Đăng bởi: nguoichanbay | 11/01/2012

CẤP ĐỘ MỘT: ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT VỚI CHỦ ĐÍCH LÀ YÊU THƯƠNG.

CẤP ĐỘ MỘT:    

ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT  

VỚI CHỦ ĐÍCH  LÀ  YÊU THƯƠNG.

Vũ trụ và chúng ta là Kiệt tác của Nhà Danh Hoạ Tài Hoa – Đức Chúa Trời.

            Dầu vậy, Thí dụ nào cũng phiến diện. Cóthể hiểu cách hạn hẹp, Hoạ sĩ bình thường trong nghệ thuật vẫn phải chịu chi phối của chất liệu màu sắc, vải bố hoặc bút cọ để có thể làm phương tiện diễn đạt ý tưởng nghệ thuật mình để tạo thành tác phẩm, nhưng  như đã đề cập ở trên, người viết mong chúng ta hiểu trong  phạm trù nhỏ hẹp của thí dụ phải được hiểu  trên phương diện  nghệ thuật mà thôi. Có nghĩa là từ trước chưa có tác phẩm nào như thế và rồi từ mãng vãi trắng tinh, trống không, tác phẫm sáng tạo với bàn tay khéo léo của Họa sĩ  thì những gam màu rực rỡ của sự  sống lần lượt hiện ra  và hình thành tác phẫm vũ trụ trên khung hình sáng tạo thần kỳ.

            Đức Chúa Trời  Sáng Tạo  cũng chính là Đức Chúa Trời của Sự Quan Phòng  trong Mối Liên Hệ mật thiết trên Tạo Vật của mình.

 

            Mối liên hệ mật thiết ấy là một tiến trình. Có Ba Cấp Độ khác nhau.

 

 II. CẤP ĐỘ MỘT:    ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT   VỚI CHỦ ĐÍCH  LÀ  YÊU THƯƠNG.

            Mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo là nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời:“Các từng trời rao truyền sự vinh hiển Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ cơng việc tay Ngài làm. Ngày này giảng cho ngày kia, đêm nầy tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; cũng không ai nghe tiếng của chúng nó”.( Thi thiên 19:1-3 

            Mục đích tiếp theo của sự sáng tạo là dành cho Con Người. Ngài dựng nên vũ trụ dành cho chúng ta. Chân lý đã đã phơi bày rõ ràng trong tiến trình sáng tạo khi Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên vũ trụ, muôn loài vạn vật bằng lời phán, nhưng Ngài đã đích thân và trực tiếp dựng nên Con Người như ảnh tượng Ngài với đặc quyền “quản trị” mọi loài ấy. Con người chính là Hoàng tử và Công Chúa của Cung Điện Sáng tạo vậy.

            Trong Tân ước, Đức Chúa Giêxu khai mở cho chúng ta chân lý ấy trong câu chuyện Người Con Trai hoang đàng. Người Cha đã yêu thương Đứa con hoang đàng và cũng thật yêu thương Người Con Trai Cả khi nói rằng: “Tất cả của cha là của con” (Luca 15:31) Đặc quyền “quản trị”  nói lên mục đích sáng tạo của Đức Chúa Trời đối với Con người là Ngài dành tất cả mọi sự cho chúng ta, là con của Ngài ( Rôma 8: 32: Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao.)

            Edmond Jacob đã  nói: “Đức Chúa Trời  sáng tạo thế gian vì Giao Ước, nghĩa là vì kế hoạch yêu thương và cứu rỗi con người thông qua Dân Ysơraên. Người Nam và người Nữ là tạo vật thượng đẳng, qua họ mà các chủ đích của Đức Chúa Trời được biết đến.”(Jacob, 137) (*5)

            Như vậy,  Mối Tương giao giữa Đức Chúa Trời trong thân vị Đấng Sáng Tạo  và  Mối liên hệ với Tạo vật của Ngài phải được duy trì liên tục mới thích hợp với bản tánh cao quí của Ngài.

            Nhưng vấn đề được đặt ra  có phải là Đức Chúa Trời đã hoàn thành công cuộc sáng tạo cách tuyệt vời và hoàn mỹ “một lần đủ cả” rồi thôi !? – như những người theo Thuyết  Duy Thần (Deists) đã chủ trương rằng sau khi hoàn tất công cuộc sáng tạo Đức Chúa Trời đã xoay mặt đi với tạo vật của Ngài, như chúng tôi đã đề cập ở phần dẫn nhập. Vấn đề không dừng lại một cách đột ngột, phủ phàng và bất hợp lý  như vậy đối với một Đức Chúa Trời Toàn Tri và bản tánh vô hạn của Ngài được! Đức Chúa Trời đã không quay mặt  khỏi công  cuộc sáng tạo, mà trái lại Ngài quay mặt hướng về tạo vật Ngài cách liên tục.

            Chúng ta suy nghĩ đến  từ ngữ “nghỉ” trong  Sáng thế ký 2:1-3

“Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi Ngài ban phuớc cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã dựng nên  và đã làm xong rồi”.

            Từ ngữ “Sabát” không xuất hiện trong phân đoạn này, nhưng Môi se viết về ngày sabát, ngày thứ bảy của tuần lễ, trong ý niệm Hi bá rất rõ.

            “Ngày thứ bảy” nhóm từ này được đề cập ba lần trong câu 2 và 3. Chữ sabát có căn tự Hêbơrơ là [Shabbat] nghĩa là “ngưng làm việc, nghỉ ngơi

            Ngày Sabat đầu tiên  (2:1-4)  xảy ra không phải vì Ðức Chúa Trời mệt mỏi bởi công việc sáng tạo của Ngài,   bởi vì “Ðức Chúa Trời là Ðấng không hề mệt mỏi”(Êsai 40:28).

            Ðức Chúa Trời biệt riêng ngày thứ bảy vì sự sáng tạo của Ngài đã hoàn tất và Ngài hài lòng với công việc đã làm. “Ðức Chúa Trời thấy các công việc Ngài đã làm thật rất tốt lành”(1:31).

            Có điều đặc trưng về ngày nghỉ, ngày thứ bảy của tuần lễ sáng tạo.

a)Thứ nhất, không có sự đề cập nào về “buổi chiều và buổi mai”, từ đó sự nghỉ ngơi của Ðức Chúa Trời  sẽ không có kết thúc . Tiếc thay, tội lỗi của loài người đã làm gián đoạn sự nghỉ ngơi của Ðức Chúa Trời. Ngài đã đến với Adam và Êva (Sáng 3:8-9), đã đến với nhân loại và Ngài tiếp tục làm việc để thực hiện sự cứu giúp con  người, dù trong ngày sabat.  Tân ước dẫn chứng rằng, Chúa Giêxu đã xác nhận điều đó qua mục vụ của Ngài khi chữa bệnh cứu người trong ngày sabat:

      “Tức thì người ấy được chữa lành, vác giường mình mà đi. Vã, bấy giờ là  ngày sabat” ; “nhưng Ngài phán cùng họ rằng : Cha ta làm việc cho đến  bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy”(Giăng 5:9, 17)

       Cho nên , Henry H. Halley tác gỉa Thánh Kinh Lược khảo đã luận rằng: “Ðức Chúa Trời yên nghỉ không phải là yên nghỉ tuyệt đối (Giăng 5:17) nhưng chỉ nghỉ ngơi sau công trình sáng tạo đặc biệt này thôi(* 6).

b)Thứ nhì, một sự quan tâm khác của Ðức Chúa Trời thể hiện rằng, không có ghi chép nào cho thấy Ngài ban phước bất kỳ ngày nào trong sáu ngày kia, nhưng Ngài đã ban phước cho ngày thứ bảy (Sáng 2:3). Khi ban phước cho ngày đó Ngài biến nó thành một phước hạnh cho con người trong cuộc sống. Điều đó cho thấy Đức Chúa Trời luôn yêu thương và giữ mối quan hệ mật thiết với con người.

 c)Thứ ba, khi ban phước cho ngày thứ bảy, Ðức Chúa Trời thánh hóa ngày ấy

(Sáng 2:3) nghĩa là  tiếp tục hành động từ lòng yêu thương con người, Ngài hành động cách đặc biệt khi “sáng tạo” (làm nên) lấy ngày nghỉ làm nên ngày thánh. Ngài biệt riêng ngày ấy vì những mục đích đặc biệt của Ngài.

            Nhà Giải Kinh  Warren W.Wietsbe đã luận rằng: “Giêhôva là Ðức Chúa Trời của thời gian cũng là Chúa của sự vĩnh hằng. Chính Ngài là Ðấng đã tạo nên thời gian và thiết lập sự vận hành của các tinh tú cùng quỹ đạo chung quanh mặt trời. Chính Ngài là Ðấng đánh dấu tuần lễ bảy ngày và biệt riêng một ngày cho chính Ngài”(*7)

            Còn hơn thế nữa, Mối tương quan mật thiết  giữa Đấng Sáng Tạo và Nhân Loại cũng thể hiện trong sự thăm viếng thường xuyên của Đức Chúa Trời đối với Ađam và Êva. Kinh thánh  chép rằng: “Li chiu, nghe tiếng Giêhôva Đức Chúa Tri đi  ngang qua vườn, Ađam và vợ n mình gia bi cây, đ tránh  mt Giêhôva Đức Chúa Tri.”(Sáng 3:8 ).

            Hình ảnh ấy bày tỏ cho chúng ta biết về sự tương giao liên tục của Chúa đối với con người sau sự sáng tạo nguyên  thuỷ. Cho dù  con người đã đi theo ý riêng và phạm tội, và cho dù điều ấy đã huỷ phá sự tương giao mật thiết giữa Chúa và Con người.  Sáng thế ký 3:7-10 chép:

“7 Ðoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân . 8 Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.

 9 . Giê-hô-va Ðức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?

 10 A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình.”

 

            Mặc dù con người phạm tội thì Ðức Chúa Trời vẫn yêu thương. Ngài đã giết con thú lấy da làm áo che thân cho con người (Sáng 3:21) Hành động ấy hàm chứa chân lý cứu rỗi: “Chiên Con bị giết từ buổi sáng thế” (Khải 13:8) làm hình bóng cho Chúa Cứu Thế chịu chết đền tội cho con người. Chúa vẫn yêu thương tạo vật của Ngài trong mối tương quan mật thiết cho dù đối tượng ấy ra sao, hay là có xứng đáng hay không?

 


Chuyên mục

%d người thích bài này: