì ta, thì bạn sẽ được cứu, được tha tội và trở nên con của Đức Chúa Trời (theo như Hứa Ngôn của Chúa được chép trong Giăng 1:12 “Nhöng heã ai ñaõ nhaän Ngaøi, thì Ngaøi ban cho quyeàn pheùp trôû neân con caùi Ñöùc Chuùa Trôøi, laø ban cho nhöõng keû tin danh Ngaøi”.

B)Bánh không men: Để chuẩn bị, Người Do-thái phải dọn dẹp sạch Men trong nhà trước 7 ngày. Và họ phải làm bánh không có men, để ăn trong Lễ Vượt qua.
Men có ý nghĩa hình bóng là tội lỗi, vì các công dụng của nó tác động trong bột. Men tác động bột, dậy bột (phình lên) và làm chua đống bột. Với tính chất này, tội lỗi có ý nghĩa làm phân rẻ và làm băng hoại Hội Thánh hoặc đời sống tin kính của Người Tín hữu. Chính vì thế mà Sứ đồ Phao-lô đã dạy các tín hữu trong Hội Thánh Cô-rinh-tô rằng: “Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ (Chúa Cứu Thế) là con sinh Lễ vượt qua của chúng ta, đã bị giết rồi. Vậy thì chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật.” (I Cô 5:7-8)
*Ngày nay, Men tội lỗi dấy lên rất nhiều, như giải trí vui chơi sự cám dỗ trong dịp Tết: như vấn đề Cờ bạc, rượu chè, nhậu nhẹt vui chơi theo thế gian. . . Chúng ta cần nên tránh và giáo dục con em phải tránh.
C)Rau Đắng (Xuất 1:14):Rau đắng nhắc nhở họ về thân phận nô-lệ đầy cay đắng, đau đớn tại Ai-cập trong những ngày qua. Rau đắng ăn chung với thịt Chiên và bánh không men, rất ngon. Hình bóng cho khởi đầu đồng hành với Chúa (Ngài là Chiên Con và là Bánh Hằng Sống). Đồng chịu thương khó với Chúa trên con đường đức tin. Như Lời Chúa chép rằng: “Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: Kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài.” (Rô-ma 8:17).

BIBLE (6)
Người Do thái hay kể một câu chuyện đã xảy ra trong đêm Lễ Vượt qua đầu tiên ấy:
Trong một gia đình, sau khi ăn tối xong, những đứa trẻ con được đưa lên giường ngủ. Đứa con trai đầu lòng (con trưởng) không ngủ được, nó mới hỏi cha: “Cha ơi! Huyết chiên con có bôi lên cây cột nhà mình chưa?”. Nó hỏi vậy, vì nghe cha nó nói điều đó là cần thiết lắm: “Nếu nhà nào có bôi huyết chiên con lên cửa thì khuya đêm nay thiên sứ của Chúa sẽ vượt qua; còn nếu không có huyết thì con trưởng của gia đình đó sẽ bị giết.” Người cha nghe con nói liền bước ra xem lại và nhớ lại mình đã lấy huyết ra chậu để bôi cây cột, nhưng vì bận rộn làm thịt con chiên, nên quên chưa làm điều quan trọng này.
Bạn thân mến, bạn có tin chắc mình vượt thoát khỏi sự hình phạt ngày sau cùng không? Đời sống của bạn hoặc người thân, con cháu của bạn có được sự ấn chứng của huyết Chúa Giêsu không? Xin hãy giải quyết nan đề của bạn ngay hôm nay, bằng cách ăn năn tội lỗi và tin nhận công giá cứu chuộc bởi sự chết của Chúa Cứu Thế Giê-su. Như lời Thánh kinh có chép: “Ai tin Con (là tin Chúa Cứu Thế) thì sẽ được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy” (Giăng 3:36). Mong bạn vượt qua sự chết và sự hình phạt tội lỗi trong hỏa ngục, để nhận lấy sự sống mới từ Chúa Cứu Thế Giê-su ngay hôm nay. Chân thành mong bạn.

Mục sư Nguyễn Văn Đại
Xuân Quý Tỵ – 02/2013
images (5)

Đăng bởi: nguoichanbay | 09/02/2013

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Mua Xuan (3)

Trước thềm Năm Mới 2013 và
Xuân Quý Tỵ, theo phong tục cỗ truyền của Dân Tộc
Người Chăn Bầy trân trọng kính chúc Quý Bạn Đọc
nhận được nhiều ơn phước từ sự ban cho của Thiên Chúa.

Chúng ta hòa lòng cùng Sứ Đồ Phao-lô cảm tạ ơn thần hựu và quan phòng của Chúa “đã xuống phước” cho chúng ta trong năm qua. Luôn luôn nhắc nhở cùng nhau tận hiến phục vụ Chúa và Đồng Bào Việt Nam thân yêu, không phân biệt Người Kinh hay Người Sắc Tộc trong Cộng Đồng Việt Nam của chúng ta.

“Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Giê-su Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời.” (Ê-phê-sô 1:3).

Thân Kính,
Mục sư Nguyễn Văn Đại

images (4)

Đăng bởi: nguoichanbay | 23/01/2013

Bài giảng Lễ Báp-tem ĐỒNG SỐNG VỚI CHÚA

Bài giảng Lễ Báp-tem

BG BT

ĐỒNG SỐNG VỚI CHÚA

Kinh Thánh: Rô-ma 6:1-11

Câu gốc: Rô-ma 6:11; 14:8

“Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi

và như sống cho Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jêsus Christ.”;

“Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa”.

Lời Tựa:

Bác sĩ Tống Thượng Tiết, sứ giả phấn hưng của Trung Hoa năm 1936, đã mang lửa phấn hưng đến Việt nam năm 1938, đã có một kinh nghiệm thật sâu nhiệm trong đời sống thuộc linh. Ấy là, sau khi tốt nghiệp học vị Tiến sĩ Hóa học (Tiếng Việt ngày xưa dùng từ Bác sĩ, gọi chung những “Doctor”), trước khi về quê nhà, ông nằm mơ, thấy một người chết, nằm trong chiếc hòm, áo mũ chỉnh tề. Hiếu kỳ, ông bước lại xem, thì thấy người chết là chính mình! Ông hoảng hốt la lên: “Tống Thượng Tiết đã chết! Tống thượng Tiết đã chết”. Rồi ông choàng tỉnh dậy trong sự sợ hãi, mồ hôi đầm đìạ Sau nầy ông kể rằng điều đó mang một ý nghĩa là “người cũ tri thức” của ông đã chết, để ông sống một đời sống mới trong Chúa Giê-sụ Chúa đã dùng một người đầy ơn vì cuộc đời người ấy có nhận thức rằng mình chết đời sống cũ tội lỗi và sống một đời sống mới cho Chúạ

Hôm nay, một số Anh Chị Em cũng có quyết định giống như thế trong đức tin qua Thánh Lễ báp-tem.

Chúng ta cùng suy nghĩ thêm vấn đề nầỵ Làm thế nào để sống cho Chúa ?

I. NHẬN BIẾT THỰC TRẠNG THUỘC LINH
a) Chúng ta đáng chết trong tội lỗi:

Rôm 5:8 “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương chúng ta khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Cứu Thế vì chúng ta mà chịu chết”.

b)Chúng ta đang sống mà như chết:
1)Không thể điều khiễn đời sống mình, vì tội lỗi chế ngự:
Sứ đồ Phao-lô nói:

Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;  19 vì tôi không làm điều lành mình muốn, nhưng làm điều dữ mình không muốn.  20 Ví bằng tôi làm điều mình không muốn, ấy chẳng phải là tôi làm điều đó nữa, nhưng là tội lỗi ở trong tôi vậy.  21 Vậy tôi thấy có luật nầy trong tôi: khi tôi muốn làm điều lành, thì điều dữ dính dấp theo tôi. (Rơm 7:18-21)

2)Chúng ta sống trong trạng thái “mộng du” giữa “Đám người chết”:
Lời Chúa cho biết thực trạng thuộc linh và kêu gọi: “Hỡi kẻ ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Christ sẽ chiếu sáng ngươi” (Eph 5:14)
Đây là một loại bệnh đặc biệt mà y học gọi là “Mộng du” (Người bệnh đang ngủ mà thức dậy và hoạt động như một người bình thường, nhưng thật sự họ đang hoạt động trong trạng thái ngủ. Tình trạng này như người chết vì không kiểm soát được và rất dễ chết luôn, rất nguy hiểm).

II. LIÊN HIỆP VỚI CHÚA GIÊ-SU TRONG LỄ BÁP-TEM:

Phao-lô dạy rằng:  Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng?  2 Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa?  3 Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp-têm trong Ðức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp-têm trong sự chết Ngài sao?  Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài, hầu cho Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy.  5 Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau:  6 vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa.  7 Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi.

1)Liên hiệp với Chúa Giê-su trong Báp-tem có nghĩa như thế nào ?

imagesCA2OFA6N

a)Lễ Báp-tem có 3 bước:[1]Bước xuống hồ [2]Trầm mình xuống nước [3]Bước ra khỏi hồ.

b)Bởi đức tin, chúng ta nhận biết rằng (tính rằng, kể rằng):
[1]Đồng chết với Chúa: Chúng ta đã chết về tội lỗi (c2) Chúng ta biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài (c6)
[2]Đồng chôn với Chúa: Chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-têm trong sự chết Ngài (c4). 
*Chết có thể tự thực hiện, nhưng chôn thì không tự làm được, phải có người giúp (Mục sư hành lễ).
[3]Đồng sống lại Người Mới với Chúa:

 Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Ðấng Christ, thì chúng ta tin  rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài,  9 bởi biết rằng Ðấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài.  10 Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Ðức Chúa Trời (c8-10).

III. SỐNG CHO ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG CHÚA GIÊ-SU CHRIST.

SỨ ĐỒ Phao-lô kết luận rằng:

Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống 

cho Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jêsus Christ.”( Rơ-ma 6:11)

“Vì nếu chúng ta sống, là sống cho Chúa” (Rô-ma 14:8)

Jean Paul Sartre: “Con người sẽ không thể hạnh phúc khi họ chưa tìm ra được nguyên nhân, mà họ có thể chết cho nguyên nhân đó”. Khi yêu, con người sẳn sàng chết cho người mình yêụ

Chết cho Chúa rất khó, sống cho Chúa lại còn khó hơn. Nhưng Phao-lô nói rằng “trong Chúa Giê-su” chúng ta có thể sống cho Đức Chúa Trời (Rom 6:11).

Sống cho Đức Chúa Trời là học tập và làm theo gương mẫu đời sống Chúa Giê-su (Phil 2:5-11).

Sống cho Đức Chúa Trời là thực hiện Đại Mạng Lịnh của Chúa Giê-su qua 2 công tác: truyền giảng Tin lành cho muôn dân và giáo dục (dạy dỗ) lời Chúa cho họ, để họ 

trở nên Môn đồ của Chúa (Math 28:18-20).

Kết luận:

Muốn Sống cho Chúa, chúng ta phải đồng chết, đồng chon với Chúa con người cũ tội lỗi của chúng ta, để đồng sống với Chúa một đời sống mớị Đời sống ấy học tập theo gương mẫu sống của cuộc đời Chúa Cứu Thế và tận dụng cơ hội để phục vụ Ngàị

*Sau một tai nạn đắm tàu trên con sông lớn vì bão tố, người ta phỏng vấn một người kia:

- Đêm đó, anh có nghe gì không?
– Có, tôi nghe tiếng kêu la cầu cứu của nhiều người từ giữa sông vọng lạị
– Rồi anh làm gì?
– Tôi bịt tai lại vì âm thanh đó thật là hãi hùng!
Người ta phỏng vấn một thanh niên khác:
– Còn anh, anh có nghe tiếng kêu cứu của họ không?
– À! Có.
– Rồi anh làm gì?
– Tôi đã tức tốc chạy xuống mé sông, lấy xuồng nhỏ, bơi ra cứu những người ấỵ
– Anh đã cứu được bao nhiêu người ?
– Một số rất ít vì chiếc xuồng không chở được nhiều người, nên tôi đã cố gắng chèo nhiều lần. . .                        – Vậy trong khi chèo vất vã cứu người như vậy anh đã suy nghĩ gì?

– Tôi chỉ khóc và cầu nguyện: Chúa ơi xin giúp sức cho con, vì chiếc xuồng của con nhỏ quá!                                       Ước gì nó lớn hơn để cứu được nhiều người. 

2133040361_c80900f7b1

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/01/2013

Tản Mạn Cùng HƯƠNG QUÊ HỒN NƯỚC

Canh VN (21)

Tản Mạn

Cùng

HƯƠNG QUÊ HỒN NƯỚC

 

Giữa đời thường tôi lách mình ra khỏi nhịp đập hối hả của cuộc sống, của một đất nước từng ngày đổi mới trong xu thế hội nhập khu vực và tòan cầu. Tôi đến với Phan Thanh Quang trong chủ ý để lắng nghe anh kể về chuyến hành hương về Quê Nội, về Ðất Tổ Ðiện bàn trong mùa thanh minh vừa qua.
 
            Trong nỗi niềm buồn vui lẫn lộn, anh đã kể cho tôi nghe bằng sự hào hứng và chân thành như trẻ thơ vừa mới nhận mòn quà từ tình thương của cha mẹ. Rồi từ cảm xúc bất chợt đó, chúng tôi đã đi vào thơ… Anh trịnh trọng lấy bản thảo tập thơ HƯƠNG QUÊ HỒN NƯỚC đọc cho tôi nghe mấy bài ưng ý nhất. Một điều gì đó đang trào dâng trong anh, rồi òa vỡ trong hồn, trong tim, trong run rẩy của đời người trãi nghiệm thăng trầm, và của bảy mươi năm dồn nén sầu thương:
 
            “Mưa rỉ rã đất hồn nghe ướt át
            Từng giọt sầu sướt mướt chảy trong tâm . . .”
                                    (Bao Giờ Mưa Tạnh)
 
            Trong nước mắt, anh đọc bài thơ MẸ, và như để được đầy trọn lòng hiếu thảo, anh đọc cả bài BÔNG HỒNG CHO CHA cho tôi nghe trong xúc động nghẹn ngào :
 
            “Bao lần mẹ vì con vui mặn ngọt
            Dù đắng cay mẹ cũng chẳng so đo
            Nước lửa bùng sôi mẹ chẳng sợ lo
            Vì con đó, mẹ hy sinh tất cả.
                                    . . .
                        Một bông hồng cho cha
                        Hồn con sao bật khóc”
 
            Tôi nhận tập bản thảo HƯƠNG QUÊ HỒN NƯỚC về đọc theo yêu cầu của anh để ghi vài lời giới thiệu. Tôi vui nhận vì đối với tôi đó là niềm vinh dự, gói ghém cả lòng tin yêu của anh, nhưng tôi cũng lo vì ngày mai tôi phải đi xa. . . phải, tôi sẽ rời quê hương dấu yêu để khóat lên cuộc đời mình chiếc áo của người du mục.
 
            Những cơn mưa chiều đầu mùa đổ xuống rồi ngưng, đổ xuống rồi ngưng. . . như chính tôi chập chờn đọc thơ anh, rồi ngưng, rồi đọc, lại ngưng. . . để nghe hồn mình lắng đọng, thắm thía một tình cảm cao quý đối với Quê hương. Anh ca ngợi Hồn Thiêng Liêng Sông Núi Việt Nam không bằng những ca từ chảy chuốt, chắt lọc, nhưng bằng cái nhìn thật bình dị, đơn sơ từ những gò núi (Gò Nổi Quê Tôi), vườn cây (Tình Ca Quê Ngọai) đến đảo xa biển nước mênh mông hay cao nguyên vời vợi (Côn sơn, Chiều Cao Nguyên). Từng địa danh được ca ngợi trong góc nhìn qua từng mãng đời, từng nhóm người:
 
            “Tình Kiên Giang làm đẹp lòng đất mẹ
            Trai Kiên Giang có sức khỏe dồi dào
            Gái Kiên Giang đôi mắt sáng ngời sao
            Tôi mến lắm ghi đôi vần kỷ niệm.”
 
            Ðọc từng bài, từng bài thơ của Phan Thanh Quang tôi thấy cái tứ thơ rất hay, nhưng đôi lần, tôi phát hiện những sự hạn hẹp của tác giả trong thể rung cảm “hồn” đáng lý phải lai láng, phiêu bồng như giòng nước lãng du…  tiếc thay, anh lại gò ép hồn mình trong những khổ thơ niêm luật, nên dường như có điều gì đau đớn ray rức ẩn tàng trong thơ của anh.
 
            Nhưng có điều không thể chối cải được là giữa những họa tiết, màu sắc đời thường, anh đã cố gắng khắc họa tòan cảnh của quê hương và gói ghém tình cảm anh đối với gia đình, bạn bè, người thân, thân phận, cuộc đời gian nan, trong lý tưởng vời vợi và máu lệ tuôn tràn, trong những hy sinh đấu tranh cái ác và nô lệ, để mưu cầu tự do dân tộc. Những gam màu bằng thơ, không sắc, đã tỏa ra một làn hương quyền quyện hồn tôi:
            “Em là nàng thơ ươm mơ,
            Là hồn anh đó cõi bờ đam mê,
            Ý tình gởi gắm hương quê
            Văn thơ trao chuốt, buồn lê thê buồn.”  (Nàng Thơ)
 
            Tôi khép lại những mong manh của hồn, mỏng mảnh loan tõa của HƯƠNG QUÊ HỒN NƯỚC bằng cái cảm nhận thân phận của Phan Thanh Quang trong cuộc sống hiện thực, như một quyết tâm vững vàng trên thế lộ buồn tênh :
 
            “Thân gầy đứng trơ vơ như cột đèn bên lộ
            Giữa chợ đời hoen ố, bóng chênh vênh
            Mưa gió phủ phàng, thế lộ buồn tênh
            Nắng nung đốt càng bền gan sắt đá.” (Như Cột Ðèn)
           
            Xin chúc anh “bền gan sắt đá” giữa mưa nắng cuộc đời trên Quê Hương Dấu Yêu.
                                                                                   
            Phan Du Mục
            Vào mưa tháng năm 2005.
            
 
 
Canh VN (26)
 
 
 
 
 
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 18/01/2013

GIA ĐÌNH CÓ CHÚA

2nd - Wedding at Cana

Bài Giảng:

GIA ĐÌNH CÓ CHÚA

Kinh Thánh Nền Tảng: Giăng 2:1-12; Thi 128:1-6

Câu Nền Tảng: Thi thiên 46:1

Ðức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi,
Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân.”
 

Giăng 2:1-12   Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Ðức Chúa Jêsus có tại đó.  2 Ðức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài.  3 Vừa khi thiếu rượu, mẹ Ðức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu nữa.  4 Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.  5 Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.  6 Vả, tại đó có sáu cái ché đá, định dùng về sự rửa sạch cho người Giu-đa, mỗi cái chứa hai ba lường nước.  7 Ðức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng.  8 Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho.  9 Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể,  10 mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.  11 Aáy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Ðức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.  12 . Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành Ca-bê-na-um; và chỉ ở tại đó ít ngày thôi.

 
Kính thưa Hội Thánh,

Chúng ta đã khá quen thuộc với Khúc Kinh Thánh nầy trong chủ đề Hôn nhân. Hôm nay, chúng ta suy gẫm khúc kinh thánh này trong một phương diện khác. Nguyện Chúa chúc phước và khích lệ chúng ta.

 Sự hiện diện của Chúa tại Tiệc Cưới Ca-na nói lên sự tán thành của Chúa về một cuộc hôn nhân tốt đẹp giữa một đôi nam nữ. Điều đó nói lên rằng Chúa Giê-su không chủ trương “độc thân” hoặc “hôn nhân đồng giới” như một số giáo hội và hệ phái Cơ Đốc ngày nay chủ trương. Tuy nhiên, hôm nay tôi không đề cập đến vấn đề này trong khuông khổ bài giảng (vào một dịp khác), nhưng chúng ta sẽ chú trọng vào sinh hoạt của một “Gia đình có Chúa hiện diện” sẽ như thế nào?

 I.GIA ĐÌNH XÂY DỰNG BẰNG YÊU THƯƠNG:

 a)Đôi Nam Nữ xây dựng tình yêu với mục tiêu hôn nhân (c1)

images (7)

*Ngày nay có nhiều bạn trẻ chủ trương “yêu là yêu để đấy” (Tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở. . . ); hoặc là yêu thử “Sống thử” với nhau, nếu thấy được thì tiếp tục, nếu không thì thôi (Không biết thử bao nhiêu lần mới vừa ý!?).

b)Gia đình Đám Cưới là những người nghèo thiếu, nhưng yêu nhau (c3):

Đôi bạn này có một tình yêu đúng đắn. Yêu để đi đến hôn nhân. Họ tổ chức đám cưới theo phong tục, văn hóa xã hội; nhưng đó cũng là quy luật của Chúa:

Sáng 2:18  18 . Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán rằng: Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó” .
 Sáng 2:21-22  21 . Giê-hô-va Ðức Chúa Trời làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào.  22 Giê-hô-va Ðức Chúa Trời dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam)
 
c)Chúa được mời dự tiệc cưới (c2). Gia đình mời Chúa đến dự theo mối quan hệ mật thiết, gia tộc hoặc quen biết. Lúc đó Chúa chưa thực hiện phép lạ nào, cho nên Ngài không phải được mời vì địa vị xã hội hoặc là “Người Nổi tiếng”.
 
images (8)

 II.GIA ĐÌNH NGHÈO CÓ CHÚA THÌ NAN ĐỀ ĐƯỢC GIẢI QUYẾT:

 a)Nan đề là Thiếu rượu: Đây là rượu nho, một loại thức giải khát thông thường của Người Do-thái. Đãi tiệc cưới mà thiếu thức uống là nan đề cho Gia đình này. Khách sẽ trách mắng, mất danh dự, mọi người ra về. . . khi thiếu rượu trong bữa tiệc.

Ngày nay, trong sinh hoạt sống đạo chúng ta cũng thường gặp những tình huống như vậy. Chúng ta làm hết sức, trong khả năng của mình, nhưng “lực bất tùng tâm” và nhu cầu hay mục đích mong ước đã trở thành nan đề. Thử thách đó đã làm cho chúng ta cảm thấy hụt hẫn, bối bối và lo âu.

Tuy nhiên Thánh Kinh đã phán: “Không sự thử thách nào quá sức anh chị em, vì trong mọi thử thách Chúa cũng mở đường cho chúng ta ra khỏi” (I Cor 10:13). Tạ ơn Chúa. Gia đình có Chúa hiện diện thì nan đề được giải quyết.

 b)Có Chúa thì nan đề được giải quyết.

Không có gì là khó đối với chúng ta khi có Chúa hiện diện. Từ sự thiếu thốn đã trở thành dư dật.

*Từ nguyên (chữ) “Hôn nhân” trong tiếng Do Thái (Hi bá lai văn) là một Tổ từ, có chữ Chúa ở giữa. Nếu lấy chữ Chúa ra khỏi, thì chữ (hôn nhân) còn lại là “Lửa”. Gia đình không có Chúa hiện diện (ở cùng) thì giống như “lò lửa – địa ngục” vậy. Phải không? Trong kinh nghiệm sống chúng ta nhiều lần cảm nhận được điều ấy.

 c)Từ nghịch cảnh đến thuận cảnh (c10)

Người đời “Ngon trước, dỡ sau”, Gia đình có Chúa “ngon trước, sau càng ngon hơn”.

Trong Ân điển Chúa ban cũng như vậy: Ơn càng thêm ơn (Giăng 1:14)

 

III.BÍ QUYẾT ĐỂ GIA ĐÌNH NHẬN ĐƯỢC ƠN PHƯỚC?

 a)Phải có Chúa hiện diện: Chúa hứa: “Ta ở cùng Các Ngươi cho đến tận thế” (Math 28:20)

Trong những thập niên 1960 – 198o, trong mỗi gia đình Tín Hữu ở Việt Nam thường có  Câu khẩu hiệu: “ĐCT là chủ nhà này, là Khách vô hình dự mổi bửa ăn, là Đấng yên lặng nghe mọi lời nói”. Đây không phải là một câu gốc nhưng là một câu khẩu hiệu tổng hợp ý tưởng từ những câu gốc, thiết tưởng chúng ta nên ghi nhớ trong gia đình của chúng ta.
 

*Sau một lúc rầy con, rồi để thị uy, một người cha lớn tiếng hỏi con mình: “Ba hỏi con: ai là chủ nhà này chứ?” – “Dạ” Đứa con ấp úng trã lời: Thưa ba, đó là Má!”. Gia đình Bạn ai là chủ nhà mình?

 b)Tin Cậy Chúa: Đó là đức tin  (Hê 11:1 ) “Đức tin là sự biết chắc vững vàng những điều mình hy vọng”

*Tin cậy dù chưa thấy phép lạ xảy ra “là bằng cớ những điều mình chưa thấy”

c)Vâng lời Chúa: Đó là hành động của đức tin (Gia cơ 2:17, 22)

*Vâng lời làm theo Lời Chúa thì phép lạ xảy ra. Nước lã đã biến thành rượu nho.

 *Câu chuyện đức tin: Có Vị Vua thử thách sự tin cậy và vâng lời của hai người phục vụ, bằng cách sai họ múc nước từ một giếng nhỏ, đổ vào cái rổ. Một người bỏ đi vì nghĩ rằng vô ích. Một người cứ làm cho đến chiều. Cạn nước múc được chiến nhẫn vàng. Đó là phần thưởng Vua ban tặng và được giao phó những công việc lớn lao hơn.

KẾT LUẬN: Trong cuộc sống, khi gây dựng gia đình, chúng ta không ít lần gặp thật nhiều khó khăn, nan đề. Và, trong nghĩa rộng, sự gây dựng Hội Thánh- một Đại Gia đình của Chúa cũng giống như vậy. Nhưng, bí quyết đó là sự hiện diện của Chúa trong đời sống chúng ta, trong sinh hoạt Hội Thánh chúng ta. Để rồi, chúng ta với lòng tin cậy Lời Chúa phán dạy,  vâng phục mạng lịnh của Chúa và làm theo, thì chắc chắn phép lạ sẽ xảy ra. Mọi người sẽ vui mừng, thỏa lòng và cảm thấy ngọt ngào những ơn phước của Chúa, như tại tiệc cưới Ca-na ngày xưa.

 Kinh thánh cho biết đó là lần đầu tiên Chúa bày tỏ quyền năng của Ngài, từ đó mang lại sự vinh hiển Danh Ngài (c11-12). Xin Chúa cho chúng ta cầu nguyện với lòng tin nơi Lời Hứa của Chúa trong Thánh Kinh Giê-rê-mi 33:3 “Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho. Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc các ngươi chưa từng biết”. Bởi sự hiện diện của Chúa, gia đình đám cưới tại Ca-na nhận được phép lạ “lớn và khó, mà họ chưa từng biết”. Như thế, với tấm lòng tin cậy và vâng lời Chúa của chúng ta, cầu xin Chúa cho chúng ta nhận được những ơn phước như họ và để mang lại sự vui thỏa mọi lòng và làm vinh hiển Danh Chúa giữa Cộng đồng chúng ta. Amen.

images (9)

Đăng bởi: nguoichanbay | 05/01/2013

Thơ: Nhẫm đếm Ân hồng

Thơ

Autum (33)

Nhẫm đếm Ân hồng

 

“Cầu xin Chúa dạy chúng con biết đếm các ngày của chúng con.

Hầu cho chúng con được lòng khôn ngoan”.

(Thi thiên 90:12)

Ân hồng trong mỗi trái tim
Khối tình canh cánh  cho mình nhớ nhung
Ân hồng giữa cõi quê chung
Ra đi ai gọi nhau cùng lối đi?
Sau lưng bỏ lại những gì
Nhìn ra phía trước biên thùy phân bua
Ân hồng đến giữa bốn mùa
Xuân thu đông hạ luôn vừa vặn nhau
Lá hoa cứ đổi thay mầu
Cho cây có tuổi cho sầu có tên
Ân hồng ai chớ vội quên
Giữa con đường xóm, mái hiên, sau hè
Ruộng đồng khóm trúc bờ khe
Cùng vang vọng cuối ngàn khê mặn nồng
Cho em mấy bận chờ mong
Cho tay ai vẫn quạt nồng tình quyên
Ân hồng theo suốt cõi miền
Tha hương mỏi gót muộn phiền còn yêu
Ân hồng càng đếm bao nhiêu
Con tim khôn lớn tình yêu khôn cùng
 
Mục sư Nguyễn Huệ Nhật
(Trích Tuyển Tập Thơ Tình Yêu Chúa)
Đăng bởi: nguoichanbay | 05/01/2013

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ 2000 NĂM TRƯỚC

BỐ CỤC BÀI GiẢNG 

crowds-jesus

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ

2000 NĂM TRƯỚC

 

Kinh Thánh:  Giăng 8:1-12

Câu Nên Tảng: Giăng 8:11-12   

Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.  12 . Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống”

Lời Mở Đầu:

Chúng ta vừa xem qua Video Clip về Câu Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước. Lời bài hát và hình ảnh sống động đã làm cho khúc Kinh thánh Giăng 8:1-12 trở nên sinh động hơn cho chúng ta.

Tuy nhiên, đứng trước Bàn Tiệc Thánh mà chúng ta sắp cùng nhau dự, có đôi điều chúng ta cần suy ngẫm thêm.

I.                SỰ KẾT ÁN TRONG ĐỀN THỜ (8:1-7)

A.Chúa đến đền thờ và dạy dỗ đồn dân:

Giăng 8:1-2 . Ðức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve.  2 Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ.  

 

B.Người Đàn Bà bị kết án bởi những người Dạy Luật:

 Giăng 8: 3-5 Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông,  4 mà nói cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm.  5 Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; -còn thầy, thì nghĩ sao?

C.Họ ném đá Người Đàn Bà với mục đích chống Chúa:

Giăng 8: 6-7. Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Ðức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất.  7 Vì họ cứ hỏi nữa,

D.Tại sao họ chống đối Chúa?

1.Vì Chúa có ảnh hưởng lớn trên đòan dân:

Ma-thi-ơ  8:1  Khi Ðức Chúa Jêsus ở trên núi xuống, có đoàn dân đông lắm theo Ngài.

Mác 3:7-8   7 Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ Ngài lánh ra nơi bờ biển, có đoàn dân đông lắm từ xứ Ga-li-lê đến theo Ngài. Từ xứ Giu-đê,  8 thành Giê-ru-sa-lem, xứ Y-đu-mê, xứ bên kia sông Giô-đanh, miền xung quanh thành Ty-rơ và thành Si-đôn cũng vậy, dân đông lắm, nghe nói mọi việc Ngài làm, thì đều đến cùng Ngài.

2.Vì Chúa giảng dạy cách có quyền năng.

Mác 1:22  22 Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu.

3.Vì Chúa gần gủi với những Người bị khinh-dể trong xã hội.

Ma-thi-ơ  21:31-32  Ðức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Ðức Chúa Trời trước các ngươi.  32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.

 

 II.              AI  LÀ NGƯỜI ĐỊNH TỘI NGƯỜI ĐÀN BÀ?   (8:7-9)                                                                            

A.        Thách thức của Chúa Giê-su đối với Người Đạo Đức Giả:

c7tt:  thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người.  8 Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.                                                                                   

B.        Sự hổ thẹn lương tâm của Người Đạo Đức Giả:

 9 Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước;

his-healing-love-top

 

 III.        SỨ ĐIỆP CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI. (8:9-11)

A.Khi Người Đàn Bà tội lỗi đối diện với Chúa:

Ðức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó.  10 Ðức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?

 B.Chúa Giê-su đến thế gian để cứu vớt tội nhân.

 11 Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi;

C.Sứ Điêp của Chúa là ĐỪNG TÁI PHẠM (8:11-12)

Chúa Giê-su phán:

1. Hãy đi, đừng phạm tội nữa.

2. Đi trong ánh sáng của sự sống.

12 . Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.

KẾT LUẬN:

Chúng ta hãy xét mình, cầu nguyện để nhận bánh và chén cách xứng đáng như Sứ đồ Phao-lô đã khuyên (I Cơ 11:28-29):

28 Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy;  29 vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình.

Đăng bởi: nguoichanbay | 30/12/2012

ĐỨC CHÚA TRỜI là THẦN LINH

BLUE SKY

ĐỨC CHÚA TRỜI

THẦN LINH

 

Kinh Thánh: Ê-sai 43:10-11

Ðức Giê-hô-va phán: Các ngươi là kẻ làm chứng ta, và là đầy tớ ta đã chọn, hầu cho các ngươi được biết và tin ta, và hiểu rằng ta là Chúa! Chẳng có Ðức Chúa Trời nào tạo thành trước ta, và cũng chẳng có sau ta nữa.  11 Ay chính ta, chính ta là Ðức Giê-hô-va, ngoài ta không có Cứu Chúa nào khác.”

 Câu Gốc: Giăng 4:24

Ðức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.”

 

Câu hỏi lớn về cuộc sống, tôn giáo và niềm tin:

 “Có Đức Chúa Trời không?”

– Nếu có thì Ngài thế nào? Ngài ra sao, ở đâu? – Nếu chúng ta không thấy thì làm sao mà tin ?

 

*Có một Vị khách hỏi Người Tù Trưởng của một bộ lạc trong sa mạc rằng: “Làm sao ông có thể tin rằng Đức Chúa Trời thực hữu (cóthật) trong khi ông chưa bao giờ thấy Ngài?

Vị Tù trưởng đáp: “Sáng nay, khi ra khỏi lều tôi thấy dấu chân của một con lạc đà in trên cát. Tôi không thấy con lạc đà, nhưng chắc chắn đã có một con lạc đà đã đi qua. Cũng vậy, khi xem muôn vật đã được dựng nên thì tôi tin rằng phải có Đấng Tạo Hóa.”

 

Giáo phụ Tertullian thời Giáo Hội Trung cỗ đã nói:

 “Giáo lý Đức Chúa Trời thực hữu là do Đức Chúa Trời mặc khải từ trên cao, chớ không do con người xây dựng nên được”.

Đức Chúa Giê-su từng tuyên phán:

 “Đức Chúa Trời là Thần (Linh), ai thờ phượng Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng” (Giăng 4:24).

Rồi Chúa Giê-su cũng đã giải thích rằng:

“Thần (Linh) thì không có thịt xương” (Luca 24:39). Cho nên chúng ta không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời bằng mắt thường được (bằng xác thịt) mà phải bằng con mắt đức tin, bằng đôi mắt tâm linh.

 Sứ đồ Phi-e-rơ đã dạy:

 “Ngài là Đấng anh chị em không thấy mà yêu mến. Dầu bây giờ anh chị em không thấy Ngài nhưng tin Ngài và vui mừng lắm một cách không xiết kể và vinh hiển” (I Phi-e-rơ 1:8).

 Thế thì, không thấy mà tin có phi lý không?

 Thật ra có nhiều điều chúng ta không thấy bằng mắt thường mà vẫn phải tin rằng nó “hiện hữu”.

Thí dụ (1) như Tình yêu của con người. Tình yêu màu gì? Nặng bao nhiêu ký? Hình dạng nó ra sao? Nó có mùi gì???? Các bạn trẻ có thể định nghĩa đão (tếu) cho vui mà thôi. Nhưng thật ngớ ngẫn cho ai nói rằng “Vì tôi không thấy tình yêu nên tôi không tin rằng có tình yêu trên đời!”

 Theo  khoa học, chúng ta đã tin (mặc nhận) trong kiến thức 98% những điều mình chưa tận mắt xem thấy. Chỉ 2% là đã thấy và tiếp xúc (như rờ, đụng, chạm. . .) được những điều ấy.

 Một thí dụ khác (2) đó là Sóng Điện từ trong không gian. Nhờ có sóng này chúng ta xử dụng để nghe radio, rồi đến truyền hình và gần đây là điện thoại di động và mạng lưới internet tòan cầu. Mặc dù, không thấy làn sóng điện từ ấy, nhưng chúng ta thấy hiệu năng của nó mà tin rằng có sóng điện từ.

 Qua Thánh Kinh, chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời đã khải thị (tự bày tỏ) cho chúng ta biết về Ngài là Đấng Tạo Hóa qua sự sáng tạo thiên nhiên, vũ trụ này. Như lời Ngài đã phán trong Thánh Kinh, sách Ê-sai 43:10-11 rằng:

 “Ðức Giê-hô-va phán: Các ngươi là kẻ làm chứng ta, và là đầy tớ ta đã chọn, hầu cho các ngươi được biết và tin ta, và hiểu rằng ta là Chúa! Chẳng có Ðức Chúa Trời nào tạo thành trước ta, và cũng chẳng có sau ta nữa.  11 Ấy chính ta, chính ta là Ðức Giê-hô-va, ngoài ta không có Cứu Chúa nào khác.”

 Đức Chúa Trời vô hình nhưng thực hữu (có thật) giống như Mặt Trời trong Hệ thống Thái Dương Hệ chúng ta đang sống đây. Nó là một thí dụ về sự có thật của Đức Chúa Trời.

(1)Mặt trời là một khối Tinh Vân sáng rực, chói lói nên giữa trưa, mắt thường chúng ta không thể nhìn ngay được.

(2)Tuy nhiên, ánh sáng mặt trời thì chúng ta có thể thấy được, nhờ đó phân biệt được ngày đêm. Nhờ ánh sáng mặt trời mà muôn vật có sự sống trên địa cầu của chúng ta. Thiếu ánh sáng Địa cầu sẽ đóng băng, và Trái đất là một hành tinh chết.

(3)Điều cuối cùng chính là sức nóng mặt trời mà chúng ta ai ai cũng có thể cảm nhận được. Tỷ như Người Mù không thấy Khối Tinh Vân rực sáng hay ánh sáng rực rỡ của mặt trời, nhưng người mù có thể nhận biết có mặt trời đang hiện hữu, bởi vì, chính họ cảm xúc được sức nóng của trưa hè khi ánh sáng mặt trời tác động trên làn da của họ.

 Cũng giống như vậy, Thánh Kinh cho biết từ khi con người phạm tội, thì tội lỗi đã làm cho đời sống chúng ta bị ngăn cách với Đức Chúa Trời. Chúng ta là con người tội lỗi không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời là Đấng Thánh, Đấng Thần Linh nữa. Chỉ có sau khi chết thì con người mới gặp Đức Chúa Trời để chịu xét đóan mà thôi (Hê-bơ-rơ 9:27).

 Để giải cứu con người ra khỏi tội, Đức Chúa Trời đã tự hạ mình xuống, giáng thế làm người, để cho chúng ta có thể nhìn biết Đức Chúa Trời. Ngài là ánh sáng thiên thượng để chúng ta có thể nhìn thấy Đức Chúa Trời. Ngài đã phán: “Ai thấy ta tức là đã thấy Cha vậy” (Giăng 14:9)

“Chẳng hề ai thấy Ðức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Ðấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết.” (Giăng 1:18).

 Hơn thế nữa, chúng ta có thể cảm xúc về sự hiện diện của Ngài trong đời sống chúng ta bởi quyền năng của Ðức Thánh Linh: “Chính Ðức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời.” Rô-ma 8:16.

“Ðức Chúa Trời là Ðấng biết lòng người, đã làm chứng cho người ngoại, mà ban Ðức Thánh Linh cho họ cũng như cho chúng ta” (Công vụ 15:8)

 Sứ đồ Phao lô đã làm sáng tỏ những vấn đề khó hiểu này, rằng: “Bây giờ chúng ta xem như trong cái gương cách mp mờ. Bây giờ chúng ta biết chưa hết, nhưng đến bấy giờ chúng ta sẽ biết Chúa cách tỏ tường như mặt đối mặt vậy.” (I Cor 13:12).

 Issac Newton đã nói: “Sự hiểu biết rất cần thiết trong cuộc sống. Nhưng có một sự hiểu biết tối quan trọng (Quan trọng nhất), ấy là biết mình là một tội nhân và biết Đức Chúa Giê-su Christ là Cứu Chúa của linh hồn”.

Ông đã chứng minh cho một Nhà Khoa học vô thần kia cho rằng Không có Thượng Đế, bằng cách chế ra một mô hình Thái Dương Hệ thu nhỏ đặt trong phòng thí nghiệm của ông. Ngày kia, người bạn ấy đến thăm, nhìn thấy đã hỏi ông là hệ thống này ở đâu mà có? Ông trã lời: Tự nhiên có! Người bạn phàn nàn: Làm sao có thể tự nhiên mà có được! Phải có người sáng chế ra nó chứ! Newton nói: Thế tại sao anh lại không tin Hệ thống Thái Dương Hệ có một Đấng Khôn Ngoan sáng tạo ra chúng? Ngài chính là Đức Chúa Trời mà tôi tin.

 Thần Học gia Thomas Aquinas đã nói:

 “Tòan cỏi vũ trụ được xem xét trong lý chứng cứu cánh này. Vũ trụ được so sánh như một cổ máy, ví dụ như một chiếc đồng hồ. Một ngày kia ta bắt gặp chiếc đồng hồ trên cát. Chúng ta nhận ra cổ máy nhờ các bộ phận của nó phù hợp mục đích ghi báo giờ giấc. Chúng ta sẽ không nói: Đó là một sự ngẩu nhiên, tự có trong thiên nhiên, mà chắc chắn phải do một người hay một số người nào đó đầy tài năng thiết kế và thực hiện.

Cũng vậy, mỗi bộ phận trong thiên nhiên, các tinh tú hài hòa nhau, phải có một ai đó thiết kế và tạo dựng. Hệ thống tiêu hóa, những con mắt trong cơ thể con người, bầu khí quyển cân đối, thích nghi và nhiều điều kỳ diệu khác trong thế giới chúng ta – tòan bộ những điều nầy chứng thực sự hiện diện của Đấng Thiết Kế Tối Cao, một Đấng Tạo Hóa tài năng và khôn ngoan. Đấng đó là Đức Chúa Trời.”

Thật vậy, như Tác giả Thi thiên 19:1 đã nói:

 “Bầu trời giải tỏ công việc Ngài đã làm” cho chúng ta.

Và Tiên tri Ê-sai đã xác định rằng: “Ðức Giê-hô-va phán: Các ngươi là kẻ làm chứng ta, và là đầy tớ ta đã chọn, hầu cho các ngươi được biết và tin ta, và hiểu rằng ta là Chúa! Chẳng có Ðức Chúa Trời nào tạo thành trước ta, và cũng chẳng có sau ta nữa.  11 Ấy chính ta, chính ta là Ðức Giê-hô-va, ngoài ta không có Cứu Chúa nào khác.”

Chỉ có Chúa Giê-su là Cứu Chúa của Nhân loại, vì Ngài là hiện thân của Đức Chúa Trời Thần Linh, đến trong nhân loại để cứu vớt bạn và tôi ra khỏi sự hình phạt của tội lỗi.

Tin nhận sự hy sinh của Chúa Giê-su, sự chết thay tội lỗi chúng ta là điều khôn ngoan trong cuộc sống. Đó là điều mà Issac Newton đã tin nhận và Sứ Đồ Phao-lô khẳng định : “Đức Chúa Giê-su Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội; ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy” (II Tim 1:15).

Bạn có thể tin nhận Chúa ngay giờ này bằng lòng tin, chắc chắn bạn sẽ cảm nhận sự hiện hữu của Chúa trong lòng bạn ngay hôm nay. Mong thay.

Đăng bởi: nguoichanbay | 21/12/2012

MÓN QUÀ GIÁNG SINH

x-masbackground

Món Quà Của Cha

Vào tuổi chưa đầy 40 Garth Brooks là người thành công hơn cả Frank Sinatra, Barbara Streisand, Elvis Presley trong lãnh vực âm nhạc. Tuy nhiên sau 12 năm trong nghề, ông quyết định giải nghệ để có thể tận tâm chăm sóc con cái. Ông nói “Âm nhạc đến từ Thiên Chúa. Nó đến cách tự nhiên. Nó đến với tôi cách dễ dàng và tôi yêu âm nhạc. Tuy nhiên, bây giờ tôi nhận thức rằng điều quan trọng nhất trong đời sống tôi không phải là âm nhạc. Khi nhìn mình trong gương soi, tôi thấy con người tôi đầy dẫy những khiếm khuyết. Tôi tự hỏi có phải Chúa đặt tôi ở đây để làm việc thế này chăng. Hồi nào đến giờ tôi chuyển tải lời thơ ý nhạc đến cùng những người chung quanh tôi, nhưng bắt đầu từ nay, tôi phải giúp con tôi trưởng thành trong nếp sống tin kính. Tôi phải giữ lời tôi hứa.
Source: Quotations from Dotson Rader, “Why He’s Coming Home”, Parade Magazine, December 16. 2001.


Người khác nữa cũng muốn dành điều tốt nhất cho con mình là người có biệt danh Easy Eddie. Ông là vị luật sư đã giúp cho Al Capone thoát khỏi tù tội tại Chicago nhiều năm trước đây. Vị luật sư này cuối cùng đã phải trưng bày sự thật về những hành vi phạm pháp của Al Capone. Ông phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình khi làm như vậy nhưng quyết định của ông đã giúp cho con mình thoát khỏi ảnh hưởng xấu và trở thành công dân gương mẫu.

Khi Thế Chiến Thứ II bùng nổ, Phi Đoàn Trưởng Butch O’Hare được trao phó nhiệm vụ bảo vệ Hàng Không Mẫu Hạm Lexington tại Nam Thái Bình Dương. Có này nọ Butch O’Hare phải cầm cự cả một phi đội của Nhật Bản trong tình thế vô cùng nguy nan. Trong việc chống đỡ bảo vệ tàu chiến của Hoa Kỳ ông còn hạ được năm chiếnđấu cơ của Nhật Bản. Về sau ông được trảo thưởng huân chương vinh dự của quốc hội, tương đương như Bảo Quốc Huân Chương. Điều vinh dự là phi trường lớn tại Chicago mang tên ông: Phi Trường O’Hare. Xét cho cùng món quà cha ông cho con mình là món quà thật quí.


Món Quà Của Mẹ

Sau khi ly dị bà mẹ kia phải làm lụng cực nhọc để nuôi nấng đứa con gái lớn lên. Càng lớn nó càng ngang bướng. Một ngày nọ bà mẹ nhận được điện thoại từ ty cảnh sát, cho biết con bà bị giam về tội lái xe trong khi say. Bà phải mang tiền đến nộp phạt để chuộc nó ra khỏi nhà giam. Trên đường về nhà bà hai mẹ con chẳng nói với nhau một lời. Cho đến chiều ngày hôm sau, bà mạ đưa cho con một gói quà. Đứa con gái mở quà ra, thấy trong đó có cục đá bóng loáng. Nó định cự nự. Mẹ nó nói: Con xem mảnh giấy bên dưới món quà đó đi. Mảnh giấy viết: Cục đá này tuổi có đến triệu năm. Dù đá có mòn, dù đá có vụn, mẹ cũng vẫn kỳ vọng nơi con. Đứa con gái ôm mẹ nó khóc và về sau từ từ trở thành đứa con ngoan.


Món Quà Của Chồng

Tiến Sĩ James Dobson thuật lại chuyện của thiếu phụ mang tên Stella Thornhope. Chồng bà mới qua đời vì bệnh ung thư và Giáng Sinh thì sắp đến. Trong cảnh cô đơn bà không có ý trang hoàng nhà cửa như những năm trước. Đột nhiên có tiếng chuông cửa reo. Thì ra bà có quà. Đó là con chó con Labrador Retriever.

Bà hỏi: Ai cho tôi con chó dễ thương này vậy? Câu trả lời là: Chồng bà chớ còn ai nữa. Hồi tháng bảy, lúc nó chưa sanh ra kìa. Ông biết là bà sẽ đơn côi trong lúc tuổi già. Ông cũng biết đó là loại chó bà thích nhất. Ông muốn tặng bà món quà Giáng Sinh sau cùng. Và ông đã chuẩn bị trước khi ông nhắm mắt lìa đời. Bà Stella Thornhope cảm thấy niềm vui tràn ngập. Niềm vui đó lớn hơn cả nỗi sầu thảm, mất mát trong lòng bà.


Món Quà Của Vợ

Quà Tặng Của Nhà Thông Thái – dịch thuật: Thanh Bình
Một đồng tám mươi bảy xu, đúng như vậy. Hàng ngày, cô cố gắng tiêu thật ít tiền khi đi chợ. Cô đi loanh quanh tìm mua thứ thịt và rau rẻ nhất cho bữa ăn hàng ngày, ngay cả lúc cảm thấy hết sức mệt mỏi cô vẫn cố tìm kiếm. Tiết kiệm được đồng nào hay đồng đó. 
Della đếm lại số tiền ít ỏi một lần nữa. Không hề có sự nhằm lẫn, chỉ có một đồng tám mươi bảy xu, và ngày mai sẽ là lễ giáng sinh. 
Cô sẽ không thể làm gì hơn, chỉ còn cách ngồi xuống và khóc mà thôi. ở đó, trong một căn phòng nhỏ, tồi tàn, cô đang nức nở. 
Della sống trong căn phòng nhỏ nghèo nàn này với chồng của cô, James Dillingham Young, ở thành phố New York. 
Họ có một phòng ngủ, một phòng tắm và một nhà bếp. James Dillingham Young may mắn hơn cô vì anh ấy có việc làm. Tuy vậy đó không phải là một công việc kiếm được nhiều tiền. Tiền thuê căn phòng này chiếm gần hết lương của anh ấy. Della đã cố gắng rất nhiều để tìm một công việc nhưng vận may đã không mỉm cười với cô. Tuy nhiên, cô rất hạnh phúc khi ôm ‘Jim’, James Dillingham Young, trong tay mỗi khi anh trở về. Della đã ngừng khóc. Cô lau khô mặt rồi đứng nhìn một chú mèo xám trên bức tường đồng màu với nó bên cạnh con đường tối ngoài cửa sổ. 
Ngày mai là Noel và cô chỉ còn một đồng tám mươi bảy xu để mua cho Jim, Jim của cô, một món qùa. Cô muốn mua một món quà thật sự có ý nghĩa, một thứ có thể biểu hiện được tất cả tình yêu cô dành cho anh. 
Della chợt xoay người chạy đến bên chiếc gương treo trên tuờng. Mắt cô sáng lên. 
Cho đến bây giờ, gia đình James Dillingham Young chỉ có hai vật quí giá nhất. Một thứ là chiếc đồng hồ vàng của Jim. Chiếc đồng hồ này trước đây thuộc sở hữu của cha anh ta và trước nữa là ông nội anh ta. Thứ còn lại là mái tóc của Della. 
Della thả nhanh mái tóc dài óng mượt xuống lưng. Thật tuyệt đẹp, không khác nào như một chiếc áo khoác đang choàng qua người cô. Della cuộn tóc lên lại. Cô đứng lặng đi rồi thút thít một lát. 
Della bước chậm rãi qua các cửa hàng dọc hai bên đường rồi dừng lại trước bảng hiệu “Madame Eloise”. Tiếp cô là một phụ nữ mập mạp, bà ta chẳng có một chút vẻ “Eloise” nào cả. Della cất tiếng hỏi: “Bà mua tóc tôi không?” 
“Tôi chuyên mua tóc mà”, bà ta đáp và bảo: “Hãy bỏ nón ra cho tôi xem tóc của cô đi”. 
Suối tóc nâu đẹp tuyệt vời buông xuống. 
‘Hai mươi đồng” bà ta định giá, bàn tay nâng niu mái tóc óng ả. 
“Hãy cắt nhanh đi! và đưa tiền cho tôi” Della nói. 
Hai giờ tiếp theo trôi qua nhanh chóng. Cô tìm mua quà cho Jim trong các cửa hiệu trong niềm vui khôn tả. Cuối cùng cô cũng chọn được một thứ. Đó là môt sợi dây đồng hồ bằng vàng. Jim rất quí chiếc đồng hồ của mình nhưng rất tiếc là nó không có dây. Khi Della trông thấy sợi dây này cô biết rằng nó phải là của anh và cô phải mua nó. 
Cô trả hai mươi mốt đồng để mua và vội vã trở về nhà với tám mươi bảy xu còn lại. 
Đến nhà, Della ngắm mái tóc cực ngắn của mình trong gương và nghĩ thầm: “Mình có thể làm gì với nó đây?”. Nửa giờ tiếp theo cô nhanh chóng chuẩn bị mọi thứ. Xong Della lại ngắm nghía mình trong gương lần nữa. Tóc của cô bây giờ toàn những sợi quăn quăn khắp đầu. “Chúa ơi, mình trông như một con bé nữ sinh ấy!”. Cô tự nhủ: “Jim sẽ nói gì khi thấy mình như thế này?”. 
Bảy giờ tối, bữa ăn được chuẩn bị gần xong. Della hồi hộp chờ đợi, hy vọng rằng mình vẫn còn xinh đẹp trong mắt Jim. 
Thế rồi cửa mở, Jim bước vào. Anh ấy trông rất gầy và cần có một cát áo khoác mới. Jim nhìn chằm chằm vào Della. Cô không thể hiểu được anh đang nghĩ gì, cô sợ. Anh ta không giận dữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Anh đứng đó, nhìn cô với ánh mắt kỳ lạ. Della chạy đến bên Jim òa khóc: Đừng nhìn em như thế, anh yêu. Em bán tóc chỉ để mua cho anh một món quà. Tóc sẽ dài ra mà. Em phải bán nó thôi, Jim à. Hãy nói “Giáng sinh vui vẻ”, em có một món quà rất hay cho anh này!”. 
“Em đã cắt mất tóc rồi à?. Jim hỏi. 
“Đúng thế, em đã cắt và bán rồi, vì vậy mà anh không còn yêu em nữa ư? em vẫn là em mà!”
Jim nhìn quanh rồi hỏi lại như một kẻ ngớ ngẩn: “Em nói là em đã bán tóc à?” 
“Đúng, em đã nói vậy, vì em yêu anh! Chúng ta có thể ăn tối được chưa, Jim?” 
Chợt Jim vòng tay ôm lấy Della và rút từ túi áo ra một vật gì đấy đặt lên bàn. Anh nói: “Anh yêu em, Della, dù cho tóc em ngắn hay dài. Hãy mở cái này ra em, sẽ hiểu tại sao khi nãy anh sững sờ đến vậy”. 
Della xé bỏ lớp giấy bọc ngoài và kêu lên sung suớng, liền sau đó những giọt nước mắt hạnh phúc rơi xuống. Trong đó là một bộ kẹp tóc, những chiếc kẹp dành cho mái tóc óng ả của Della. Cô đã mơ ước có đuợc nó khi trông thấy lần đầu tiên qua cửa kính một gian hàng. Những cái kẹp rất đẹp và rất đắt tiền. Bây giờ chúng đã thuộc về cô nhưng tóc cô thì không còn đủ dài để kẹp nữa! 
Della nâng niu món quà, mắt tràn đầy hạnh phúc. “Tóc em sẽ chóng dài ra thôi Jim”, nói xong cô chợt nhớ đến dây đồng hồ vàng định tặng cho Jim và chạy đi lấy. 
Đẹp không anh? Em đã tìm kiếm khắp nơi đấy, giờ thì anh sẽ phải thích thú nhìn ngắm nó hàng trăm lần mỗi ngày thôi. Nhanh lên, đưa nó cho em, Jim, hãy nhìn nó với sợi dây mới này”. 
Nhưng Jim không làm theo lời Della. Anh ngồi xuống vòng tay ra sau đầu mỉm cười nói: “Della, hãy cất những món quà này đi. Chúng thật đáng yêu. Em biết không, anh đã bán chiếc đồng hồ để mua kẹp cho em. Giờ thì chúng ta có thể bắt đầu bữa tối được rồi em yêu”.

10pz4-1


Món Quà Của Ông Già

Mary Bartels Bray viết chuyện về một ông già, về sau chuyện này được đang trong Nguyệt San The Guidepost, số phát hành tháng 6 năm 1965. Bà viết:

Nhà tôi đối diện Khu Điều Trị của Bệnh Vuện John Hopkins ở Baltimore. Chúng tôi ở tầng dưới. g trên dùng làm phòng cho khách thuê ngắn hạn. Phần lớn họ là những người đến bệnh viện để được điều trị hoặc để thăm viếng thân nhân. Ngày nọ có người đàn ông tuy đã đứng tuổi nhưng dáng vóc không lớn hơn một thiếu niên 8 tuổi. Da mặt ông ửng đỏ và sưng u từng cục. Ông đến gõ cửa nhà chúng tôi xin tá túc qua đêm. Ông xin phép nghỉ đêm ngoài mái hiên, không dám vào nhà. Tôi ái ngại, mời ông lên lầu có chỗ nằm, nhưng ông cứ ngủ ngoài hiên, chờ đến khi trời sáng, lên xe đò về nhà.

Ông ngỏ lời cám ơn, vì ông chỉ có bạn là trẻ thơ. Người lớn không mấy ai muốn nói chuyện hoặc tiếp xúc với ông khi thấy tướng mạo xấu xí, còm cõi của ông, và hơn nữa, khi biết ông bị ung thư da.

Qua lời tâm sự, tôi biết ông đang chu cấp cho gia đình người con gái gồm năm con và một người chồng bị tàn phế do nghề nghiệp tai nạn.

Những lần điều trị sau đó ông tiếp tục xin phép tá túc tại nhà chúng tôi. Ông không cần gì khác hơn một chỗ để ngồi ngủ qua đêm dưới mái hiên. Mỗi lần ông đến ông đều mang theo quà. Quà ông có khi là con cá lớn thật tươi, kèm thêm cả hào mới tách ra từ tảng sáng ngay trước khi lên xe đò. Có khi quà là những mớ rau do chính ông trồng tỉa.

Những năm sau đó, dù không còn cần điều trị nữa ông vẫn nhớ đến gia đình chúng tôi để gởi quà tặng – những món quà đơn sơ nhưng ghói ghém cả một mối thâm tình. Tôi thấy Thiên Chúa đã đặt vào thân hình nhỏ bé đó một trái tim thật lớn.

Hôm tôi đi đến nhà một người bạn thân, tôi thấy bạn tôi trùng được hoa cúc thật xinh, thật rực rỡ. Có điều là bạn tôi trồng hoa đó trong cái chậu sành rong rêu vỡ cả cái vành. Tôi thắc mắc. Bạn tôi nói: Em chỉ giữ hoa đó trong chậu ít lâu rồi sẽ mang ra vườn trồng nơi khoáng đạt hơn.

Tôi chợt liên tưởng đến người bạn cao niên của gia đình chúng tôi. Tôi biệt ông sẽ là cây hoa rực rỡ trong vườn hoa của Chúa.

Source: Written by Mary Bartels Bray, reprinted from Guideposts, June 1965.

 

Món Quà Của Đứa Bé

Một đứa trẻ bên Phi Châu chăm chú nghe cô giáo giải thích ý nghĩa của việc tặng quà nhân dịp GiángSinh. Cô giáo nói người ta tặng quà để bày tỏ lòng kính mến Chúa và yêu thương người. Khi Giáng Sinh đến đứa bé đó đi dọc theo bờ biển một quãng đường thật xa để tìm thấy một vỏ sò rất đẹp mang về tặng cho cô giáo. Cô giáo nói: Con đâu cần phải đi xa như thế. Gần đây cũng có sò đẹp vậy. Đứa bé đáp: Thưa cô, chỉ có đi xa như thế mấy nhặt được vỏ sò thật đẹp, và quãng đường xa cũng là một phần của món quà (long walk was part of gift).

 

Món Quà Của Bạn Thân

 

Cha Durer Albrecht là người thợ bạc. Ông muốn dạy con mình nghề thợ bạc nhưng con ông lại thích làm họa sĩ. Vì thương con, ông cho phép con mình xin vào học trường mỹ nghệ ở Nuremberg. Khổ một nỗi là gia đình ông không đủ tiền cho con ăn học nơi xa. Durer có người bạn tên là Franz Knigstein. Franz cũng thích làm họa sĩ và gia đình cũng nghèo nàn chật vật. Hai người bạn thân đồng ý rút thăm, người nào thua phải lao động để kiếm tiền giúp bạn mình đi học rồi sau đó người được đi học sẽ phải làm để giúp bạn mình.

Durer rút thăm thắng, được theo học ngành mỹ nghệ, trong khi bạn mình là Franz làm việc nhọc nhằn trong hầm mỏ. Khi học xong, Durer trở về làng xưa khuyến khích bạn mình đi học nhưng bấy giờ bàn tay của bạn không còn mềm mại, uyển chuyển như ngày xưa và không thề nào tạo nên nét vẽ tinh tế được.

Ngày nọ, Durer thấy Franz chắp đôi bàn tay gân guốc, nhắm mắt nguyện cầu. Durer thấy đôi bàn tay quá đẹp nên phác họa nét chánh trong giây phút đó và về sau hoàn thành tác phẩm Bàn Tay Cầu Nguyện nổi tiếng khắp cả hoàn cầu.

Đối với Durer đôi tay của bạn mình biểu hiệu cho tình yêu Chúa Giê-xu đã bày tỏ cho nhân thế, một tình yêu vị tha, một tình yêu dốc đổ phục vụ để mưu cầu hạnh phúc cho tha nhân.

christmas1 

 

Món Quà Của Chúa

-        Gia-cơ 1:17 mọi ân điển tốt lành cùng sự ban cho trọn vẹn đều đến từ nơi cao và bởi Cha sáng láng mà xuống, trong Ngài chẳng có một sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải nào.

-        Ê-phê-sô 2:8 Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Ðức Chúa Trời.

-        La-mã 6:23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Giê-xu Christ, Chúa chúng ta.

Qua ba câu Kinh Thánh trên đây chúng ta hiểu phần nào ý nghĩa của món quà Chúa ban cho nhân thế. Món quà đó bao hàm sự tha thứ, sự thông cảm, sự thương yêu. Khi nhận được món quà đó đời sống bạn tràn ngập niềm vui, hy vọng, bình an.  

1. Trước hết, món quà tốt lành nhất, món quà trọn vẹn nhất là món quà đến từ Thiên Chúa. Món quà không hư nát, không suy tàn, không lỗi thời là món quà đến từ trên cao và bởi Cha sáng láng mà xuống. Món quà quí giá nhất đó là sự sống đời đời trong Đức Chúa Giê-xu Christ.

 2. Thứ nhì, món quà quí giá nhất, giá trị nhất không phải là món quà có thể mua hoặc trao đổi bằng tiền bạc hoặc công đức. Đã gọi là quà theo ý nghĩa đích thật thì đâu thể nào mua bán hoặc đổi chác. Quà liên hệ đến trao và nhận. Chúa Giê-xu Christ giáng thế lâm phàm, sống cuộc đời thánh khiết trọn vẹn, sau đó chịu chết để gánh thay tội lỗi của cả nhân gian, sau đó nữa Chúa sống lại và thăng thiên. Chúa thực hiện mọi điều này là để ban cho người tin nhận Ngài sự sống đời đời.

-        Người ta có thể mua nhà đẹp đẽ để ở, mua xe sang trọng để đi nơi này nơi nọ, nhưng không thể mua sự nhẹ nhàng thanh thản.

-        Người ta có thể mua thức ăn ngon, thức uống ngon, các loại thuốc bổ đắt giá nhưng không thể mua sức khỏe.

-        Người ta có thể mua vui qua những cuộc giải trí lành mạnh hoặc không lành mạnh nhưng không thể mua sự vui thỏa trọn vẹn.

-        Người ta có thể mua cả địa vị, chức tước, mua cả lời tâng bốc, khen tặng nhưng khó có thể mua sự ngưỡng mộ, quí mến.

-        Người ta có thể mua sự chiều chuộng nhưng khó có thể mua tấm lòng chân thành, chung thủy, chí thân.

3.  Để tiếp nhận món quà tốt nhất do Chúa ban cho chúng ta cần ăn năn tội và tin nhận Chúa. Đó là cách duy nhất.

Biên soạn của
Mục sư Tiến Sĩ Đào Văn Chinh
Atlanta – Georga- USA

 Christmas2

Đăng bởi: nguoichanbay | 21/12/2012

Bài Giảng Tiệc Thánh

images (9)

ĂN CHUNG VỚI NHAU

I Cô-rinh-tô 11:33  

“Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em họp lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.”

Khải Huyền 3:20

 “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta”.

 knock

Người Xưa thường dạy rằng: “Dĩ thực vi tiên” có nghĩa “”Ăn là trước nhất”. Các bạn trẻ cũng thường nói: “Con đường đến trái tim ngang qua dạ dày”. Người Việt chúng ta thường dùng chữ “Ăn” trong nhiều tình huống phổ quát, tạm chia làm hai lãnh vực Nên và Không Nên ăn chung.

[1] Lãnh vực không nên: Ăn bám, ăn bẩn, ăn bòn, ăn bớt, ăn bừa, ăn cắp, ăn chặn, ăn chỉa, ăn chịu, ăn chơi, ăn chực, ăn cướp, ăn đút, ăn gian, ăn hiếp, ăn hối lộ, ăn lường, ăn mãnh, ăn mánh, ăn mày, ăn ngược nói ngạo, ăn quịt, ăn sương, ăn trộm, ăn vạ, ăn vụng.

[2] Lãnh vực Nên ăn chung: Ăn cận nằm kề, ăn cây nào rào cây nấy, ăn cho đều chia cho đủ, ăn có nhai nói có nghĩ, ăn học, ăn khớp, ăn lương, ăn nằm, ăn ngay nói thẳng, ăn năn, ăn nhịp. Ăn nói, ăn ở, ăn sung mặc sướng, ăn tiệc, ăn tiếu, ăn uống, ăn ý.

Nhà văn Trà Lũ, trong tác phẩm Đất Nhà, đã viết: “Trong bửa ăn, chúng tôi đã nói bao nhiêu chuyện hạnh phúc, chia sẽ với nhau biết bao nhiêu kinh nghiệm cuộc đời”.

images (7)

Trong cuộc sống quá bận rộn hiện nay, nhiều gia đình đã thưa vắng những bửa cơm thân mật. Sáng thì vội vã, trưa thì ăn tại cơ quan, chỉ còn lại bữa cơm tối gia đình mà thôi! Nhưng nếu chồng vợ làm khác ca, khác giờ, thì chỉ còn lại bửa cơm cuối tuần mà thôi. Vậy, làm sao để nói, để chia sẻ với nhau bao nhiêu điều muốn nói? Sự thiếu vắng bửa ăn đưa đến thiếu cảm thông giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái. . . dễ đưa đến tan vỡ trong nhiều gia đình.

Kinh thánh dạy chúng ta nên tổ chức ăn chung với nhau qua các bửa ăn:

 

I. ĂN CHUNG VỚI NHAU TRONG GIA ĐÌNH:  (Thi thiên 128:1-4)

Tác giả Thi Thiên 128 phô diễn một gia đình đầm ấm  và tràn trề hạnh phúc như sau:

1. Phước cho người nào kính sợ Ðức Giê-hô-va, Ði trong đường lối Ngài! (Nguồn phước)

2. Vì ngươi sẽ hưởng công việc của tay mình, Ðược phước, may mắn. (Hưởng thụ)

3. Vợ ngươi ở trong nhà ngươi Sẽ như cây nho thạnh mậu;

   Con cái ngươi ở chung quanh bàn ngươi Khác nào những chồi ô-li-ve.  (Sung túc)

4. Kìa, người nào kính sợ Ðức Giê-hô-va sẽ được phước là như vậy. (Bí quyết).

Hình ảnh hạnh phúc của một gia đình được tác giả phô diễn sự sung túc qua bửa ăn thân ái giữa chồng vợ và con cái trong gia đình. Đó là sự hưởng thụ thành quả lao động, hay làm việc do công sức bản thân mình. Và đó là một nguồn phước từ Đức Chúa Trời, Ngài ban cho Người kính sợ Chúa và đi trong đường lối của Ngài.

 

Phao-lô đã dạy chúng ta phải cảm tạ ơn Chúa về sự ban cho trong bửa ăn: Vả, mọi vật Ðức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh.” (I Ti-mô-thê 4:4-5).

Vì lẽ đó, chúng ta không nên e thẹn, nhưng nên cầu nguyện cảm tạ Chúa công khai giữa xã hội như trong quán ăn hay công sở, để bày tỏ mình là một Con Dân của Chúa. Hành động ấy làm vinh hiển Danh Chúa.

Kinh thánh cũng dạy chúng ta phải làm vinh hiển Danh Chúa trong sinh hoạt đời sống và ngay cả trong khi ăn: “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Ðức Chúa Trời mà làm.” (I Cơ-rinh-tô 10:31).

Chúa Giê-su yêu quý của chúng ta là Đấng khao khát sự tương giao với chúng ta qua những bửa ăn thân mật, Ngài phán: Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta” (Khải Huyền 3:20).

Trong nhà những gia đình tín hữu Hội thánh Tin Lành Việt Nam vào khoảng thập niên 60 (1960) có trang trí một khẩu hiệu mà tôi rất thích: “Đức Chúa Trời là Chủ nhà nầy, là Đấng Vô hình dự mỗi bửa ăn, là Đấng Yên lặng nghe mọi lời nói”. Bửa ăn của một gia đình hạnh phúc là bửa ăn có sự hiện diện của Chúa. Cho nên, qua bửa ăn đó chúng ta cảm tạ ơn phước Chúa ban, như sức khỏe, công ăn việc làm, và nhu cầu vật chất cho gia đình chúng ta.

Trong bửa ăn, chúng ta cũng phải cảm ơn những người nấu ăn cho chúng ta như bà, như  mẹ, hoặc vợ hay con. . . Chúng ta đừng chê bai hay cằn nhằn khi thức ăn không được vừa miệng. Tôi luôn luôn nhìn thấy nụ cười nở trên đôi môi “nhà tôi” mỗi khi tôi hay các con khen “thức ăn hôm nay ngon quá!” Thực tình mà nói, những mệt nhọc vất vả của người nội trợ sẽ tan biến mất đi, khi những thành viên khác trong gia đình đón nhận sự phục vụ bửa ăn với lòng biết ơn.

images (8)

Hội Thánh Đầu tiên là một gương mẫu cho chúng ta về tổ chức những tiệc thông công trong sinh hoạt Hội thánh. Sách Công vụ Các Sứ đồ 2:44-47 bày tỏ các đặc điểm của bửa tiệc toát lên tình yêu thương nầy như sau:

a)     Hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung: Các Tín hữu cùng mang đến các thức ăn và cùng dùng chung với nhau. Khi có tấm lòng hiệp nhất thì sẽ có hành động chia sẽ lẫn nhau.

b)     Phân phát cho nhau tùy sự cần dùng: Quan tâm đến nhu cầu của nhau, và đáp ứng nhu cầu ấy. Hội thánh phân phát tùy theo sự cần dùng của từng người, như nam phụ lão ấu. . . ai ai cũng có phần.

c)     Dùng bửa chung cách vui vẻ thật thà: Đây là tinh thần của bửa tiệc. Mục đích của bửa ăn chung với nhau là mọi người nhận được sự vui vẻ thật thà! Làm sao đạt được mục đích ấy?

*Vui vẻ: Để vui trong bửa tiệc, chúng ta có thể trò chuyện hay tâm tình với nhau, hoặc kể chuyện vui. Người Việt thích cười, nên chúng ta kể chuyện khôi hài (đừng kể chuyện tiếu lâm).

*Thật thà: Để có thể mang lại sự vui vẻ thật sự, thì sự thành thật là điều căn bản của câu chuyện. Chúng ta không được nói dối, nói xạo, nói lấy lòng, nịnh hót hoặc dùng đắc nhân tâm để lôi kéo hay tạo ra phe nhóm trong Hội Thánh. Niềm vui thật phát xuất từ chân tình và những điều mang lại sự gây dựng đức tin cho nhau. Để vui vẻ thật thà, chúng ta tránh nói sốc, tránh làm tổn thương người khác như nói móc, nói kèo trên. Cũng đừng khoe khoang, nhưng nên nói về kinh nghiệm ơn phước Chúa ban để gây dựng lẫn nhau.

Một khi Hội Thánh ngày nay noi gương Hội thánh Đầu tiên tổ chức những bửa tiệc yêu thương như vậy, thì nhiều người sẽ được thu hút đến với Chúa. Như mạng lịnh của Chúa từng phán rằng: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.  Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.” Giăng 13:34-35.

images (10)

III.ĂN CHUNG VỚI NHAU QUA TIỆC THÁNH (I Cơr 11:17-34)

Khi Chúa Giê-su thiết lập Tiệc Thánh Đầu tiên trên phòng cao, thì Ngài phán rằng: “Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”. Tiệc Thánh thực hiện sau bửa tiệc Yêu Thương. Vì vậy, mục đích Tiệc Thánh không phải là bửa tiệc thông thường để chúng ta ăn uống cho no, nhưng luôn luôn là buổi lễ mang hình bóng tưởng nhớ Đấng Thánh đã hy sinh chịu chết thay cho tội lỗi chúng ta.

Kinh thánh chép: “Đức Chúa Giê-su lấy bánh tạ ơn, bẻ ra, phân phát cho môn đồ mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta. Ngài lấy chén trao cho môn đồ mà phán rằng: Này là huyết ta, huyết của giao ước mới đã đổ ra cho nhiều người đuợc tha tội; hãy làm điều nầy để nhớ ta” .

Kinh Thánh bày tỏ Chúng ta ăn chung với nhau trong Tiệc Thánh là: “Ăn bánh, uống chén của Chúa”

Chúa Giê-su khao khát mối tương giao với chúng ta qua bửa ăn gia đình. Ngài phán: “Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta”.(Khải huyền 3:20). Ngài dùng hình ảnh thân thiết này để bày tỏ ý chỉ của Ngài là Ngài muốn bước vào ngự trị mãi mãi trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Bạn đã có Ngài trong cuộc đời mình chưa? Chúa Giê-su có hiện diện trong bửa cơm gia đình của Bạn hôm nay? Mạnh dạn lên Bạn, hãy mời Chúa vào như lời Ngài đã hứa. Amen.

Đăng bởi: nguoichanbay | 21/12/2012

HOÀNG TỬ NGỦ NGOÀI ĐƯỜNG

 
h

HOÀNG TỬ

NGỦ NGOÀI  ĐƯỜNG
 
Trong lịch sử Anh Quốc có đề cập đến Nữ Hoàng Mary Đệ Nhị, như là một người kém đạo đức. Một câu chuyện chứng minh điều ấy là khi những người nô lệ đói khổ, đau đớn vì con họ chết đói và lạnh lẽo, họ đã kéo đến trước lâu đài của Nữ Hoàng mà than khóc. Bà hỏi:
-“Bọn đó làm gì mà la ó om sòm vậỷ” Cận thần trã lời rằng:
-“Dạ, tâu Nữ Hoàng, tại họ không có bánh mì để ăn!” Nghe thế, bà nói:
-“Nếu không có bánh mì để ăn thì ăn bánh bông lan. Có gì đâu mà la lối!”
 
Thật là một câu nói vô cảm. Bà sống trong vàng son và nhung lụa, quá dư thừa cao lương mỹ vị, đâu có cảm thông cái đói, cái thiếu của người nghèo và của người nô lệ: Khi họ “không có bánh mì để ăn” có nghĩa là họ đang bị đói, như Người Việt chúng ta thường nói: “Nhà tui hết gạo rồi!”
 
 
download (3)
 
            Ngày nay, Vương quốc Anh có Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị cai trị. Bà đã già nua, và Hoàng gia Anh chuẩn bị người thừa kế ngai vị có thể là Thái Tử Charler, con trưởng hay Hoàng tử William là cháu nộị. Mấy hôm trước đây (ngày 23/12/2009) Báo chí Anh Quốc và Mạng Lưới Thông tin Toàn cầu Internet đã đưa tin: “Hoàng tử William đã ngủ ngoài đường”. Thật ra, Hoàng tử William đã trãi qua một đêm chịu giá lạnh với những người nghèo khổ (homeless). Hoàng tử William đã nằm trên những thùng giấy trên hè phố của một con đường nhỏ tại Thành Phố Luân Đôn. Theo lời bình luận, Hoàng tử làm như vậy là để cảm thông sự nghèo khổ của người dân. Điều ấy sẽ giúp cho đạo đức của một Hoàng đế sau nầỵ.
 
 
Theo AFP trích dẫn báo cáo của Anh quốc công bố đầu năm 2009, cho biết có khoảng 4.500 người ngủ đêm trên đường phố Luân đôn. Thật là thú vị khi đọc những hàng tin này trong dịp Lễ Giáng sinh, vì sự kiện Lễ Giáng sinh không chỉ phổ quát trong một Nước Anh mà là đại lễ kỷ niệm rộng khắp cho toàn thế giới, không chỉ là Hoàng tử của một quốc gia nhưng là Hoàng Tử của Thiên Quốc. Chúa Giê-su – Hoàng Tử của Thiên Quốc -Người không chỉ “xuống đường” một đêm cùng với người nghèo khổ nhưng đã “xuống đời” bằng cả cuộc đời hy sinh cho mỗi con người cô đơn và đau khổ.
 
images (5)
images (6)
 
 
 
 
            Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thành phố đẹp tiêu biểu của Miền Đông Hoa Kỳ. Mùa đông thi thoảng có tuyết rơi, tuy không nhiều như những tiểu bang khác. Tuyết rơi là một sự kiện được yêu thích trong Cộng đồng chúng tạ. Bạn có thích thú nhìn ngắm tuyết rơi qua lớp kính trong suốt, khi ngồi bên tách trà hay ly cà phê nồng ấm từ ngôi nhà hạnh phúc của mình? Nhiều người trong chúng ta có cái sở thích chính đáng nầy. Tôi cũng vậy và cho đến khi . . . trong dịp Lễ Giáng sinh vừa qua, tôi gặp một thanh niên làm việc trong một cơ quan thiện nguyện của Thành phố. Anh cho tôi biết: “Trong Quận Mecklenburg, Tiểu Bang North Carolina có khoảng trên 100 gia đình mùa đông nầy nhà họ không có lò sưởi hay là máy sưởi ấm (hit)”.
 
images (4)
 
Tôi miên man suy nghĩ. Họ phải sống như thế nào khi trãi qua cả mùa đông giá lạnh nầỷ Chúng ta có cảm thông những người thiếu thốn nầy không? Chúng ta sẽ làm gì cho họ? Lại nữa, chung quanh chúng ta có bao nhiêu cuộc đời đang cô đơn, thường xuyên mang trong lòng một tâm tư lạnh giá. Cô độc giữa chốn đông người hay đơn chiếc vì con cháu đi xa hoặc không còn một người thân nương tựa thăm hỏi! Dù không là cuồng phong, bão táp, nhưng trong thinh lặng sự cô đơn là cơn lốc vô hình trong lòng người, đầy cuồng nộ, vốn dĩ đã dữ dội sẽ càng dữ dội hơn trong mùa đông giá rét của cuộc đời bóng xế tha hương. Bạn ơi! Hãy “xuống đường” không phải để ngủ, nhưng hãy “vào đời” và hành động, dù rằng đó chỉ là một nghĩa cử nhỏ nhoi gói ghém cả tình người.
 
 

Chua GS (81)

 

 
Đăng bởi: nguoichanbay | 21/12/2012

Các Cấp Độ Quan Phòng của Đức Chúa Trời (tt)

CĐỘ HAI: 

  1.  ĐỨC CHÚA TRI QUAN PHÒNG

  2. LIÊN TC

        TRÊN LOÀI THỌ TẠO    

QUA  ĐỊNH  LUẬT TỰ NHIÊN    

472461311_95e27891fe

      

            Sau khi sáng tạo vũ trụ, Ðức Chúa Trời tiếp tục chăm sóc công trình sáng tạo của Ngài qua các tiến trình Ngài đã thiết lập tiềm ẩn trong tạo vật, có thể gọi nôm na là Những Ðịnh Luật Thiên Nhiên.

Nói một cách khác, tạo vật tự thân đã thụ tạo bởi quyền năng Ðức Chúa Trời và tự sinh sôi nẩy nở và lưu truyền sự sống đã được phú bẩm ấy, một cách tự nhiên, tuần tự và ngăn nắp. Ðức Chúa Trời đã dùng các tiến trình đó để tiếp tục bày tỏ sự quan tâm chăm sóc của Ngài trên tạo vật. Như  Kinh thánh bày tỏ:

-Ngài định giới hạn cho biển  (Gióp 38:10-11)

-Ngài định luật lệ cho thời tiết (Gióp 28:26)

-Ngài dựng nên gió (Amốt 4:13)

-Ngài dẫn đường cho các loài thú (Gióp 39:26)

-Ngài chăm sóc nuôi nấng chúng (Thi 104:11,21)

Tuy nhiên, quan niệm này không thể hiểu lệch lạc  như chủ trương của Phiếm Thần Thuyết đã đồng nhất hóa Ðức Chúa Trời với công trình sáng tạo của Ngài.  Hoặc giả, chúng ta hiểu sai Thánh Kinh mà quyết đoán rằng Các Ðịnh luật ấy tác động độc lập với Ðức Chúa Trời, để rồi  thi thoảng Ðức Chúa Trời mới đình hoãn qui luật của thiên nhiên nếu điều đó phù hợp với các chủ đích của Ngài.

Qua Thánh Kinh, chúng ta nhận biết rằng trong tạo vật đã có năng lực và sự sống tiềm ẩn tiếp tục tự hoạt động, song chúng vẫn luôn luôn lệ thuộc vào sự chăm sóc của Ðức Chúa Trời.

Ở cấp độ này , “Ðức Chúa Trời ban mưa cho người công bình lẫn kẻ bất nghĩa”. Ngay trong cái bình thường này vẫn có một ý nghĩa về phương diện thần học, tức là qua đó Ðức Chúa Trời vẫn  hành động để đưa người ta đến chổ ăn năn, nhằm phục hồi mối thông công với Ngài (*8)

Thật vậy, cái gọi là định luật tự nhiên mà tạo vật tuỳ thuộc vào là một mặc khải về lòng thiện hảo, đặc biệt là lòng nhân từ và nhịn nhục của Ðức Chúa Trời.

Rôma 2:4 “ Hay là ngươi khinh dể sự dư dật của lòng nhân từ, nhịn nhục, khoan dung Ngài, mà không nhận biết lòng nhân từ của Ðức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn sao?”

            II Phierơ 3:9 “ Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.”

            Người Việt chúng ta phân tích sự nhân từ và công chính của Thượng Ðế rất hay. Tỉ như:

-        Trời cho sống giàu sang, nghèo hèn khác nhau. Khi chết rồi Trời công bằng vì mổi người chỉ có “ba tấc đất” ( ý nói phần mộ giống nhau).

-        Nghỉ cũng lạ, theo qui luật công bằng thì cây lớn sanh trái lớn , cây nhỏ sanh trái nhỏ. Nhưng nếu cây mù u, cây sao có trái to thì sẽ như trái dưa trái bí. Mà nếu vậy, nó rớt thì chết chắc!?

-        Thật là trái qui luật khi nhìn thấy: Một con bò nâu ăn cỏ xanh và cho ra sửa màu trắng!!!

green

Cách đây không lâu, ( khoảng thập niên 80, tôi không nhớ chính xác nên không xác định thời gian) Nhà Thiên Văn  HALLEY  đã phát hiện một thiên thạch đang di chuyển thật nhanh và kéo theo sau vệt ánh sáng màu tím. Theo quan sát của Halley thì thiên thạch này rất lớn và đang bay đến với một vận tốc rất nhanh. Theo tính tóan đường bay của nó, thì nó chắc chắn sẽ đụng vào địa cầu trong thời gian ngắn và hậu quả không thể nào lường được!? Phát hiện đó khiến cho các nhà khoa học điên đầu, họ tìm nhiều phương cách cứu nguy cho trái đất, thậm chí đã nghĩ đến việc phóng một hỏa tiển có đầu đạn hạt nhân để cho nổ ngoài quỹ đạo trái đất… Cả thế giới nghẹt thở. Có lẽ nhiều người cầu nguyện và nghĩ rằng đã đến ngày tận thế.?! Nhưng rồi một thông báo từ đài thiên văn, báo rằng theo quan sát mới nhất thì lạ lùng thay đường bay của thiên thạch đã đột ngột xoay hướng, và hướng bay đó không làm ảnh hưởng đến trái đất.

Nhiều người nghĩ rằng đó là do sự can thiệp của Chúa để trì hoãn thời gian cho nhân loại ăn năn kịp thì giờ cứu rỗi (II Phierơ 3:9 “ Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.”)

            Thật vậy, mặc dù Ðức Chúa Trời đã tạo dựng tạo vật và ban cho những định luật tiềm ẩn trong nó, nhưng trong sự vận hành nó vẫn lệ thuộc vào Ðức Chúa Trời vì chính Ngài quan phòng tạo vật và trong mối tương quan ấy, chúng ta nhận biết rõ ràng rằng Chúa yêu thương chúng ta, chứ không ngoảnh mặt xoay lưng phía chúng ta.

Bernard Ramm đã giải thích :” Trong tiến trình của thời gian, Thánh Linh tác động khắp cỏi thiên nhiên khiến cho mạng lịnh của Ðức Chúa Trời được thực hiện đầy trọn. Các định luật thiên nhiên dưới quyền điều khiển của Ðức Thánh Linh tác động trên một giai đoạn của thời gian và qua những tiến trình nhằm thực hiện kế hoạch của Ðức Chúa Trời.” ( Christian View of Science and Scipture, 1954, 116).

Nui (19)

Đăng bởi: nguoichanbay | 19/12/2012

Ðón Chúa Xuân

Ðón  Chúa  Xuân

images (4)

 

Kinh Thánh:
          “Này, Ta đứng bên ngòai gõ cửa,
          nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa ra,
          Ta sẽ vào thăm, ăn tối với người,
          chỉ người với Ta.”
                                        Khải huyền 3:20
 

   Trong Văn hóa Việt nam, mối liên hệ với người xung quanh rất quan trọng đối với Người Việt chúng ta. Một khía cạnh đặc biệt của Văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ thiêng liêng ấy, đó là “Ăn”.

Người Việt thường dùng từ “Ăn” trong các mối quan hệ của cuộc sống, như hôm nay chúng ta đang “ăn tết”.
  • Quan hệ sinh tồn: Ăn uống, ăn ngủ, ăn mặc, làm ăn…
  • Quan hệ xã hội : ăn tiệc, ăn đám, ăn chơi, , ăn nói, ăn trên ngồi trước. Ăn mừng nhà mới, ăn mừng thi đậu, ăn mừng sinh con trai…
  • Quan hệ xấu: ăn gian, ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp, ăn giựt, ăn quỵt…
*  Cuộc sống khổ sở như ăn xin, ăn mày, ăn nhờ ở đậu.
   
         Tôi xin đố các bạn trè một câu đố vui vui liên quan đến “cái ăn” của Người Việt  chúng ta: Ăn cái gì ngon nhất, ăn cái gì đau nhất, ăn cái gì dễ nhất và ăn cái gì khó nhất? ( Ðể thính giả trã lời). Phải rồi! Ngon nhất là ăn vụng, đau nhất là ăn đòn, dễ nhất là ăn cơm sườn, và khó nhất là ăn năn.
 
         Trong Văn hóa Việt nam, mối liên hệ với người xung quanh rất quan trọng đối với Người Việt. Mối quan hệ giữa vợ với chồng, cha mẹ và con cái, giữa ông bà cùng con cháu, giữa anh chị em với nhau, giữa bạn bè, láng giềng, trong công sở hay tình làng nghĩa xóm. Tùy theo mối liên hệ thân hay sơ, thâm giao hay hời hợt, nói lên giá trị tình nghĩa của con người. Khi mối quan hệ ấy gãy đổ, mất mát thì con người cảm thấy cô đơn, hụt hẩn và bất an trong cuộc sống.
 
          Mối quan hệ Vợ chồng , hay cha mẹ và con cái thường hay được suy nghĩ đến nhiều nhất trong các dịp Tết Cổ truyền. Mọi người mong ước sum họp. Vợ chồng sum họp. Cha mẹ mong con cái trở về từ phương xa. Gia đình đoàn tụ sum họp một nhà… Trong niềm mong ước đó, đã có nhiều gia đình, nhiều cuộc đời đã bị hụt hẩn, thiếu vắng người thân. Ðiều ấy đưa đến sự cảm nhận sâu xa một nổi niềm cô đơn, trống vắng…Ðã có nhiều người cảm thấy một thiếu thốn rất lớn trong tâm hồn mình, đến nổi :”ăn không ngon, ngủ không yên”.
          Thật ra, đây không phải là nổi niềm trống vắng “của một số người,” mà là “của tòan thể nhân loại”. Cho dù  có những người tưởng chừng như cuộc sống quá đầy đủ mọi sự về tình cảm, tiền bạc hay công danh sự nghiệp, thì trong một thời điểm nào đó vẫn cảm thấy thiếu vắng, hụt hẩn trong tâm hồn mình.Ðây là một thưc trạng không thể chối cải được.
 
         Kinh thánh chép “ Vì mọi người đều đã phạm tội, hụt mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời” (Rôma 3:23)  Lời Chúa cho biết nguyên nhân chính là vì con người phạm tội nên đời sống bị hụt hẩn, trống vắng. Và hụt hẩn trống vắng lớn nhất của con người đó là chính Ðức Chúa Trời, Ðấng tạo dựng nên con người.  Con người sẽ không bao giờ cảm thấy đầy trọn, an tâm và thỏa lòng, nếu chưa có sự hiện diện của Ðức Chúa Trời trong lòng mình.
         Ðể đáp ứng nhu cầu đó, Ðức Chúa Giêxu từ thiên đàng vinh hiển đã đến trong thế gian tội lỗi này để thiết lập mối quan hệ mật thiết với mỗi cuộc đời chúng ta. Ngài phán:”Này Ta đứng ngòai cửa mà gỏ, nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bửa tối với người và người với ta””(Khải 3:20).
         Chúa muốn thiết lập mối tương giao với chúng ta, Ngài phán ”Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bửa tối với người”. Ðây là sự sum họp cần thiết nhất của con người. Ðây là hình ảnh “bữa ăn” thân mật của mái gia đình hạnh phúc. Vì tội lỗi đã làm cho chúng ta từ lâu xa cách Chúa. Giữa chúng ta và Chúa có một bức tường vô hình ngăn cách, làm cho chúng ta không nhận biết Chúa là Chúa của cuộc đời chúng ta. Chúng ta kêu Trời mà không thấu, tìm kiếm Trời mà không gặp. Mặc dầu, tự trong thâm tâm chúng ta biết mình liên quan đến Trời rất nhiều, như Trời sanh, Trời nuôi, Trời cho, Trời ban phước. Ðôi khi Trời phạt, Trời giáng họa. Cuối cùng, Tới số chầu Trời, Trời kêu ai nấy dạ. Chúng ta liên quan mật thiết với Ðức Chúa Trời, vì Ðức Chúa Trời là Thiên Thượng, chúng ta là Thiên Hạ.
 
          Nhưng tại sao chúng ta vẫn còn xa cách Chúa? Aáy là vì tội lỗi!  Kinh thánh chép: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Giêxu Christ, Chúa chúng ta” (Rôma 6:23). Tội lỗi đã hũy phá hạnh phúc con người, khiến con người sống trong đau khổ, buồn thãm và bất an. Con người đối diện với sự chết thân thể và sự chết đời đời của linh hồn mình trong hỏa ngục. Chính vì thế mà Chúa Cứu thế đã chịu chết trên thập tự giá thay thế tội lỗi chúng ta, để cứu chuộc và giải thóat chúng ta, như thánh kinh chép: “Ðức Chúa Giêxu Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy.” (II.Timôthê 1:15).
          Thánh kinh cũng hứa rằng : “Nhưng hễ ai tin nhận Ngài, thì Ngài  ban cho quyền phép để trở nên con Ðức Chúa Trời, là ban cho kẻ tin Danh Ngài.” (Giăng 1:12)  Ðức Chúa Giêxu muốn thiết lập mối liên hệ mật thiết với chúng ta như mái ấm gia đình, liên hệ bằng tình thương Cha và Con thiêng liêng trong bữa ăn thân mật, đầm ấm và hạnh phúc, khi Ngài phán: Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người và chỉ người với ta”.
          Hiện nay, Chúa Giêxu đang đứng bên ngòai tấm lòng các bạn, Ngài dùng lời Ngài đang rao giảng để gỏ cửa lòng các bạn. Các bạn có bằng lòng mở rộng tấm lòng để mời Chúa vào cuộc đời mình không? Vì Chúa là Ðấng Thiêng liêng, vô hình, và tấm lòng của bạn cũng vô hình. Như vậy. Hãy mời Ðấng Vô hình nhưng thực hữu ( nghĩa là Ngài có thật ) mà chúng ta không thể thấy, Chúa bước vào tấm lòng vô hình, không thấy được của chúng ta. Sự hiện diện của Ngài chắc chắn sẽ làm đầy trọn sự trống vắng, khõa lấp sự thiếu hụt của tâm hồn mổi chúng ta trong cuộc đời này.
 
         Một câu kinh thánh trong sách Nhãca đã ghi lại hình ảnh Chúa Cứu Thế như một Người Yêu Cao Thượng tìm đến chúng ta là Người Yêu Dấu của Ngài. Với tình yêu thương trọn vẹn,Chúa đứng ngoài cửa lòng chúng ta, đầu tóc Ngài ướt đẫm những giọt sương đêm, Ngài gọi tha thiết để mong chúng ta đáp lời:
                 
                 “Chập chờn giấc ngủ cô miên,
          Giật mình nghe gỏ bên hiên cửa ngòai,
                    Tiếng người yêu gọi: em ơi!
          Hỡi em yêu dấu, hỡi người tình chung,
                    Xin em mau mở cửa phòng,
          Cả người ướt đẫm vì sương ngập trời.”
                                                  (Nhã ca 5:2)
 
          Chúa Yêu Thương đang chờ đợi bạn. Ngài tôn trọng sự tự do của bạn, nhưng Ngài mong ước bạn quyết định mỡ rộng tấm lòng mình mời Chúa bước vào. Hãy thiết lập mối quan hệ mật thiết với Ngài, bằng cách tin nhận Chúa Cứu thế. Bạn hãy ăn năn tội lỗi và tiếp nhận Chúa làm Chủ cuộc đời mình như hằng triệu triệu người đã tin. Bạn sẽ trở nên Con của Ngài như lời Ngài hứa. Chúc bạn Ðón Nhận một Mùa Xuân ý nghĩa nhất cho cuộc đời mình, bắt đầu từ hôm nay.
 
 
1296488564
Đăng bởi: nguoichanbay | 19/12/2012

Thơ – Xuân Tím

th_butterfly001

Thơ

 Xuân Tím

hoa 97

Trên đất khách, chiều nay xuân chợt đến
Chập chờn trong du mộng bước tha hương.
Khung trời tím, nụ tầm xuân bẽn lẽn
Dáng mai gầy run rẫy gió sau vườn.
 
Xuân viễn xứ thiếu âm buồn tí tách
Bếp than hồng xưa thơm ngát bánh chưng.
Ðêm giao thừa thiếu mùi hương của nếp,
Của tình làng, nghĩa xóm đượm tình thương.
 
Xuân thật đến hay chỉ là tâm thức ?
Thoáng hiện về trong ký ức xa xôi !
Xuân hiện hữu, mà sao lòng ray rức ?
Cơ hồ như xa lắc, tận phương trời !
 
Gió tàn đông kéo rét quằng lối phố !
Lạnh thấu hồn lữ khách bước ly hương.
Xuân đất mẹ, có làm em thương nhớ ?
Mối tình quê, ta hành lý dặm trường.
 
Bạc đầu xanh, đếm xuân sang bỡ ngỡ
Ðã bao lần mong ước được đoàn viên ?
Xuân đoàn tụ, cười vui như pháo nổ,
Sao xót xa! Giờ vẫn nhuốm muộn phiền !?
 
Xuân chợt đến và chợt đi vội vã,
Cây cỏ cười, bổng chợt khóc sau lưng.
Xuân lang bạt xứ người, thân cô lữ
Tím cuộc đời ! Ôi ! tím cả chiều xuân.
 
Phan Du  Muc
Xuân Nhâm Thìn – 01-2012

3944690706_86d34e1199

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/01/2012

 

Nhân dp đón Xuân Nhâm Thìn,

“Người Chăn By” chân thành tri ân Quý Bn Đc gn xa

đã cu thay và ng h chc v và gia đình chúng tôi trong nhng ngày qua.

 

Xin kính chúc Quý Bn Đc cùng Bu Quyến

Mt Năm Mi Phước hnh

trong s nhân t bn vng ca Chúa chúng ta.

 

Mc sư Nguyn Văn Đi và Gia đình.

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/01/2012

Một Góc Đời Thường

Một Góc Đời Thường

Trong bất cứ huyền thoại nào cũng đều có những mãnh vụn của sự thật.

ĂN TẾT SỚM !

 

Có tiếng gỏ cửa. Tôi đang ngồi soạn bài nên Nhà tôi ra đón khách. Rồi tiếng của nhà tôi từ phòng khách vọng vào:

Có Bà Tư qua thăm mình, anh ơi!

Nghe có Bà Tư đến thăm thì tôi hơi ngạc nhiên, còn các con tôi thì chạy ùa ra mừng rỡ. Chúng nó rất thương mến bà Tư. Bà là một tín hữu nghèo trong Hội Thánh ven đô, nơi trước đây chúng tôi đã phục vụ.

Không biết bà Tư qua thăm chúng tôi hay có việc gì quan trọng không!?

Tôi quan tâm và hỏi, nhưng bà Tư không trả lời ngay. Bà điềm đạm ngồi xuống ghế, rồi lấy từ trong chiếc giỏ đệm ra, nào là xâu thịt khoảng hai ký lô, hai chục trứng vịt và một chùm nho đâu khoảng một ký, gì đó. Bà tươi cười nói:

Tui cho mấy cháu mấy trái nho và biếu ông bà mục sư nồi thịt kho ăn lấy thảo. Tui nhớ ông mục sư thích ăn “thịt kho tàu” mà, phải không?

Nhưng hôm nay là tháng sáu, chớ đâu phải Tết! Sao Bà Tư cho ăn Tết sớm vậy?

Chúng tôi cùng cười. Tôi tiếp:

Bà Tư qua thăm là được rồi, sao mua sắm làm chi cho tốn tiền. . . trong lúc gia đình . . .

Tôi định nói thêm là gia đình bà Tư nghèo, có nhiều khó khăn, không cần phải làm điều đó. Nhưng bà Tư nói ngay:

Mục sư ơi! Tui vừa mới bán được miếng đất bên hông nhà, chổ trồng cây xoài đó, mục sư nhớ hông? Cám ơn Chúa đã tiếp trợ cho gia đình tui. Còn món quà nầy là điều tui ao ước từ lâu. . . mà đến nay mới làm được. Mục sư nhận cho tui vui. Tui không bao giờ quên ơn của mục sư giúp đỡ gia đình tui trong lúc thiếu thốn trước đây. . .

Đêm hôm ấy, tôi tạ ơn Chúa, vì có những mùa gặt đến chậm, nhưng bát ngát hương lúa thiêng liêng của tình người.

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/01/2012

Thơ Xuân

Xuân Nhớ Nhà

 Thơ của Đại Phúc đi du học  Hoa Kỳ gửi về.
 
 
Má ở bên nhà có biết không?
Nắng xuân không ấm tận trong lòng
Hai mùa mai nở nghe man mác,
Có lẽ giờ này má nhớ mong?!
 
Xuân đã về rồi Ba thấy chăng ?
Khúc nhạc  “Chiều Tím” vui chi bằng,
Mưa đêm lác đác nơi đất khách,
Chẳng ấm lòng con nỗi cách ngăn.
 
Có phải giờ này mai nở tươi,
Út Cưng náo nức mỉm môi cười?
“Hai ông anh lớn này hư thiệt!”
Mong cho Bé Lộc sớm nên người.
 
Này nhé, xuân về xuân sẽ phai!
Dăm xuân chưa chắc hẳn là dài,
Rồi đây mái nhà ta sum họp,
Cùng Chúa huy hoàng đẹp lắm thay!
 
 
Ðại Nghĩa Ðại Phúc
California. Xuân Canh Thìn 2000.
 

XUÂN NHỚ CON.

Họa vận bài thơ Xuân Nhớ Nhà của Lưỡng Quảng.
 
 
Má ở bên nhà nhớ các con
Nắng xuân xao xuyến tận tâm hồn
Hai mùa mai nở, đầu xanh bạc
Tha thiết nguyện cầu luôn sớm hôm.
 
Xuân đã về rồi, ba thấy đâu?!
Cà-phê “Chiều Tím”, ánh xuân sầu
Nhạc khúc “Cali…” năm nghệ sỹ.
Vắng khách. Mình ba…  chẳng dám vào!
 
Ừ thôi! Mai mốt các con về
Sum họp, tâm tình… tách cà phê
Xuân ấy tràn trề bao ý nghĩa
Trung hiếu vẹn toàn mãnh tình quê.
 
Bên ấy vào xuân mưa có rơi
Hoa mai đua nở, ngát hương đời?
Thắm đượm tình quê Người Ðất Việt
Hiến thân phụng vụ Chúa Muôn Ðời.
 
Ừm hm! Xuân nào xuân chẳng phai?
Dăm ba xuân nữa… đâu là dài!
Nghĩ đến gia đình ngày sum họp
Cười như pháo tết… Phúc Thiên Ðài.
 
 
Thương tặng Ðại Nghĩa Ðại Phúc.
Các con thương yêu của Ba Má.
 
Phan Du Mục
 
 
Hai mươi ba tháng chạp năm Kỷ Mão.
Vọng xuân Canh Thìn 2000
 

CẤP ĐỘ MỘT:    

ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT  

VỚI CHỦ ĐÍCH  LÀ  YÊU THƯƠNG.

Vũ trụ và chúng ta là Kiệt tác của Nhà Danh Hoạ Tài Hoa – Đức Chúa Trời.

            Dầu vậy, Thí dụ nào cũng phiến diện. Cóthể hiểu cách hạn hẹp, Hoạ sĩ bình thường trong nghệ thuật vẫn phải chịu chi phối của chất liệu màu sắc, vải bố hoặc bút cọ để có thể làm phương tiện diễn đạt ý tưởng nghệ thuật mình để tạo thành tác phẩm, nhưng  như đã đề cập ở trên, người viết mong chúng ta hiểu trong  phạm trù nhỏ hẹp của thí dụ phải được hiểu  trên phương diện  nghệ thuật mà thôi. Có nghĩa là từ trước chưa có tác phẩm nào như thế và rồi từ mãng vãi trắng tinh, trống không, tác phẫm sáng tạo với bàn tay khéo léo của Họa sĩ  thì những gam màu rực rỡ của sự  sống lần lượt hiện ra  và hình thành tác phẫm vũ trụ trên khung hình sáng tạo thần kỳ.

            Đức Chúa Trời  Sáng Tạo  cũng chính là Đức Chúa Trời của Sự Quan Phòng  trong Mối Liên Hệ mật thiết trên Tạo Vật của mình.

 

            Mối liên hệ mật thiết ấy là một tiến trình. Có Ba Cấp Độ khác nhau.

 

 II. CẤP ĐỘ MỘT:    ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT   VỚI CHỦ ĐÍCH  LÀ  YÊU THƯƠNG.

            Mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo là nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời:“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ cơng việc tay Ngài làm. Ngày này giảng cho ngày kia, đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; cũng không ai nghe tiếng của chúng nó”.( Thi thiên 19:1-3 

            Mục đích tiếp theo của sự sáng tạo là dành cho Con Người. Ngài dựng nên vũ trụ dành cho chúng ta. Chân lý đã đã phơi bày rõ ràng trong tiến trình sáng tạo khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên vũ trụ, muôn loài vạn vật bằng lời phán, nhưng Ngài đã đích thân và trực tiếp dựng nên Con Người như ảnh tượng Ngài với đặc quyền “quản trị” mọi loài ấy. Con người chính là Hoàng tử và Công Chúa của Cung Điện Sáng tạo vậy.

            Trong Tân ước, Đức Chúa Giêxu khai mở cho chúng ta chân lý ấy trong câu chuyện Người Con Trai hoang đàng. Người Cha đã yêu thương Đứa con hoang đàng và cũng thật yêu thương Người Con Trai Cả khi nói rằng: “Tất cả của cha là của con” (Luca 15:31) Đặc quyền “quản trị”  nói lên mục đích sáng tạo của Đức Chúa Trời đối với Con người là Ngài dành tất cả mọi sự cho chúng ta, là con của Ngài ( Rôma 8: 32: Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao.)

            Edmond Jacob đã  nói: “Đức Chúa Trời  sáng tạo thế gian vì Giao Ước, nghĩa là vì kế hoạch yêu thương và cứu rỗi con người thông qua Dân Ysơraên. Người Nam và người Nữ là tạo vật thượng đẳng, qua họ mà các chủ đích của Đức Chúa Trời được biết đến.”(Jacob, 137) (*5)

            Như vậy,  Mối Tương giao giữa Đức Chúa Trời trong thân vị Đấng Sáng Tạo  và  Mối liên hệ với Tạo vật của Ngài phải được duy trì liên tục mới thích hợp với bản tánh cao quí của Ngài.

            Nhưng vấn đề được đặt ra  có phải là Đức Chúa Trời đã hoàn thành công cuộc sáng tạo cách tuyệt vời và hoàn mỹ “một lần đủ cả” rồi thôi !? – như những người theo Thuyết  Duy Thần (Deists) đã chủ trương rằng sau khi hoàn tất công cuộc sáng tạo Đức Chúa Trời đã xoay mặt đi với tạo vật của Ngài, như chúng tôi đã đề cập ở phần dẫn nhập. Vấn đề không dừng lại một cách đột ngột, phủ phàng và bất hợp lý  như vậy đối với một Đức Chúa Trời Toàn Tri và bản tánh vô hạn của Ngài được! Đức Chúa Trời đã không quay mặt  khỏi công  cuộc sáng tạo, mà trái lại Ngài quay mặt hướng về tạo vật Ngài cách liên tục.

            Chúng ta suy nghĩ đến  từ ngữ “nghỉ” trong  Sáng thế ký 2:1-3

“Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi Ngài ban phuớc cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã dựng nên  và đã làm xong rồi”.

            Từ ngữ “Sabát” không xuất hiện trong phân đoạn này, nhưng Môi se viết về ngày sabát, ngày thứ bảy của tuần lễ, trong ý niệm Hi bá rất rõ.

            “Ngày thứ bảy” nhóm từ này được đề cập ba lần trong câu 2 và 3. Chữ sabát có căn tự Hêbơrơ là [Shabbat] nghĩa là “ngưng làm việc, nghỉ ngơi

            Ngày Sabat đầu tiên  (2:1-4)  xảy ra không phải vì Ðức Chúa Trời mệt mỏi bởi công việc sáng tạo của Ngài,   bởi vì “Ðức Chúa Trời là Ðấng không hề mệt mỏi”(Êsai 40:28).

            Ðức Chúa Trời biệt riêng ngày thứ bảy vì sự sáng tạo của Ngài đã hoàn tất và Ngài hài lòng với công việc đã làm. “Ðức Chúa Trời thấy các công việc Ngài đã làm thật rất tốt lành”(1:31).

            Có điều đặc trưng về ngày nghỉ, ngày thứ bảy của tuần lễ sáng tạo.

a)Thứ nhất, không có sự đề cập nào về “buổi chiều và buổi mai”, từ đó sự nghỉ ngơi của Ðức Chúa Trời  sẽ không có kết thúc . Tiếc thay, tội lỗi của loài người đã làm gián đoạn sự nghỉ ngơi của Ðức Chúa Trời. Ngài đã đến với Adam và Êva (Sáng 3:8-9), đã đến với nhân loại và Ngài tiếp tục làm việc để thực hiện sự cứu giúp con  người, dù trong ngày sabat.  Tân ước dẫn chứng rằng, Chúa Giêxu đã xác nhận điều đó qua mục vụ của Ngài khi chữa bệnh cứu người trong ngày sabat:

      “Tức thì người ấy được chữa lành, vác giường mình mà đi. Vã, bấy giờ là  ngày sabat” ; “nhưng Ngài phán cùng họ rằng : Cha ta làm việc cho đến  bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy”(Giăng 5:9, 17)

       Cho nên , Henry H. Halley tác gỉa Thánh Kinh Lược khảo đã luận rằng: “Ðức Chúa Trời yên nghỉ không phải là yên nghỉ tuyệt đối (Giăng 5:17) nhưng chỉ nghỉ ngơi sau công trình sáng tạo đặc biệt này thôi(* 6).

b)Thứ nhì, một sự quan tâm khác của Ðức Chúa Trời thể hiện rằng, không có ghi chép nào cho thấy Ngài ban phước bất kỳ ngày nào trong sáu ngày kia, nhưng Ngài đã ban phước cho ngày thứ bảy (Sáng 2:3). Khi ban phước cho ngày đó Ngài biến nó thành một phước hạnh cho con người trong cuộc sống. Điều đó cho thấy Đức Chúa Trời luôn yêu thương và giữ mối quan hệ mật thiết với con người.

 c)Thứ ba, khi ban phước cho ngày thứ bảy, Ðức Chúa Trời thánh hóa ngày ấy

(Sáng 2:3) nghĩa là  tiếp tục hành động từ lòng yêu thương con người, Ngài hành động cách đặc biệt khi “sáng tạo” (làm nên) lấy ngày nghỉ làm nên ngày thánh. Ngài biệt riêng ngày ấy vì những mục đích đặc biệt của Ngài.

            Nhà Giải Kinh  Warren W.Wietsbe đã luận rằng: “Giêhôva là Ðức Chúa Trời của thời gian cũng là Chúa của sự vĩnh hằng. Chính Ngài là Ðấng đã tạo nên thời gian và thiết lập sự vận hành của các tinh tú cùng quỹ đạo chung quanh mặt trời. Chính Ngài là Ðấng đánh dấu tuần lễ bảy ngày và biệt riêng một ngày cho chính Ngài”(*7)

            Còn hơn thế nữa, Mối tương quan mật thiết  giữa Đấng Sáng Tạo và Nhân Loại cũng thể hiện trong sự thăm viếng thường xuyên của Đức Chúa Trời đối với Ađam và Êva. Kinh thánh  chép rằng: “Li chiu, nghe tiếng Giêhôva Đức Chúa Tri đi  ngang qua vườn, Ađam và vợ n mình gia bi cây, đ tránh  mt Giêhôva Đức Chúa Tri.”(Sáng 3:8 ).

            Hình ảnh ấy bày tỏ cho chúng ta biết về sự tương giao liên tục của Chúa đối với con người sau sự sáng tạo nguyên  thuỷ. Cho dù  con người đã đi theo ý riêng và phạm tội, và cho dù điều ấy đã huỷ phá sự tương giao mật thiết giữa Chúa và Con người.  Sáng thế ký 3:7-10 chép:

“7 Ðoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân . 8 Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.

 9 . Giê-hô-va Ðức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?

 10 A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình.”

 

            Mặc dù con người phạm tội thì Ðức Chúa Trời vẫn yêu thương. Ngài đã giết con thú lấy da làm áo che thân cho con người (Sáng 3:21) Hành động ấy hàm chứa chân lý cứu rỗi: “Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế” (Khải 13:8) làm hình bóng cho Chúa Cứu Thế chịu chết đền tội cho con người. Chúa vẫn yêu thương tạo vật của Ngài trong mối tương quan mật thiết cho dù đối tượng ấy ra sao, hay là có xứng đáng hay không?

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/10/2011

Quyền Năng THẬP TỰ GIÁ

BÀI GIẢNG BỒI LINH

Quyền Năng

THẬP TỰ GIÁ

 
Kinh Thánh: Ê-sai 53:1-12
Câu Nền Tảng: I Cơ-rinh-tơ 1:18
“Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Ðức Chúa Trời.”
Tựa:
Phao-lô là một Nhà Thần Học, một Triết gia và là một Nhà Hùng biện, đã không nói về tri thức hay diễn thuyết về sự khôn ngoan, nhưng ông nói dõng dạt rằng:
“Hỡi anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Ðức Chúa Trời.  Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Ðức Chúa Jêsus Christ, và Ðức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự. Chính tôi đã ở giữa anh em, bộ yếu đuối, sợ hãi, run rẩy lắm. Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép;  hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Ðức Chúa Trời. Trong những người cai quản đời nầy chẳng ai từng biết sự đó; bởi chưng, nếu đã biết thì họ chẳng đóng đinh Chúa vinh hiển trên cây thập tự đâu”
1 Cor. 2:1-8.
Khi đóng đinh Chúa Giê-su trên thập tự giá, thì những người gian ác chỉ nghĩ rằng họ chỉ xử tử một Nhà Chính trị hay một Lãnh tụ tôn giáo mới tại Giu-đê, người đã làm xáo trộn đời sống của họ. Họ hoàn toàn không biết rằng thập tự giá là một điều Đức Chúa Trời đòi hỏi trong chương trình cứu rỗi vĩ đại của Ngài:“không đổ huyết thì không có sự tha thứ (Hê-bơ-rơ 9:22); và họ lại càng không thể hiểu được chính Đức Chúa Giê-su, Ngôi Hai Đức Chúa Trời đã tình nguyện chịu chết trên thập tự giá, để thi hành sự cứu chuộc nhân loại, trong đó có tôi và ông bà anh chị em. Như Lời Chúa phán:
“ Hãy có đồng một tâm tình như Ðấng Christ đã có, Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự (Philip 2:5-8.)
 
 
I.ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ QUYỀN NĂNG QUA THẬP TỰ GIÁ.
 
1.Quan điểm của Nhân Loại: Thập Tự Giá là sự sĩ nhục, điên dại.
“Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Ðức Chúa Trời.” I Cơ-rinh-tơ 1:18
2.Quan điểm Đức Chúa Trời: Thập Tự Giá là quyền năng cứu rỗi.
 
“Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Ðức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, “Romans 1:16
 
 
 
II. ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ TÌNH YÊU TRÊN THẬP TỰ GIÁ.
 
1.Thập tự giá là Biểu tượng Tình yêu của Ðức Chúa Trời:
Nhưng Ðức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Ðấng Christ vì chúng ta chịu chết. Romans 5:8
2.Thập Tự Giá là biểu tượng sự hy sinh của Chúa Giê-su:
*Vì thế, Chúa Giê-su – Ðấng treo thân trên thập tự chính là Niềm tin của chúng ta.
“nhìn xem Ðức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Ðấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Ðức Chúa Trời” (Hebrews 12:2).
 
III.ĐỨC CHÚA GIÊ-SU GÁNH THAY HÌNH PHẠT CHÚNG TA TRÊN THẬP TỰ GIÁ.
1.Chúa Giê-su đã gánh thay sự hình phạt trên thập tự giá:
Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Ðức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê-sai  53:5-6 ).
2.Chúa Giê-su hoàn tất món nợ tội lỗi của chúng ta trên Thập Tự Giá.
Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Ðức Chúa Jêsus Christ (Roma 8:1 )
 
IV.ĐỨC CHÚA GIÊ-SU CHỊU ĐAU ĐỚN TRÊN THẬP TỰ GIÁ ĐỂ CHÚNG TA ĐƯỢC CHỮA LÀNH.
1.Chữa Lành đau đớn củaTâm Linh:
*Những tâm hồn phiền muộn, ưu tư:
“Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; Ê-sai 53:4
*Nên Ngài có thẩm quyền tuyên bố:
Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Mathiơ 11:28
Những Tấm Lòng tan vỡ .
Êsai 61:1 Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục;
Thi Thiên 51:10 10 Ðức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng.
2. Chữa lành bịnh tật của thân thể:
“Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, Ê-sai 53:4
Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Ê-sai 53:5
Căn cứ trên lời hứa nầy, ngày nay có nhiều Cơ-đốc nhân đã không dùng thuốc, dược liệu để trị bệnh. Và rất nhiều người được chữa lành bởi quyền năng của Chúa. Bởi vì, Chúa Giê-su của chúng ta “hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi” (Hê 13:8).
Tuy nhiên, chúng ta phải biết rằng quyền năng của Chúa cũng tùy thuộc vào “lượng đức tin” của chúng ta ( như Chúa nói “sao các ngươi ít đức tin”; “có đức tin như hạt cải. . .” ; “có đức tin lớn như người đàn bà nầy) để Ngài hành động.
Và sự chữa lành cũng tùy thuộc vào ý chỉ Ðức Chúa Trời và sự vinh hiển của Ngài.
 
Trong thời Chúa Giê-su, có nhiều người đau, bệnh và chết; nhưng không phải Ngài cứu chữa cho tất cả, nhưng chỉ cho những người “có đức tin” đến với Ngài mà thôi!
Hơn nữa, Chúa cũng muốn có “sự cộng tác của con người” khi thi hành sự chữa bệnh bởi quyền năng của Ngài. Ðó là sự tin cậy vâng lời và làm theo Lời Chúa. Như trường hợp Chúa chữa lành cho người Mù được đề cập trong Giăng 9:6-7 : “Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, và đem xức trên mắt người mù. 7 Ðoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ.”
 
Qua câu chuyện nầy, chúng ta nhận thấy quyền năng Chúa thật diệu kỳ. Ngài chữa lành cho một người mù từ lúc mới sinh ra. Tuy nhiên, cách chữa trị cho ta thấy Chúa dùng quyền năng, nhưng Chúa cũng dùng những vật chất để trị liệu, như “Nước miếng của Ngài hòa trộn thành bùn, và đem xức mắt người mù”. Chúa cũng muốn chúng ta phải sử dụng dược liệu, thuốc men để trị bệnh, ấy là tùy theo lượng đức tin của chúng ta. Và như thế, khi chúng ta trị bệnh theo cách ấy cũng phải tin rằng quyền năng của Chúa là vô hạn, Ngài chỉ phán một tiếng thì chúng ta được chữa lành. Dùng thuốc, theo tôi là học tập cách tin cậy vâng lời Chúa trong quyền năng chữa lành của Chúa.
Anh Chị Em đừng quá “thiêng liêng” chỉ có cầu nguyện mà không cần Y học. Các ngành khoa học nay được phát kiến từ sự khôn ngoan từ bộ óc con người, mà bộ óc đó do Ðức Chúa Trời tạo dựng ra. Dược thảo, thuốc men cũng từ Ðức Chúa Trời dựng nên. Chúng ta cảm tạ, nhận lãnh và sử dụng theo ơn Chúa cho để trị bịnh.
*Tôi có biết một Giáo sư của tôi, ông dạy môn Xã Hội Học. Ông bị đau nhiều ngày. Ông lấy đức tin cầu nguyện, không uống thuốc. Càng ngày ông càng bị đau trong bụng dữ dội hơn. Người nhà đưa ông vào bệnh viện. Bác sĩ khám và cho rằng đã trễ”. Ông bị đau ruột thừa, một căn bệnh dễ trị liệu, nhưng vì không khám bệnh và trị kịp thời, nên chổ ruột thừa bị vở. Chất dơ, bong mủ và làm hoại tử các phần khác của vùng bụng, nên không còn cứu được nữa. Ông đã chết một cách đáng tiếc!
 
KẾT LUẬN:
Quyền năng Thập tự giá không phải là một công cụ để trừ tà ma hay đuổi quỷ, mặc dù sự chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá có năng quyền tiêu diệt quyền lực của Sự chết và Âm Phủ cùng thế lực của Sa-tan.
“Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp. Nhưng, tạ ơn Ðức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta. 1 Cô-rinh-tô 15:55-57 .
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 26/10/2011

THAI GIÁO

KHẢO LUẬN
 
Chương 1.
 

CƠ ÐỐC GIÁO DỤC THAI NHI LÀ GÌ?

“Bàn tay Chúa đã làm tôi và nắn hình tôi.”

Thi Thiên 119:73

Mục sư Dietrich Bonhoeffer trong tác phẩm Ethics trình bày, “con người là một khối hữu thể, và cứ duy trì như thế vào trong thế giới vĩnh cữu. Thân thể và sức sống con người phụ thuộc lẫn nhau, không tách rời nhau. Do đó, thân thể bởi ý chỉ của Ðức Chúa Trời là hình dạng tồn tại của con người, được mang danh và gắn chặt suốt đời người.” Bởi đặc ân của Ðức Chúa Trời , con người đã, đang, và sẽ là tạo vật tuyệt đối trong vạn vật mà Ðức Chúa Trời khẳng định là tốt lành (Sáng Thế Ký 1:31). Trong quá trình sáng tạo, Ðức Chúa Trời đã ưu ái con người một cách đặc biệt qua phương thức sáng tạo của Ngài. Ðối với vạn vật, Chúa dùng uy quyền mà phán để mang muôn vật đến sự hiện hữu. Ðối với con người, Chúa qua lao động mà nắn và hà sinh khí để mang con người vào trong sự tồn tại. Chính vì thế, thân thể và sức sống con người chẳng những gắn chặt lẫn nhau, mà chắc chắn còn phụ thuộc trong ý chỉ thánh của Ðức Chúa Trời. Tác giả Thi Thiên 119 đã cụ thể hóa qua hình ảnh bàn tay Chúa đã làm và nắn nên hình hài mình. (Thi Thiên 119:73)
 
 
 
Trải bao chặn đường thế hệ, quá trình này cứ liên tục sáng tạo trong lòng nhân loại, mà chính Chúa là Ðấng quyết định hoạt động cấu thành. Cha mẹ, gia đình, xã hội… đều đóng vai trò quan trọng để nuôi lớn những mầm non mà Ðức Chúa Trời đã phú cho. Vì thế, việc quan tâm đến Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là cần thiết.
Ðể hiểu rõ Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là gì, trước nhất chúng ta cần tìm hiểu về Giáo Dục Thai Nhi.
 
 I. ÐỊNH NGHĨA GIÁO DỤC THAI NHI
 
 
Giáo Dục Thai Nhi còn được gọi là Thai Giáo. Theo Hán Việt Từ Ðiển do Nguyễn Quốc Hùng biên soạn, Thai Giáo có nghĩa là, “dạy con từ lúc con ở trong bụng mẹ.”
Trong tác phẩm Sức Khoẻ Tâm Lý Nhi Ðồng của Ðường Tuệ Linh và Từ Thanh Hán cũng định nghĩa tương tự.
 
II. ÐỊNH NGHĨA CƠ ÐỐC GIÁO DỤC THAI NHI
 
Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là phương pháp hướng dẫn các bậc phụ huynh của thai nhi, theo ý muốn Chúa qua lời Kinh Thánh, biết cách dạy con mình từ lúc con còn trong lòng mẹ.
Phương pháp này góp phần giáo dục một con người từ khi hình thành nhân dạng trong (bụng) lòng mẹ làm nền tảng cho Cơ đốc giáo dục đào tạo những con người phát triển nhân cách toàn diện và trở nên một Cơ đốc nhân trưởng thành trong gia đình Cơ Ðốc và Hội thánh Ðức Chúa Trời sau nầy .
Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi kiện toàn sự thiết hụt trong hệ thống Cơ Ðốc Giáo Dục hiện hành để giúp đở Các Tín nhân trong thiên chức làm cha làm mẹ. Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi trang bị cho những thanh niên có được kiến thức và phương pháp giáo dục con cái chuẩn bị cho một hôn nhân tốt đẹp trong Chúa. Cơ đốc giáo dục Thai nhi là một trong những vấn đề giáo dục dự bị hôn nhân, làm tiền đề đào tạo một thế hệ Cơ đốc nhân ưu tú cho Hội thánh Ðức Chúa Trời.
 
 
Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi căn cứ trên tính khoa học của Giáo Dục Thai Nhi là khẳng định rằng thai nhi có khả năng thụ giáo, để giáo dục Lời Chúa qua cha mẹ và những người chung quanh. Một số người thường nghĩ đơn giản rằng, chúng ta chỉ có thể dạy một đứa trẻ khi nó biết nói và có khả năng nhận thức. Họ còn cho rằng, thai nhi chẳng qua là một cơ thể sống nhưng chưa có ý thức, như một vật vô tri vô giác không có mối liên hệ với thế giới bên ngoài thì làm sao mà giáo dục được!? Nhưng trên thực tế, khoa học thực nghiệm đã xác định: thai nhi không những có thính giác, thị giác, khứu giác mà còn có cả trí nhớ và nó có thể trao đổi thông tin từ cơ thể người mẹ với thế giới bên ngoài. Nó có thể lắng nghe và chơi đùa cùng cha nó mặc dù chỉ là một thai nhi mà thôi.
Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi phối hợp với kết luận khoa học đó để áp dụng sự dạy dỗ của Ðức Chúa Trời qua mặc khải của Ngài là Kinh Thánh. Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi sẽ hướng dẫn cho cha mẹ thai nhi biết ý muốn Ðức Chúa Trời để sống đạo và trang bị thiên chức làm cha làm mẹ, và nuôi dưỡng thai nhi một cách khoa học trên nền tảng thuộc linh để chuẩn bị cho sự chào đời của một thành viên trong gia đình Cơ Ðốc.
Vấn đề đặt ra ở đây là Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi có cần thiết không, trong khi Hội Thánh hiện nay có quá nhiều vấn đề khác cần quan tâm?


Chương 2

CƠ ÐỐC GIÁO DỤC THAI NHI

CÓ CẦN THIẾT KHÔNG?

 
 
“Ðiều đó sẽ ghi để cho đời tương lai,
một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva.”
Thi Thiên 102:18
 
Mạng lệnh của Ðức Chúa Trời trong Thánh kinh sách Thi thiên 102:18 là giáo dục thế hệ tiếp nối cho tương lai, một thế hệ yêu kính Chúa, thờ phượng Chúa bằng cả tấm lòng và luôn “ngợi khen Ðức Giêhôva.” Dân sự đó phải được “dựng nên” để “về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva.”  
 
 
 
 
 
 
I. DỰNG NÊN MỘT DÂN SỰ THÁNH CHO CHÚA CÓ Ý NGHĨA GÌ?
 
Dựng nên một dân sự thánh cho Chúa đđó là một trong những mạng lịnh từ nơi Ðức Chúa Trời, và đó cũng là nhiệm vụ của Ngành Cơ Ðốc Giáo Dục trong Hội Thánh hiện nay. Chúng ta là các lãnh đạo, các phụ huynh và các tín hữu, một khi ưu tư sự tồn vong và phát triển Hội Thánh thì chúng ta sẽ quan tâm thực hiện sự giáo dục này cho từng gia đình và cá nhân tín hữu.
 
 
 
 
A. Kiến Tạo

Dựng nên một dân sự thánh không có nghĩa là chúng ta làm công tác sáng tạo hay tạo dựng nên một dân sự thánh cho Ðức Chúa Trời. Chính Chúa đã hoàn tất quá trình sáng tạo con người trong công trình sáng tạo nguyên thuỷ (Sáng Thế Ký 1:31). Từ ngữ “dựng nên” ở đây hàm ý kiến tạo một dân sự thánh cho Ðức Chúa Trời qua sự giáo dục trọn đời một con người từ thơ ấu đến già nua như mạng lệnh Chúa đã truyền: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó.” (Châm Ngôn 22:6)
Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là “dạy.” Theo kỹ năng sư phạm, chúng ta có thể dạy khi đối tượng học có thể tiếp thụ được những gì chúng ta truyền thụ (tức là dạy)ï. Cho nên, vượt khỏi định kiến trước đây về thai nhi chỉ là một “cơ thể sống chưa có ý thức,” khoa học đã xác nhận rằng, thai nhi có khả năng thụ giáo qua cha mẹ, nhất là người mẹ. Thai nhi cảm thụ được bằng khả năng nghe được, thấy được, ngửi được, nếm được và có cả trí nhớ và trao đổi thông tin với mẹ, với cha từ khi còn là một thai nhi nằm trong bào thai. Chúng ta có thể giáo dục thai nhi để làm tiền đề cho một “con người của Chúa chọn” ra đời sau này.
Hơn nữa, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi đặt nền tảng giáo dục trên đối tượng là cha mẹ thai nhi. Việc giúp đỡ cho một đôi nam nữ Thanh niên hoặc Tráng niên trong chuẩn bị hôn nhân Cơ đốc tốt, trong thiên chức làm cha mẹ, trong sự sống đạo, trong sự tin kính thờ phượng Chúa, giúp họ trở nên kiện toàn trong niềm tin là cần thiết. Sự sống đạo của cha mẹ thai nhi đã ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi trong quá trình phát triển từ một phôi thai cho đến thành nhân toàn diện. Ðó chính là sự xây dựng kiến tạo một dân sự thánh không chỉ cho tương lai, mà ngay trong hiện tại nữa. 
 
B. Thẩm Quyền
  
Từ ngữ “dựng nên” cũng bày tỏ thẩm quyền của Ðức Chúa Trời trong công tác giáo dục một dân sự thánh của Chúa. Ðức Chúa Trời luôn luôn làm việc qua con người. Qua các bậc cha mẹ, Chúa dùng thân thể cha mẹ mà dựng nên thai nhi một cách kỳ diệu như Ðavít đã được mặc khải của Ðức Thánh Linh bày tỏ:
“Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi,
Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.
Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng.
Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.
Khi tôi được dựng nên trong nơi kín,
Chịu nắn nên cách xảo lại nơi thấp của đất,
Thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa.” (Thi Thiên 139:13-15)
Mục đích Ðức Chúa Trời dựng nên người nam người nữ đầu tiên trên đất là sinh sản cho đầy dẫy khắp đất. Sáng thế ký 1:27-28 “Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như Ðức Chúa Trời. Ngài dựng nên người nam cùng người nữ. Ðức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng : Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất…” Ðó là mạng lịnh của Ðức Chúa Trời ban cho con người trên đất.
Chúng ta nhận biết hôn nhân là một đặc ân Chúa cho mọi người không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, mọi người đều được hưởng hạnh phúc trong hôn nhân và có nhiệm vụ sinh sản con cái, nhưng chúng ta phải ý thức rằng : Vợ chồng giao phối, thụ thai và sinh sản con cái, đó là phước hạnh, là thiên chức cao quí Chúa cho. Nhưng phải biết rằng Con cái chúng ta do Ðức Chúa Trời tạo dựng từ trong lòng mẹ ( Thi thiên 139:13-15). Thật vậy, chúng ta sinh con cái, nhưng chúng ta không thể quyết định thai nhi là trai hay gái, tính tình như thế nào, hình dạng ra sao… Ðứa bé là món quà vô giá của Chúa ban cho vợ chồng. Có nhận thức như thế chúng ta sẽ tôn trọng thẫm quyền của Chúa trong hôn nhân, trong vấn đề giáo dục con cái.
 
II. TẠI SAO DỰNG NÊN MỘT DÂN SỰ THÁNH CHO CHÚA LÀ CẦN THIẾT?

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, câu chuyện hình thành tuyển dân Ysơraên là một bài học và cũng là nguyên tắc để “kiến tạo một dân sự thánh” cho Ðức Chúa Trời.
Từ con số gia đình Giôsép đến Ai Cập là bảy mươi người (Xuất Êdíptô ký 1:5) họ tăng trưởng thêm nhiều cách lạ lùng, nẩy nở ra và trở nên rất cường thạnh cả xứ đều đầy dẫy (Xuất 1:7). Khi họ ra khỏi Ai Cập thì dân số có khoảng hai triệu người. Căn cứ trên Xuất Êdíptô ký 12:37-38, “Dân Ysơraên đi từ Ramse đến Sucốt, số không kể con nít, được chừng sáu mươi vạn người đàn ông đi bộ, lại có vô số người ngoại bang đi lên chung” (nghĩa là 600,000 đàn ông. Nếu tính bình quân Một người đàn ông có một vợ một con thì dân số Ysơraên là một triệu tám và tạm tính “vô số người ngoại bang đi lên chung” là khoảng 200,000 người thì số người ra khỏi Ai cập lúc ấy khoảng hai triệu người).
Tuy nhiên, chúng ta cũng đã biết rõ khi vào đất hứa Canaan chỉ có Giôsuê và Calép là hai người ra đi từ Ai Cập, tất cả đã ngã chết trong đồng vắng, kể cả Môise cũng đã qua đời trong đồng vắng Mô-áp (Phục truyền luật lệ ký 34:1). Tại sao? Có lý do nào Ngài lại để cho Dân sự Ngài đã giải cứu nay phải chết hết trong đồng vắng?
 
Câu giải đáp vấn đề chính là con người.

Có phải lộ trình quá dài và họ đã ngã chết? Phải, họ đã ngã chết trong đồng vắng, nhưng không phải lộ trình quá dài! Nếu mở bản đồ Ðịa Trung Hải ra thì thiết nghĩ rằng với sự dẫn dắt kinh nghiệm của Môise thì chỉ cần bốn tháng băng qua sa mạc, chớ không cần phải tốn thời gian là bốn mươi năm để đi vào đất hứa. Vậy tại sao họ lại phải đi dông dài trong sa mạc đến bốn mươi năm?
 
Kính thưa Quý Bạn Đọc, Con đường và thời gian nơi sa mạc đã hình thành một Thế hệ Mới. Những Con người Mới nầy được sanh ra, một thế hệ mới đã được dựng nên, được kiến tạo trong bốn mươi năm dông dài nơi sa mạc. Những con người này đã được thụ thai trong tự do chớ không phải nô lệ. Họ là “ những người con của tuyển dân thánh” chớ không phải con của “kẻ phục dịch Pharaôn.” Chính thế hệ này mới được hưởng đất hứa Canaan. Còn thành phần được thụ thai và sinh ra trong nô lệ tại Ai Cập phải gục chết trong đồng vắng. Họ là những người luôn hướng về đời sống cũ nô lệ tại Ai Cập, mà đã phản loạn chống lại Ðức Chúa Trời và Môi se trên con đường tiến vào đất hứa (Xuất 16:1-3; Dân 11:4-6). Chỉ có Thế hệ Mới mới được vào đất hứa Canaan mà thôi.
Vì vậy, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là tiền đề Giáo dục Cơ Ðốc, đào tạo một Dân sự thánh cho Ðức Chúa Trời. Tại đây, chúng ta sẽ cùng thảo luận những bước căn bản để chuẩn bị cho các bậc cha mẹ, là những người thánh, trong thiên chức sinh sản và giáo dục Cơ Ðốc trong gia đình.
Hội thánh là sự hiệp lại của những người thánh. Những người thánh tập hợp thành các gia đình thánh. Ước mong Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi góp phần giáo dưỡng những con người thánh trong giai đoạn đầu – là một thai nhi – trong hệ thống Cơ Ðốc giáo dục toàn diện của Hội thánh Ðức Chúa Trời hiện nay.
 
Mục sư Nguyễn Văn Đại
Master of Art in Ministry. 
 
 

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/10/2011

Một Góc Đời Thường

CHIA TAY

 
Đêm lụn tàn. Một vầng trăng đơn côi treo lơ lửng ngoài khung cửa sổ.
Nằm trên chiếc giường xinh, Bé Mai nói thật khẻ:

-Mimi thương yêu của chị! Thế là chúng ta thật sự phải xa nhau. Ngày mai ba sẽ ra đi. . .
Chị không hiểu tại sao lại như vậy, nhưng cái ông Tòa gì đó ghê gớm lắm đã bảo thế, đến nổi ba mẹ phải vâng lời!? Có lẽ mẹ không bao giờ muốn như thế, nên mẹ khóc xưng cả mắt. Ổng Tòa cũng bảo rằng chị phải sống với mẹ. . . cho nên ba cũng bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, chị thấy ba khóc đó! Tại sao người lớn, họ làm khổ nhau nhiều như vậy nhỉ?

-Mimi ơi, Thế là ba phải sống một mình! Chị nghĩ rằng ba sẽ rất buồn vì không có ai trò chuyện, không có ai chơi chung như chị em mình . . . Cho nên, chị muốn em theo ba. Chị muốn em sẽ thay thế chị để an ủi ba khi ba buồn và nhớ chị. Em nhớ bưng nước và lấy tăm xỉa răng cho ba sau khi ăn cơm nhé! Em đừng làm rộn, làm phiền khi ba đọc báo nha! Nhất là nhớ hôn ba dùm chị trước khi đi ngủ nha, nhớ chưa cưng? Chị buồn lắm khi để em đi với ba. . . Không biết bao giờ mình gặp lại, nhưng chị muốn em đi với ba vì ba chỉ có một mình. . .

Nói đến đây, Bé Mai nghẹn ngào không nói được nữa. Mai ôm Mimi vào lòng, hôn lên má nó với những giọt nước mắt nóng hổi. Bé Mai đứng bật dậy rồi nhè nhẹ bước sang phòng khách. Nó quét mắt nhìn những chiếc va-li của ba nó trong ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn ngủ. Bé Mai nhẹ mở chiếc va-li đựng quần áo, rồi đặt con búp bê vào đó. Em nói thật khẻ: Ngày mai ba đi sớm, kể từ đêm nay, hai chị em mình mỗi đứa một nơi . . .

 
Có tiếng nức nỡ. Có tiếng thở dài, từ hai căn phòng trong căn nhà thênh thang. PDM.
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 19/10/2011

TƯỞNG NIỆM CHÚA

BÀI GIẢNG TIỆC THÁNH


TƯỞNG NIỆM CHÚA

Kinh Thánh Nền tảng:
“Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Ðức Chúa Jêsus, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh,  tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta. Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.  Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. “I Cô-rinh-tô 11:23-26”
 
Câu Nền tảng:
“Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”(I Cô-rinh-tô 11:24b, 25b)
 
Một ông tín hữu giàu có dâng một khăn bàn tiệc thánh thật đẹp, trên có thêu hàng chữ câu gốc:“Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”, và bên góc phải của chiếc khăn có thêm hàng chữ lưu niệm “Ông bà Nguyễn Văn X. kính tặng”. Ðặc biệt và ngộ nghĩnh, sau khi trang trí, người ta mới nhận thấy hàng chữ mang tên ông bà lớn hơn hàng chữ câu gốc đến 5 lần!
Thế là Ban Chấp hành phải mau mau lấy xuống sau giờ nhóm vì hình thức của chiếc khăn nầy được dâng không đúng mục đích thuộc linh của lễ Tiệc Thánh.Mục đích của Tiệc Thánh là gì? Câu trã lời rõ nghĩa nhất được tìm thấy qua mạng lịnh của Đức Chúa Giê-su – Đấng thiết lập Lễ Tiệc thánh đầu tiên nơi phòng cao. Ngài phán: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta”(I Côr 11:24b). Và điều Chúa phán trở nên quan trọng vì đã được chính Chúa lập lại lần thứ nhì trong khi hành lễ (I Côr 11:25b).
 
 
I.LỄ TIỆC THÁNH KHÔNG PHẢI LÀ BUỔI TIỆC BÌNH THƯỜNG.
 
 
Buổi tiệc bình thường là buổi tiệc vui, tiệc mừng, được tổ chức với mục đích mọi người cùng tụ họp ăn uống trong tính cách hưởng thụ, vui chơi. Cũng không phải là một buổi tiệc mang lại sự ăn uống thoải mái, thỏa mản nhu cầu ưa thích của khẩu vị.
Khi dạy về Tiệc Thánh, Sứ đồ Phao-lô nói: “Sau khi ăn bữa tối rồi. . .” (I Côr 11:25a). Như vậy, Các Tín hữu trong Hội Thánh Đầu tiên thường dự tiệc thánh sau khi ăn bữa tối (Còn gọi là Tiệc Yêu Thương, hay Thông công để giải quyết nhu cầu ăn uống bình thường hàng ngày, đó là bữa ăn tối).


Trong sinh hoạt của Hội Thánh sơ khai, Hội Thánh tại thành phố Cô-rinh-tô đã hiểu sai và thực hiện không đúng mục đích Tiệc thánh, nên đã bị Sứ đồ Phao-lơ khiển trách: “Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;  bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ. Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Ðức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.” (I Cor 11:20-22).

II.TIỆC THÁNH LÀ BUỔI TIỆC THUỘC LINH.

Như vậy, Tiệc thánh là một buổi tiệc mang ý nghĩa thuộc linh. 

Thật ra, từ ngữ “Tiệc Thánh” không có trong nguyên văn, tức là bản Kinh Thánh tiếng Hi-lạp (Greek), nguyên ngữ Tiệc thánh được viết là “Tiệc của Chúa”, các bản Anh Ngữ cổ và hiện đại cũng đều dịch “Tiệc của Chúa” như vậy. Duy chỉ có Bản Thánh Kinh Truyền thống Tiếng Việt (xuất bản năm 1926) của Người Việt Nam chúng ta có ghi từ ngữ “tiệc thánh” một lần duy nhất, trong I Cô-rinh-tô 11:20 mà thôi.

Một từ ngữ tiếng Việt khác do Người Công Giáo La-mã dùng cho tiệc thánh, đó là Tiệc Ly. Tuy nhiên, theo truyền thống Giáo hội Tin lành chúng ta thường gọi là Tiệc thánh. Người Tin Lành quý mến và sử dụng từ ngữ nầy vì nó toát lên tính chất thuộc linh của buổi lễ trong nghi thức thờ phượng Chúa.

Vậy, Tiệc thánh do Đấng Thánh thiết lập, với mục đích thánh là để cho các thánh đồ tưởng niệm đến chính Ngài, như mạng lịnh của Chúa Giê-su: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta” (Luca 22:19; Mác 14:22-24; Ma-thi-ơ 26:26-28 & I Côr 1:1 Tín Hữu là “Thánh đồ”).

Theo I Cô-rinh-tô 1:1 Sứ đồ Phao lô trong Hội Thánh Đầu Tiên  gọi Tín hữu là Thánh đồ. Đối tượng nhận tiệc thánh là “thánh đồ”. Vì lẽ đó, theo Giáo luật chỉ có những người tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế, là Cứu Chúa của chính mình thì mới được tham dự. Niềm tin nầy được xác nhận qua sự kiện người dự phải là người đã nhận thánh lễ Báp-têm. Hầu hết các Giáo phái Chính Thống của Cơ Đốc Giáo trên thế giới đều theo giáo luật và giáo nghi nầy.

III.TIỆC THÁNH LÀ TƯỞNG NIỆM SỰ HY SINH CỦA CHÚA.

Chúa phán: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta”. Vậy, đó là điều gì giúp chúng ta gợi nhớ, tưởng nhớ, hay tưởng niệm đến Chúa? – Ấy là, nhờ “bánh và chén” tức là bánh không men và ly rượu nho, được dùng trong Ngày Đại Lễ Vượt Qua của Người Do Thái.
Kinh Thánh chép: “Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Ðức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu? Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi. Môn đồ làm y như lời Ðức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua”. (Ma-thi-ơ 26:17-19).

Trong khi ăn lễ Vượt qua, Đức Chúa Giê-su lấy ổ bánh, là loại thực phẫm chính của Người Do Thái để dạy dỗ môn đồ về ý nghĩa của sự hy sinh mà Ngài sẽ thực hiện. Hình ảnh đó diễn ra trên một phòng cao tại thành Giê-ru-sa-lem thật cảm động: Ngài bẻ ra phân phát cho các môn đồ mà phán rằng: “Nầy là thân thể ta, vì các con mà phó cho”. Rồi Ngài lấy chén rượu nho (là dụng cụ đựng thức uống của Người Do thái, dùng để uống như ly của Người Việt chúng ta), Ngài phán rằng: “Nầy là máu ta, máu của Giao Ước Mới đã đổ ra cho nhiều người được tha tội”.
Sau buổi tiệc cuối cùng ấy, Chúa Giê-su đã thực hiện điều Ngài phán như hình ảnh của ổ bánh bị bẻ ra những phần nhỏ và phân phát cho từng người có mặt trong buổi tiệc ấy; Thân thể của Chúa đã bị tan nát bởi khổ hình trên thập tự giá. Thật vậy, Chúa đã hy sinh mạng báu của Ngài, thân thể Ngài tan nát vì tội lỗi chúng ta, như lời dự ngôn của Tiên Tri Ê-sai (670 năm TC): “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh”(Ê-sai 53:5). Và khi từng người nhận bánh và nuớc nho riêng cho mình, chúng ta nhận biết rằng sự hy sinh của Chúa, máu của Ngài tuôn đổ trên thập tự là cho chính chúng ta và cho tất cả mọi người, không hạn chế và không phân biệt một ai, như lời Thánh Kinh: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đức Chúa Giê-su Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

KẾT LUẬN:

Hằng năm, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ biệt riêng ngày 31 tháng 5 (Memorial Day) để tưởng niệm sự hy sinh của những Chiến sĩ Trận Vong. Buổi lễ luôn được tổ chức trang nghiêm và mọi người đều cảm động khi nhắc nhở sự hy sinh mạng sống bảo vệ Đất Nước của những chiến sĩ. Còn riêng chúng ta, chúng ta tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa mỗi tháng một lần, vào mỗi Chúa nhật đầu tháng. Tuy nhiên, nếu Anh chị em nhận thức sâu xa sự hy sinh của Chúa, thì linh hồn chúng ta sẽ hằng tưởng nhớ đến công ơn cứu chuộc của Chúa mỗi ngày trong cuộc đời. Tác giả Thi Thiên đã nói: “Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va. Chớ quên các ân huệ của Ngài” (Thi 103:2).

Cầu xin Chúa giúp đỡ chúng ta nhận thức sâu xa tầm quan trọng và ý nghĩa thuộc linh của Tiệc Thánh, để dọn thân-tâm-linh trong sạch, thánh khiết để dự lễ. Nếu ai có phạm tội trong những ngày qua, hãy ăn năn, xưng tội với Chúa để được tha thứ theo lời Ngài hứa (trong I Giăng 1:7 rằng: Nếu chúng ta xưng tội lỗi mìh thì Ngài là thành tín công bình, sẳng sàng tha thứ tội lỗi chúng ta và làm cho chúng ta sạch khỏi mọi điều gian ác), hầu cho xứng đáng nhận bánh và rượu nho trong tiệc thánh, tượng trưng thân thể tan nát và máu vô tội của Chúa đổ ra lai láng trên thập tự đền tội cho mỗi chúng ta. Bởi đức tin, khi ăn bánh nầy, uống chén nầy, chúng ta sẽ nhận lảnh được sự linh nghiệm do quyền năng từ sự hy sinh của Chúa: “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh”(Ê-sai 53:5). Amen! Muốn thật hết lòng.                                  

Mục sư Nguyễn Văn Đại

Đăng bởi: nguoichanbay | 19/10/2011

CÁC CẤP ĐỘ QUAN PHÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

SUY TƯ THẦN HỌC

CÁC CẤP ĐỘ

QUAN PHÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

TƯƠNG QUAN TRÊN TẠO VẬT

Một trong nhiều vấn đề phát sinh trong khi nghiên cứu Thần học Cựu Ước đó là Mối liên hệ của Đức Chúa Trời trong Phẩm cách là Đấng Tạo Hóa đối với tạo vật. Phải chăng Đức Chúa Trời đã hoàn thành công cuộc sáng tạo cách tuyệt vời và hoàn mỹ “một lần đủ cả” rồi thôi !? – như những người theo Thuyết Duy Thần (Deists) đã chủ trương rằng sau khi hoàn tất công cuộc sáng tạo Đức Chúa Trời đã xoay mặt đi với tạo vật của Ngài (*l).

Vấn đề không dừng lại một cách đột ngột, phủ phàng và bất hợp lý như vậy đối với một Đức Chúa Trời Toàn Tri và bản tánh vô hạn của Ngài được! Như vậy, Mối Tương giao giữa Đức Chúa Trời trong thân vị Đấng Sáng Tạo và Mối liên hệ với Tạo vật của Ngài phải được duy trì liên tục mới thích hợp với bản tánh cao quí của Ngài.

Thế thì, Sự Duy trì mối liên hệ ấy như thế nào? Các bước trong tiến trình ấy ra sao? Mang lại hệ quả gì trên tạo vật, nhất là trên chúng ta là “tạo vật thượng đẳng” trong công trình sáng tạo của Ngài? Bài viết này mong ước trình bày cặn kẻ Ba Cấp độ về Sự Quan Phòng của Đức Chúa Trời tương quan trên Tạo Vật.

William Dyrness, Tác giả quyển “ Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước” đã nói:                                                                       “Nghĩ đến hoạt động của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo theo ba cấp độ rất hữu ích cho chúng ta” (*2).

I. ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO
CŨNG LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI QUAN PHÒNG TẠO VẬT.

Để củng cố cho đề tài được nêu , chúng ta cần xác định lại Chủ Thể của Mối Liên Hệ chính là Đức Chúa Trời, cùng Đối tượng của Mối liên hệ chính là Mọi Thọ Tạo, trong đó có chúng ta.
Đầu tiên, với tín lý sáng tạo. Chúng ta xác tín rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng vũ trụ bằng Lời phán và Hành động (*3).  Sự sáng tạo tuyệt hảo và diệu kỳ từ hư vô( ex nihilo) có nghĩa là Đức Chúa Trời đã không sử dụng một chất liệu cụ thể (vật chất ) nào để tạo nên thế giới (vũ trụ) này cả. Đó là một công cuộc sáng tạo “thiêng liêng” không hề được sử dụng cho sự tạo dựng (làm ra) mang ý nghĩa vật chất. Đức Chúa Trời đã làm hiện hữu điều mà trước đó không có. (*4) Cũng có thể hiểu đơn giản rằng Ngài đã “lắp đầy vào chổ trống không”.

Trong một ý niệm hữu hạn và phiến diện, Đức Chúa Trời giống như một Họa sĩ Tài Ba. Từ không gian trống không của vuông vải tinh nguyên trên khung vẻ, Người Hoạ sĩ tài hoa đã vung chiếc cọ điêu luyện và tự do thể hiện ý niệm nghệ thuật của mình mà tạo nên tác phẩm. Rồi nó trở nên một “kiệt tác”. Người Họa sĩ hoàn tất tác phẩm trong thời gian mình muốn và “nghỉ”. Nhưng từ ngữ “nghỉ”( Sáng 2:2-3 ) ở ngữ cảnh này chỉ là chấm dứt sáng tác, nghĩa là Đức Chúa Trời nghĩ ngơi sau khi hoàn tất công trình sáng tạo.  Nhưng, không phải rồi thôi! mà điều gì tiếp nối? Sau đó, Người Họa sĩ vẫn giữ mối liên hệ mật thiết một cách liên tục với tác phẩm mình sở hữu bằng cách “chiêm ngưỡng” nó. Đức Chúa Trời “thấy” ( Sáng 1: 10, 12, 18, 21, 25 “thấy” ) và hài lòng với thành quả sáng tạo của mình với nhận định tác phẩm ấy hoàn hảo ( “tốt lành”). Và tất nhiên, với sự thỏa lòng như vậy, Người Họa sĩ đã đặt để kiệt tác ấy vào một vị trí quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của mình. Và thật là hợp lý khi nghĩ rằng Nhà Họa sĩ hằng quan tâm và luôn luôn bảo quản kiệt tác ấy là một lẽ tự nhiên.   Vũ trụ và chúng ta là Kiệt tác của Nhà Danh Hoạ Tài Hoa – Đức Chúa Trời.

Dầu vậy, Thí dụ nào cũng phiến diện. Có thể hiểu cách hạn hẹp, Hoạ sĩ bình thường trong nghệ thuật vẫn phải chịu chi phối của chất liệu màu sắc, vải bố hoặc bút cọ để có thể làm phương tiện diễn đạt ý tưởng nghệ thuật mình để tạo thành tác phẩm, nhưng như đã đề cập ở trên , người viết mong chúng ta hiểu trong phạm trù nhỏ hẹp của thí dụ phải được hiểu trên phương diện nghệ thuật mà thôi. Có nghĩa là từ trước chưa có tác phẩm nào như thế và rồi từ mãng vãi trắng tinh, trống không, tác phẫm sáng tạo với bàn tay khéo léo của Họa sĩ thì những gam màu rực rỡ của sự sống lần lượt hiện ra và hình thành tác phẫm vũ trụ trên khung hình sáng tạo thần kỳ.

Đức Chúa Trời Sáng Tạo cũng chính là Đức Chúa Trời của Sự Quan Phòng trong Mối Liên Hệ mật thiết trên Tạo Vật của mình.

Kỳ tới: CẤP ĐỘ MỘT:

ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT VỚI CHỦ ĐÍCH YÊU THƯƠNG.

BÀI GIẢNG DƯỠNG LINH

HỘI THÁNH –

Nơi rịt lành những tấm lòng tan vỡ.   

 

 

 

Kinh Thánh: Lu-ca 10:30-37


Câu Nền Tảng: Lu-ca 10:33-34


“Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho”.
“Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; 2 đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;” (Ê-sai 61:1-2)

Lời tựa:

Trong nền kinh tế hiện đại trên thế giới, có một cách giới thiệu về mục tiêu của các tổ chức, công ty rất hay.

Thí dụ như Tiểu bang North Carolina của chúng ta là “The First in Flight” hoặc Trường Ðại Học Cộng Ðồng CPCC là “Be There” chẳng hạn.
Tôi xin đố Hội Thánh:Tiêu chí Hảng Xe Honda là gì? Hảng Xe Toyota là gì? Wallmart là gì? Belk là gì? Ross là gì? Nói chung những tiêu chí nầy nói lên mục tiêu hoạt động của tổ chức hay cơ quan đó.

Kính thưa Hội Thánh,
Hôm nay tôi được Chúa dạy dỗ và xin nêu lên đôi điều suy nghĩ sau đây.
Mục tiêu gây dựng Hội Thánh trong giai đoạn I của chức vụ chúng tôi, được gói ghém trong tiêu chí “Người Công Bình Sống Bởi Ðức Tin” (Ha-ba-cúc 2:4). Trong tiêu chí đó, chúng ta đã học hỏi rất nhiều sự dạy dỗ từ Thánh Kinh để gây dựng, củng cố đức tin của mỗi chúng ta, từ người cũ đến người mới, với ước ao mỗi đời sống Con Cái Chúa, có đức tin căn bản, thuần khiết và vững mạnh.
Hôm nay, chức vụ tôi bước vào giai đoạn II, với tấm lòng vui mừng khi nhận biết đời sống đức tin nhiều Con Cái Chúa trưởng thành, mặc dù, cũng có những đời sống chưa thật sự vững vàng trong đức tin thuần túy, theo Thánh kinh dạy dỗ. Ðặt căn bản trên Thánh Kinh, là Lời Ðức Chúa Trời, tôi xin nêu ra tiêu chí mới: “Hội Th ánh-Nơi rịt lành những tấm lòng tan vỡ”. Tiêu chí nầy hướng về mục tiêu Truyền giảng Tin Lành cho Ðồng bào chúng ta, cũng là bài giảng của tôi hôm nay.

Kính mời Hội thánh cùng mở Thánh Kinh Phúc Âm Luca 10:30-37. Tôi xin đọc lại một lần nữa.
Qua câu chuyện Chúa Giê-su kể, Ngài muốn nhấn mạnh điều gì?
Ai trò của Hội Thánh là gì đối với Ðồng Bào và Ðồng loại xung quanh chúng ta?

I.HỘI THÁNH KẾ THỪA SỰ NGHIỆP CHÚA CỨU THẾ


a) Ðây là câu chuyện Chúa Giê-su kể.
Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. 31 Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. 32 Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.
33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
36 Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp? 37 Thầy dạy luật thưa rằng: Aáy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.
b)Chúa Giê-su thực hiện những điều Ngài dạy, chúng ta phải làm theo mạng lịnh đó.
Mathiơ 9:35 . Ðức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Ðức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.
Hội Thánh là “Nhà Quán”. Người Samari Nhân Lành là Chúa Giê-su. Người bị cướp là Ðồng bào, Kẻ cướp là Ma Quỹ. Nên nhớ rằng, Chúa Giê-su là Ðấng Rịt Lành mọi đau thương, Ðấng chữa lành mọi bệnh tật, Ðấng cứu giúp mọi tội nhân. Chúng ta – Hội thánh – chỉ là Nhà Quán để tiếp tục chăm sóc nạn nhân. Không phải chúng ta cứu, chúng ta là người giúp đỡ.
c)Ðức Chúa Trời- Ðấng chúng ta thờ phượng là Ðấng chữa lành.


Thi Thiên 147:2-3 2 Ðức Giê-hô-va xây cất Giê-ru-sa-lem; Ngài hiệp lại những kẻ bị tản lạc của Y-sơ-ra-ên, 3 Chữa lành người có lòng đau thương, Và bó vít của họ.
Bản Dịch phổ thông: “Ngài hàn gắn lại những tấm lòng tan vỡ, băng bó các vết thương của họ”.
Bản Dịch Mới “Ngài chữa lành những tấm lòng tan vỡ, băng bó những vết thương của họ”


II.HỘI THÁNH LIÊN ÐỚI MẬT THIẾT VỚI CỘNG ÐỒNG


a)Chúng ta đang sống trong một thế giới phức tạp và tội lỗi.
Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. 31 Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. 32 Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi. 33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
*Quan điểm sống và Triết lý sống khác nhau:

Có Nhà Xã Hội đã tóm ý câu chuyện Chúa Giê-su kể qua ba quan niệm sống của các thành phần xã hội, như sau:
-Cái gì của anh là của tôi, tôi lấy!
-Cái gì của anh là của anh, cái gì của tôi là của tôi. Tôi đi!
-Cái gì của tôi là của anh, tôi cho!

Nhóm thứ nhất là Bọn Cướp: Không làm việc, rình rập, cướp công, giựt của người khác, thủ lợi cho riêng mình.
Nhóm thứ nhì là Những Người Tôn Giáo: Thầy Tế Lễ, Người Lê-vi, là những người hoạt động tôn giáo, đại diện thành phần đạo đức trong Xã Hội, trong Ðền Thờ. . . nhưng họ làm ngơ trước nỗi đau đớn và hoàn cảnh “nửa sống, nửa chết” của nạn nhân.
Nhóm thứ ba, là thiểu số nhưng chính là sự can thiết cho Xã Hội, cho những cuộc đời đau khổ, hoạn nạn. Người Sa-ma-ri Nhân lành là Chúa, và Chúa muốn chúng ta sống như Ngài: “Hãy đi và làm theo như vậy”. Chúng ta là ánh sáng cho thế giới tối tăm tội lỗi, chúng ta là Muối Men cho Muôn Dân (Math 5:13-16), và chúng ta là Nhà Quán để chăm sóc những nạn nhân được Chúa rịt lành vết thong, hàn gắn những tấm lòng tan vỡ, những cuộc đời may hy vọng, những gia đình rạn nức, những cuộc tình vỡ tan. . .
Kinh Thánh cho thấy thãm cảnh đó ở chung quanh chúng ta, ngay trong xã hội nầy:


Giê-rê-mi 10:19-21 19 Khốn nạn cho tôi vì vết thương tôi! Vít tôi là đau đớn! Nhưng tôi nói: Aáy là sự lo buồn tôi, tôi phải chịu. 20 Trại của tôi bị phá hủy, những dây của tôi đều đứt, con cái tôi bỏ tôi, chúng nó không còn nữa. Tôi không có người để giương trại tôi ra và căng màn tôi. 21 Những kẻ chăn chiên đều ngu dại, chẳng tìm cầu Ðức Giê-hô-va. Vì vậy mà chúng nó chẳng được thạnh vượng, và hết thảy những bầy chúng nó bị tan lạc.
Giê-rê-mi 6:13-14 13 Vì trong vòng họ, từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối. 14 Họ rịt vết thương cho dân ta cách sơ sài mà rằng: Bình an! bình an! mà không bình an chi hết.
Isaiah 1:4-6 4 Oâi! nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề, tông giống độc dữ, con cái làm bậy bạ kia! Chúng nó đã lìa bỏ Ðức Giê-hô-va, khinh lờn Ðấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đã trở nên xa lạ và lui đi. 5 Các ngươi sao còn cứ bạn nghịch, để lại bị đánh nữa? Ðầu đều đau đớn cả, lòng đều mòn mỏi cả. 6 Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, chẳng có chỗ nào lành: rặt những vết thương, vít sưng cùng lằn mới, chưa rịt, chưa quấn, cũng chưa bôi dầu cho êm.

III.HỘI THÁNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHĂM SÓC


a)Chúng ta thực hiện nhiệm vụ như thế nào?

Kinh Thánh đưa ra các nguyên tắc:
33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
Thứ nhất: Phải có lòng yêu thương Tội Nhân: “Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương;”
Thứ nhì: Chia sẽ những gì mình có khả năng: “…bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại;”
Thứ ba: Ðem về Hội Thánh những đời sống đau khổ, cần cứu giúp: “đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho”
Thứ tư: Dâng hiến tài chánh cho công tác cứu người: “. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.”
b)Hội Thánh Ðầu Tiên là một gương mẫu Cứu Giúp Tội Nhân:


Phi-líp 2:1-4 Vậy nếu trong Ðấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, 2 thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. 3 Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. 4 Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.
c)Chúng ta hãy ao ước sự xức dầu mới từ Ðức Thánh Linh để giúp đỡ “Kẻ Vỡ Lòng”:


Ê-sai 61:1-2 Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; 2 đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;
Ê-xê-chi-ên 34:4-6  Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất;

 34:16-19 Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó. 17 . Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Còn như bay, hỡi bầy chiên ta, nầy, ta xét đoán giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực. 18 Bay ăn trong vườn cỏ xinh tốt, mà lại lấy chân giày đạp những cỏ còn lại; đã uống những nước trong, lại lấy chân vậy đục nước còn thừa; bay há chẳng coi sự đó là việc nhỏ mọn sao? 19 Còn những chiên ta thì phải ăn cỏ chân bay đã giày đạp, và uống nước chân bay đã vấy đục!

 

 

Kết Luận:


Nhà Thần Học Tân Ước là Phao-lô đã nói về quan điểm sống của Cơ Ðốc Nhân rằng:

“Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” Rô-ma 12:15.


Chúng ta có quá nhiều những người đau khổ chung quanh.Có rất nhiều tấm lòng tan vỡ cần rịt lành và chăm sóc.
*Có chị Tráng Niên nói rằng: Sáng nay, tôi rất đau đớn vì hay tin một người bạn gái đã tự tử đêm qua!

Rồi chị khóc mà nói tiếp: “Nhưng còn đau đớn hơn nữa khi tôi nhìn thấy trên điện thoại của tôi (miss call) số máy của cô ấy đã gọi đến trong đêm qua. Phải chi. . . !!!

Có bao nhiêu cơ hội để cứu giúp đã qua đi trong cuộc đời chúng ta? Mong Quý Bạn Đọc tận dụng cơ hội ngay hôm nay.
Chúa Giê-su là Người Samari Nhân lành, cứu giúp và rịt lành những vết thương cho nạn nhân, đã phán: “Hãy đi và làm theo như vậy!”. Chúng ta, Hội Thánh của Đức Chúa Trời phải tâm nguyện rằng:

Hội Thánh chúng ta là Nơi Rịt Lành Những Tấm Lòng Tan Vỡ. Amen!

 

Mục sư Nguyễn Văn Đại.

 

 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/10/2011

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ 2000 NĂM TRƯỚC

BÀI GiẢNG TIÊC THÁNH

 

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ

2000

NĂM TRƯỚC

Kinh Thánh: John 8:1-12

Câu Nền Tảng: Giăng 8:11-12

“Ðức Chúa Jêsus phán rằng:

Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.  

Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng:

Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm,

nhưng có ánh sáng của sự sống”

Lời Mở Đầu:

Chúng ta vừa xem qua Video Clip về Câu Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước. Lời bài hát và hình ảnh sống động đã làm cho khúc Kinh thánh Giăng 8:1-12 trở nên sinh động hơn cho chúng ta.
Tuy nhiên, đứng trước bàn Tiệc Thánh mà chúng ta sắp cùng nhau dự, có đôi điều chúng ta cần suy ngẫm thêm.

I. KẾT ÁN TRONG ĐỀN THỜ.
A.Chúa đến đền thờ và dạy dỗ đoàn dân:
John 8:1 . Ðức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve. 2 Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ. 

B.Người Đàn Bà bị kết án từ những người Dạy Luật:
Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông, 4 mà nói cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm. 5 Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; -còn thầy, thì nghĩ sao?

C.Họ ném đá Người Đàn Bà với mục đích chống Chúa:

 Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Ðức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi nữa,

D.Tại sao họ chống đối Chúa?
1.Vì Chúa có ảnh hưởng lớn trên đoàn dân:
Matthew 8:1 Khi Ðức Chúa Jêsus ở trên núi xuống, có đoàn dân đông lắm theo Ngài.
Mark 3:7-8 7 Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ Ngài lánh ra nơi bờ biển, có đoàn dân đông lắm từ xứ Ga-li-lê đến theo Ngài. Từ xứ Giu-đê, 8 thành Giê-ru-sa-lem, xứ Y-đu-mê, xứ bên kia sông Giô-đanh, miền xung quanh thành Ty-rơ và thành Si-đôn cũng vậy, dân đông lắm, nghe nói mọi việc Ngài làm, thì đều đến cùng Ngài.

2.Vì Chúa giảng dạy cách có quyền năng.
Mark 1:22 22 Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu.

3.Vì Chúa gần gủi với những Người bị khinh bỉ trong xã hội.
Matthew 21:31-32 Ðức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Ðức Chúa Trời trước các ngươi. 32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.

II. AI LÀ NGƯỜI ĐỊNH TỘI NGƯỜI ĐÀN BÀ?

A. Thách thức của Chúa Giê-su đối với Người Đạo Đức Giả:

c7tt: thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người. 8 Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.

B. Sự hổ thẹn lương tâm của Người Đạo Đức Giả:
9 Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước;

III. SỨ ĐIỆP CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI.

A.Khi Người Đàn Bà tội lỗi đối diện với Chúa:
Ðức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó. 10 Ðức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?

B.Chúa Giê-su đến thế gian để cứu vớt tội nhân.

11 Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi;
Chúa Giê-su phán:

C.SỨ Điệp của Chúa là ĐỪNG TÁI PHẠM

1. Hãy đi, đừng phạm tội nữa.


2. Đi trong ánh sáng của sự sống.
12 . Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng:

Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.

KẾT LUẬN:
Chúng ta hãy tự xét lại chính mình theo LỜi Chúa phán dạy.  Chúng ta hãy cầu nguyện ăn năn trước khi nhận tiệc thánh sáng hôm nay. Amen.

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/10/2011

NHỊN CƯỜI

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

NHỊN CƯỜI

 
 
             *Để thương nhớ các em Cô nhi của tôi.
 
 
 
 

 

 

 

Khi tôi thực tập hầu việc Chúa tại Trung tâm Truyền giáo Thiếu nhi Hòn chồng Nhatrang, với chức vụ Ðặc trách Thiếu nhi Tin Lành. Tôi có nhận dạy lời Chúa mỗi tối cho các em cô nhi tại Cô nhi viện Tin lành Hòn chồng Nhatrang. Lớp tôi phụ trách gồm cĩ Các em thiếu nhi Việt lai Mỹ, Ðại hàn và Tân Tây Lan ở Phòng số 10 của viện. Ðây là các em nhỏ tuổi nhất, khoảng ba đến năm tuổi mà thôi.

Một đêm kia, sau khi học kinh thánh thì có giờ cầu nguyện, các em quỳ gối với tôi bên giường ngủ mà cầu nguyện. Theo thông lệ hằng đêm, tôi mời một em cầu nguyện, em này có tên là Sơn. Sơn lai Mỹ đen nên tóc quăn, mặt đen thui nhưng hàm răng thật trắng, em cười trông thật dễ thương! Sơn cầu nguyện tốt nhưng đến phần cầu thay cho một bạn ở Phòng số chín bị bệnh thì em quên mất tên. Sơn nói : “Xin Chúa chửa cho…a….,chửa cho a…,” Tất cả yên lặng, rồi tôi nghe tiếng sột soạt, sột soạt… thì ra em đang lòm còm bò lại bên tôi. Trợn con mắt trắng sát, Sơn hỏi : “ Khầy ơi khầy! nó tên gì con quên mất tiêu!” Lúc ấy tôi mắc cười không chịu nổi, nhưng tôi phải cố nhịn cười mà nghiêm giọng nói tên em bị bệnh. Thế rồi Sơn lòm còm bò lại chổ quỳ khi nảy cầu nguyện tiếp tục cho xong.

Tôi về lại Trung Tâm, kể lại cho bạn tôi để cùng cười một trận cho hết ấm ức sự dồn nén trong lòng. Nghĩ lại, nếu tôi không nghiêm trang trong giờ cầu nguyện với các em thì chắc chắn tôi sẽ để lại những ấn tượng không tốt đẹp trong tâm hồn của những đứa trẻ ngây thơ.

 

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.