Đăng bởi: nguoichanbay | 23/08/2010

Mạn Đàm Tác Phẩm: NHỮNG CHỦ ĐỀ TRONG THẦN HỌC CỰU ƯỚC

GIAI DIEU THAN HOC

 

Mạn Đàm Tác Phẩm:  

NHỮNG CHỦ ĐỀ TRONG THẦN HỌC CỰU ƯỚC

 

 

 

 

I

 

 TỔNG QUÁT:

            Tác phẩm Những Chủ Đề Thần Học Cựu Ước, nguyên tác  Themes in Old Testtament Theology của Giáo sư William Dyrness. Sách do Nhà Xuất bản Inter-Vasity Press ấn hành năm 1979 tại Downers Grova, Illinois, Hoa kỳ. Được chuyển dịch sang Việt ngữ bởi Union University of California tháng Giêng năm 2004.

  Tác giả William Dyrness là giáo sư Thần Học Cựu Ước, ông đã giảng dạy nhiều năm tại Chủng Viện Thần Học Châu Á tại Manila, Philippin. Tác phẩm được viết trong lúc ông giảng dạy tại đây. Với kinh nghiệm của một giáo sư thấu đáo bối cảnh văn hóa Á Châu, ông soạn thảo một tác phẩm thần học “hợp thời và thỏa đáng”, đáp ứng nhu cầu xây dựng một nền thần học hiện đại cho người Châu Á. Vì thế nó cũng thật gần gủi với Người Việt chúng ta.

II. TÓM TẮC SÁCH

Dẫn nhập: William Dyrness viết: “Tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ đốc Nhân.”

Chương 1 và 2:  Đức Chúa Trời tự mặc khải chính Ngài (self-reveletion) cho Dân sự. Mặc khải về thân vị và bản tánh Ngài chính là tiền đề giải thích cho mục đích mặc khải. Chúa không chỉ mặc khải bằng lời tuyên phán, mà thông qua những biến cố Ngài dùng các tiên tri để giải thích ý chỉ Ngài cho chúng ta.

Có những trường hợp đặc biệt như trong những sự kiện Ngài hiện ra, kêu gọi và sử dụng cuộc đời Áp-ra-ham, Môi-se và Tuyển Dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Đặc điểm mặc khải là vấn đề làm sao trong những lần hiện ra cho con người tội lỗi mà Chúa vẫn giữ được tính siêu việt để tồn tại trong thân vị vượt khỏi giới hạn của thế gian.

Đức Chúa Trời dùng một vài nhân vật trung gian làm phương tiện mặc khải bản tánh Ngài, như thiên sứ, sự vinh quang hoặc nhân hình hóa (anthropomorphism). Về bản tánh Đức Chúa Trời qua Cựu ước, con người có thể hiểu Đức Chúa Trời có thân vị, chân thần, duy nhất. Về bản tánh và công việc của Đức Chúa Trời được diễn giải rõ ràng về 4 thuộc tánh: Quyền Năng, Sự Thánh khiết, Sự Công chính, Lòng nhân từ và yêu thương.

Chương 3: Tương phản những ký thuật về thời kỳ sơ khai của các nền văn hóa khác, như Ai cập, Babylôn…suy đoán về nguồn gốc Đức Chúa Trời, Sự sáng tạo vũ trụ trong Cựu ước thật đơn giãn và rõ ràng. Mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo là tôn vinh Đức Chúa Trời. Giải luận và so sánh giữa Những Thần thoại (Myth) và Lịch sử Sáng tạo (History). Đức Chúa Trời hoàn tất công trình sáng tạo, không phải rồi thôi! Mà tiếp tục quan phòng, chăm sóc qua ba cấp độ khác nhau trên tạo vật của Ngài.

Chương 4 và 5: Đức Chúa Trời dựng nên người nam và người nữ là một tạo vật thượng đẳng của công trình sáng tạo. Bản tính con người được phân tích: Hồn, Linh, Xác thịt, Lòng, Huyết và Các chi thể. Bản tính được tạo dựng đó không có biểu hiện nào cản trở trong mối tương giao với Đức Chúa Trời “Nó thật tốt lành” –(Sáng 1:31), nhưng con người vượt qua ranh giới của sự tương giao và gây ra đỗ vỡ, đó là sự sa ngã. Từ ngữ “Tội lỗi” được thích nghĩa: Sự sai lệch (deviation) Tội phạm (guilt) sự phản loạn (rebellion). Đặc tính tội lỗi liên quan đến thần học (sai trật chủ đích thánh khiết của ĐCT), tính khách quan, hay ý thức cá nhân, tính phổ quát của tội lỗi trong hết thảy mọi người và đặc biệt là tính cố định của tội lỗi như là một phần của trật tự tạo vật sa ngã: Không thể tự thay đổi được. Đưa đến hậu quả là sự trừng phạt con người tội lỗi.

Chương 6: Giao ước là lời hứa giữa Đức Chúa Trời và Dân sự của Ngài. Giao ước không chỉ có tại Núi Si-nai nhưng trãi dài từ công cuộc sáng tạo, thời Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi se, Đa vít,  đến thời các tiên tri. Giao ước giúp Y-sơ-ra-ên hiểu được mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời, chính là khía cạnh thần học của Giao ước “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi và các ngươi sẽ làm dân ta” (Lêvi 26:12).

Chương 7: Luật pháp được ban cho Y-so-ra-ên nhằm thể hiện sự yêu thương trong giao ước, để ứng dụng trong đời sống, qua chính sách và những thủ tục cho cộng đồng.Với đặc tính bao quát, nhưng luôn hướng đến cá nhân. Luật pháp (trong Cưụ ước) chứa đựng sức mạnh vô điều kiện vì được đặt trên nền tảng sự thánh khiết Đức Chúa Trời: “Ta là thánh, các ngươi phải nên thánh”(Lev 11:44).

Chương 8:Sự thờ phượng trong Cựu ước không chỉ là lễ nghi tôn giáo mà là hành động cụ thể hóa đức tin. Như là biểu tượng (symbolic) minh chứng mối tương giao thuộc linh;và làm hình bóng (typical) mang tính dự báo những biến cố xãy đến trong tương lai. Địa điểm thờ phượng  là nơi con người bước vào sự hiện diện của Chúa. Vài nơi đặc biệt như Bê-tên, Núi Si-nai, Ca-đe, đền tạm hay hội mạc. Ngoài sự đề cập về thời điểm mùa màng và nghi thức dâng tế lễ, yếu tố thần học về thờ phượng thật quan trọng, vì tất cả nghi thức và sinh tế đều là ẫn dụ về sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời. Ý niệm trọng tâm chính là sự chuộc tội được thực hiện bởi ân huệ nhờ sự trã giá xứng hợp của sinh tế. Sinh tế cao trọng nhất là Đấng Mê-si-a mà Ê-sai nói đến, hình bóng của sự chuộc tội trong Christ Jêsus.

Chương 9 và 10: Lòng tin kính là sự đáp ứng tích cực đối với sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, đức tin nơi Đức Chúa Trời và tỏ ra lòng yêu mến Ngài được thể hiện trong đời sống chúng ta. Những thể hiện đặc trưng gồm: Ca tụng, cầu nguyện và tôn vinh Đức Chúa Trời. Ca tụng khác với tôn vinh, bởi vì ca tụng là ý thức và nhớ lại sự thiện hảo của Đức Chúa Trời mang đến cảm xúc vui mừng, hân hoan đến nổi thốt lên, nói ra lời chứng về sự cao trọng ấy; còn sự ngợi khen là sự rao truyền, biểu tỏ, phản chiếu lại vinh quang của Đấng mà chúng ta chiêm ngưỡng khi thờ phượng Ngài.

Đạo đức và lòng tin kính trong Cựu ước đi đôi với nhau như Đức tin và việc làm trong Tân Ước. Bản tánh Đức Chúa Trời là đạo đức nên nền đạo đức học Cựu ước đặt nền tảng trên sự kiện loài người được dựng nên theo ảnh tượng của Ngài. Cựu ước triển khai các nguyên tắc đạo đức qua những mạng lịnh, lời dạy dỗ và các định chế cho Dân Y-sơ-ra-ên. Đặc biệt trong Mười Điều Răn.

Chương 11: Ý niệm khôn ngoan là một thể loại văn chương phổ cập của khu vực Cận Đông cổ đại, được đề cập trong Cựu ước qua các sách Châm ngôn (những câu ngắn), sách Truyền Đạo (những triết lý) và sách Gióp (những vấn nạn đời sống). Sự khôn ngoan nằm trong tấm lòng, là trung tâm cho những quyết định tri thức và đạo đức. Chúng ta phải học sự khôn ngoan, vì sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời và phổ quát cho tất cả mọi người. Nó như hai nẻo đường mà người đi theo nó mang tên là khôn ngoan hay ngu muội. Người ngu muội là người sống không mục đích, như Von Rad nói: “người thiếu mất nguyên tắc từ trong căn bản, khiến họ khinh thường sự chỉ dạy”.

Chương 12: Thánh Linh của Đức Chúa Trời xuất hiện trong những phần đầu Cựu ước, từ giai đoạn nguyên thủy trong Sáng 1:2 “Thần Đức Giê-hô-va vận hành”, đến Sáng 2:7 “hơi thở” và 6:3 “Thần Ta”; được đổ đầy trên từng cá nhân bằng những ân tứ, như Giô-sép, Bết-sa-lê-ên, Môi-se, Ba-la-am, với những chức năng và tình huống khác nhau.Thần Đức Giê-hô-va cũng ở trên Các Quan xét, các Vua và các vị Tiên tri.Chính Đức Thánh Linh sẽ hoàn tất sự nối kết giữa Đức Chúa Trời và nhân loại.

Chương 13:Tác giả diễn giải về Lời Tiên Tri trong Cựu ước rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng yếu tố quen thuộc của thế giới Cận Đông, rồi lắp đầy bằng nội dung mới mẻ và dùng nó để thực hiện các chủ đích cứu chuộc của Ngài. Môi-se được xem là tiên tri đầu tiên và chính Môi-se nói về dòng dỏi tiên tri lẫn Đấng Mê-si-a sẽ đến để làm ứng nghiệm tất cả những gì đã được Đức Chúa Trời khởi sự, bằng việc dấy lên những tiên tri trong Cựu ước. Tất cả sứ điệp tiên tri của họ đã được thành toàn (ứng nghiệm) trong Đấng mà Tân Ước giới thiệu là Đấng Christ.

Chương 14: Khải tượng về Vương quốc Đức Chúa Trời  có hai luồng tư tưởng: Một là tư tưởng táo bạo bởi Đức Chúa Trời chinh chiến để thiết lập cho họ một vương quốc; luồng tư tưởng thứ hai là một vương quốc toàn hảo sẽ xuất hiện bằng phương tiện hòa bình, như đã từng phản phất trong giao ước. Vương quốc ấy sẽ đến do ý chỉ Đức Chúa Trời, đó là sự sáng tạo mới đạt đến tột đỉnh vinh quang (Êsai 9 và 11). Đức Chúa Trời sử dụng một Đấng Trung Bảo, gọi là “Người Đầy tớ Đức Chúa Trời”, “Đấng Mết-sia” – Niềm Hy vọng của Y-sơ-ra-ên và nhân loại, để qua đó trật tự mới được thực hiện.

“Buổi sáng đến, đêm cũng đến” (Êsai 21:12), chính lúc Dân của Giao ước hưởng sự cứu chuộc huy hoàng, thì cũng là đêm tối triền miên trong sự phán xét. Thần học Cựu ước phần lớn sử dụng từ “phán xét” trong thì tương lai chưa hoàn thành, ngày tương lai ấy sẽ thành toàn ý chỉ của Chúa. Sự Bất Tử dành cho Tập thể (Tuyển Dân) rồi mới đến cá nhân (Người Ý thức là Tuyển dân). Sự chết vừa là biểu tượng của sự hủy diệt tội lỗi, vừa là một phần của chính sự hủy diệt. Âm phủ (Sheol) là chổ ở của người chết, và sự phục sinh thân thể là hy vọng sự sống đời đời là những chủ đề dẫn đến giáo lý về sự sống lại trong Tân ước. Tạo nền tảng thần học (Đức Chúa Trời là Nguồn sự sống), nền tảng đạo đức (Báo trã thiện ác), và nền tảng lịch sử (qua lịch sử tuyển dân đã, hiện nay và sẽ được dẫn dắt đến ngày chung kết). Hiểu được điều ấy,  chính là đạt được niềm hy vọng mà Cựu ước tạo tiền đề để hoàn tất trong Tân Ước qua Đấng Mết-sia – Đấng phải đến.

III. NHAN DINH:

*Mat manh:  Như trong Phần Dẫn nhập: Mục sư Arthur Glasser, Giáo sĩ Truyền giáo tại Trung Hoa đã nhận định: “Lổ hổng đích thực của phong trào truyền giáo chính là việc không sử dụng đầy đủ Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ chú trọng vào Tân Ước, tập trung vào những cá nhân trước mặt Chúa, thì Cựu ước nhấn mạnh đến sự hiệp nhất của mối liên hệ gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia.” Sau trích dẫn này của phần dẫn nhập, William Dyrness viết: “Như vậy, tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ đốc Nhân.” Tác phẩm cung ứng một cách nhìn mới về Cựu ước trong bối cảnh Phúc Âm hội nhập Văn Hóa Châu Á mà tác giả được thai nghén tác phẩm này trong những ngày dạy tại Philippin.

*Mặt Yếu: 1) Khi luận về Bản Tính Nhân Loại, tác giả phân tích qua 6 phần:[1] Hồn [2]Linh [3]Xác thịt [4]Lòng [5] Huyết [6] Các chi thể. Xin mạo mụi nhận định, tác giả trưng nhiều số liệu các từ ngữ được sử dụng  trong Cựu ước rất thuyết phục, ông trưng nhiều câu kinh thánh Tân ước dẫn chứng “lấy thánh kinh giải nghĩa thánh kinh” thật tốt. Nhưng, không biết tại sao câu kinh thánh quan trọng về con người trong I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 gồm có “tâm linh, tâm hồn và thân thể”, hoặc Hê-bơ-rơ 4:12 “ hồn, linh, xương tủy”  thì tác giả không đề cập!? Phải chi tác giả đưa phần luận về Lòng, Huyết và Các chi thể vào trong ba phần: hồn, linh và xác thịt thì gọn hơn và đở rườm rà (theo hệ thống thần học).

2)Tác giả đem một số truyền thoại, thần thoại Ba by lôn và  La Hi để so sánh khi giải luận (SGK 78,126-128). Tuy nhiên, đối tượng sinh viên tại Viện Thần Học Manila, Philippin có lẻ phần đông đến từ Châu Á, nhưng không hiểu tại sao không thấy tác giả đề cập đến bối cảnh tôn giáo, thần học và triết học Đông Phương. Nếu có, chắc chắn giá trị tác phẩm sẽ càng được nâng cao, vì sẽ đáp ứng khối lượng đọc giả và nghiên cứu sinh Châu Á nhiều hơn.

IV. Y MOI HUU ICH NIEM TIN :

Khi học về Thuộc tánh Đức Chúa Trời được mặc khải trong Cựu ước, có một phát hiện khá thú vị đối với chính tôi. Mặc dù đã giảng và dạy nhiều về Bản tánh quyền năng, thánh khiết, công nghĩa và sự yêu thương của Đức Chúa Trời; nhưng trong phần 4 này (SGK trang 64-68) tác giả luận Lòng nhân từ và yêu thương là thuộc tánh và công việc của Đức Chúa Trời thật đặc sắc.

Như tác giả nhận định:  “Chúng ta thường nỗ lực định nghĩa trùng lắp lên nhau. Những điểm cần phân biệt thì mù mờ, các ý nghĩa lại lấn sang ý niệm tương quan. Đó là nan đề khi giải luận về Đức Chúa Trời, việc làm ấy như những chiếc bình, chúng ta đem đến để múc nước trong một thùng lớn đã không chứa hết nước trong đó. Nhưng điều thường xãy ra là gì, giống như bình dầu của bà góa nọ không hề bị cạn, Chúa sử dụng những lời lẻ đơn sơ của chúng ta, nhân rộng, đưa nó vượt xa ý nghĩa nguyên thủy của mình.”(SGK 65)

Khi giải luận về tình yêu thương, tác giả khẳng định: “Trong các sách tiên tri, nhất là Ô-sê, tình yêu thương đạt đến mức độ diễn tả cao nhất. Tại đó, tình yêu thương thể hiện như một năng lực lựa chọn vượt trên lý trí (suprarational) nằm bên dưới để nâng đỡ giao ước giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa trời (Ô-sê 11:1-4).

Thú thật, khi đọc đến phần này, tôi đã phải dừng lại và suy nghĩ thật nhiều với nhiều câu hỏi: Tại sao tình yêu thương được diễn tả trong tiên tri Ô-sê là cao nhất? Tại sao là năng lực lựa chọn vượt trên lý trí, và nằm bên dưới để nâng đỡ giao ước, có nghĩa gì? Cám ơn Chúa, lời giải đáp đã đến khi tôi dụng công đọc lại sách Ô-sê, như vừa để củng cố vốn kiến thức đã có và tìm kiếm thêm những chi tiết hữu ích cho vấn đề này:

Trong đời sống, ngoài mối liên hệ huyết thống trong tình thương cha mẹ và con cái, ông bà và con cháu, thì tình thương cao nhất giữa hai cá thể, đó là tình thương vợ chồng. Giá trị của nó trong tiếng Việt diễn tả là Tình Yêu, Tình thương, tình nghĩa Vợ Chồng.Cái đáng yêu, thương và nghĩa của tình yêu vợ chồng là sự chung thủy. Thế mà, Chúa muốn tiên tri Ô-sê cưới một người vợ gian dâm, ngoại tình, có nghĩa là người phản bội tình yêu (Ô-sê 3:1-5).Chỉ có thể giải thích Hành động lựa chọn đó phát xuất từ một năng lực vượt trên lý trí, đó là tình yêu. Giống như Áp-ra-ham cầm dao, toan tra tay trên chính con ruột của mình là Y-sác, hành động theo nghi thức dâng hiến đó, là một việc ác không thể chấp nhận được trên phương diện đạo đức, nhưng lại được kể là đức tin, ông được xưng là tổ phụ đức tin. Đức tin vượt trên lý trí. Tại sao Áp-ra-ham có đức tin và hành động như vậy? Vì ông kính mến và tin cậy Đức Chúa Trời, ông yêu thương Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Tình yêu thương nằm bên dưới vấn đề, nằm bên trong sự kiện, để nâng đỡ giao ước chính là năng lực cho Áp-ra-ham hy sinh con trai Ysác. Bởi vì giao ước của Chúa là dòng dỏi ông sẽ đông như sao trên trời (Sáng 15:5). Cũng một thể ấy, theo lý trí, sự ngoại tình, gian dâm là một hành động không thể chấp nhận được trên phương diện đạo đức, nhưng tình yêu mặc dầu (agape love) là nền tảng căn bản (nằm bên dưới) để kiến tạo một tình yêu vượt trên thường tình của con người: Yêu thương một người vợ tội lỗi ngoại tình.

Đó là sự mặc khải về ơn cứu chuộc rộng lượng của Đức Chúa Trời trong Cựu ước. Thứ nhất, đối với dân Y-sơ-ra-ên, Tuyển dân của Ngài. Mặc dầu họ phản bội tình yêu của Chúa mà thờ lạy tà thần, hình tượng của Bái Vật Giáo, khác nào người vợ gian dâm, nhưng Chúa vẫn yêu bằng tình yêu rộng lượng, vượt lên cả lý trí. Thứ hai, là đối với nhân loại nói chung và chúng ta nói riêng. Tôi và chúng ta, những người đã chống lại Chúa trong thời điểm nào đó của quá khứ; dù đôi lần bội nghịch, phạm thượng trong cuộc đời, chúng ta đã phạm tội cùng Chúa, nhưng Ngài vẫn cứ yêu, yêu bằng tình yêu vô điều kiện thật kỳ diệu mà Tân Ước đã minh giải trọn vẹn trong Đấng Yêu thương, Chúa Jêsus là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời, Chúa chúng ta (IGiăng 4:9-10).

V. KET LUAN:

Cám ơn Chúa, Ủy Ban Tu Thư của Viện Thần Học đã chọn tác phẩm này chuyển dịch, làm tài liệu giáo khoa. Sách đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thần học Cựu ước, điền khuyết khoảng thiếu hụt tài liệu thần học trong công trường thuộc linh và truyền giáo hiện nay, như Arthur Glasser, nhà truyền giáo tại Trung Hoa đã nói: “Lổ hổng đích thực của công cuộc truyền giáo chính là việc sử dụng không đầy đủ lời của Đức Chúa Trời, chỉ chú trọng vào Tân ước và sách Thi thiên.  Trong khi Tân Ước tập trung phần lớn vào từng cá nhân thì phần lớn Cựu ước nhấn mạnh đến mối liên hệ hợp nhất liên hệ đến gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia.” Có thể nói mục đich của William Dyrness, tác giả sách, đã thành công khi khai mở Cựu ước cho các sinh viên tại Manila Philippin và các Cơ đốc nhân, độc giả của mình. Tuy nhiên, theo thiển ý chúng tôi, ước mong một ngày không xa, nền Thần học Việt nam sẽ được khai sáng và bầu trời Thần Học Việt sẽ xuất hiện những vì sao sáng chói, để khai minh cho chính Dân Tộc Việt, để mang Phúc âm Hội nhập Văn Hóa và cuộc sống Dân tộc chúng ta./-

Mục sư Nguyễn Văn Đại.


Chuyên mục

%d người thích bài này: