Đăng bởi: nguoichanbay | 17/02/2013

Hồi Ký Truyền Giáo Việt Nam

ricefield-3
TRỞ VỀ

Lời Mở Đầu:

Tôi trở lại Hoa Kỳ sau chuyến đi truyền giáo tại Việt Nam cùng Cơ Quan “Phục Vụ Trong Sứ Mạng” (Serving In Mission – SIM). Tôi đã bịn rịn chia tay những người thân và Quê Hương tôi trong cái nắng gay gắt của những ngày cuối Tháng Mười. Saigon hai mùa mưa nắng. Cái nắng nóng của Miền Nhiệt Đới – nơi nung đúc trong tôi từ thơ ấu cái nhiệt tâm phục vụ, và đã bùng cháy trong tôi niềm nhiệt huyết tận hiến cuộc đời mình cho Đức Chúa Trời. Cảm ơn Cha Mẹ đã nung đúc nên con qua bao mùa mưa nắng. Bởi máu của Cha, thịt của Mẹ, đã nuôi lớn đời con giữa mưa nắng nghìn trùng trong cuộc đời này, để hình thành trong con một tâm chí tận hiến cuộc đời cho Chúa. Xin cảm ơn Quê Hương mang mưa nắng nghìn trùng rải xuống mãnh đời tôi.

Cám ơn Chúa cho con được làm một Người Việt Nam, cho dù ngày nay con chỉ là một Người Việt tha hương, một đứa con lang bạt nơi xứ lạ quê người. Để từ mưa nắng mù khơi, đã trỗi dậy trong con cái xao xuyến, bồi hồi khi đặt chân trở về nơi chôn nhao cắt rốn trong chuyến đi nầy; và đã lay động cơ hồ như chao đảo trong tâm hồn con nỗi niềm ray rứt của một thân phận khi đã cất bước xa rời Quê Cha Đất Tổ của mình. Cái nóng hừng hực của Saigon Cuối Tháng Mười mấy ngày trước đây, cơ hồ vẫn còn âm ĩ trong tôi; mặc dù tôi đang sống trong cái lạnh giá của những ngày vào thu của Vùng Miền Đông Hoa Kỳ. Thành phố Charlotte, nơi tôi sinh sống và phục vụ, bây giờ đã thay màu đổi lá. Những chiếc lá xanh tươi hôm nào, nay đã ngã vàng, chuyển qua màu cam, đỏ, nâu, rồi rơi rụng. Gió mùa thu lay lắc từng cơn, lướt trên thiên nhiên và trên tâm hồn người tha hương, làm lạnh thêm, rét thêm, giá buốt thêm trong lòng người viễn xứ.
Nhưng may thay cho tôi, cơn gió ấy chỉ làm lạnh lẽo bên ngoài cơ thể tôi, nhưng tình yêu Quê hương, tình cảm thiêng liêng dành cho nơi mà mình sinh ra và lớn lên qua hai mùa mưa nắng, đã thổi bùng nhiệt huyết đang hừng hực trong tâm hồn tôi. Cái nhiệt tâm ấy làm cho tôi ấm áp tận tâm can sau những ngày được trở về phục vụ Chúa tại Việt Nam. Còn gì quý báu cho bằng khi được trải lòng mình trên trang giấy, để ghi lại những kỷ niệm trong hành trình truyền giáo đáng trân quý nầy. Bởi vì, những dấu chân trải qua trong cuộc hành trình được phát sinh từ những tấm lòng của những con người yêu kính Chúa! Chúng tôi vâng phục Đức Chúa Trời và dấn thân trong sứ mạng Ngài trao ban. Chúng tôi chỉ là những con người đơn sơ, yếu đuối và thật đã cảm thấy mệt mõi qua những chặng đường dài. Chúng tôi là những con người bằng xương bằng thịt, đôi khi đã phải lo sợ khi đối diện với những bất ngờ, những nguy hiểm hòng ập đến trải suốt cuộc hành trình. Nhưng chúng tôi ra đi trong sứ mạng và cùng hành động với những con người có cùng một tâm chí hầu việc Chúa, cùng một tấm lòng khát khao phục vụ Đồng Bào thân yêu. Chúng tôi trải nghiệm những gian khổ nhưng ngập tràn ơn phước trong suốt cuộc hành trình, tôi thấm thía hơn câu Kinh Thánh từng là kim chỉ nam cho những nhà Truyền giáo: “Những bàn chân Người rao truyền Tin Lành là tốt đẹp biết bao!” (Rô-ma 10:15). Chúng tôi không cô đơn. Thật vậy, nhìn lại quảng đường đã qua, chúng tôi nhìn biết Chúa đã đồng hành. Chẳng những Ngài đã đồng hành mà hơn thế nữa, Ngài đã đi trước chúng tôi, Ngài vạch đường rẽ lối. Chúng tôi chỉ đi theo sự hướng dẫn của Chúa. Chúng tôi bươn theo dấu chân của Ngài (I Phi-e-rơ 2:21); và chúng ta rất dễ nhận biết dấu chân của Chúa vì vết chân yêu thương ấy vẫn hằng in dấu đinh và vết máu sự hy sinh của Chúa. Những mệt nhọc, nguy hiểm trong chuyến đi của chúng tôi nào có đáng gì khi sánh với con đường Gô-tha – Chúa đã đi qua. Trong sự dấn thân tưởng chừng như phải hy sinh, ban cho và chia sẻ thật nhiều, nhưng chính tôi lại nhận được trở lại cho mình nhiều hơn những gì từng suy nghĩ đến. Thật như Lời Chúa phán: “Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.” (Ê-sai 55:8-9).
Khi về lại Hoa Kỳ, tôi đã làm chứng cho Hội Thánh nơi tôi phục vụ và cho những người thân quen trong Cộng Đồng Người Việt nơi tôi sinh sống. Tuy nhiên niềm vui trong hành trình vừa qua và những suy tư về khải tượng cho Việt Nam vẫn cứ hiện lên trong tâm thức tôi, hầu như không ngơi nghỉ. Tôi không thể ngồi yên. Tôi không thể nín lặng. Vì thế, tôi buộc phải để dòng cảm xúc nóng hổi đang trào dâng như phún xuất thạch từ hỏa diệm sơn trong tâm hồn mình, tuôn trào láng lai trên trang giấy, trên những trang hồi ký đơn sơ vụng dại này.
Nguyền xin lửa thánh từ Bụi Gai Cháy Không Hề Tàn năm xưa, nơi Chúa đã trao sứ mạng của Ngài cho Môi-se, Người Tớ Thánh của Ngài, xin Lửa Thánh Linh ấy cứ mãi bùng cháy trong con lòng nhiệt huyết tận hiến và phục vụ Dân Tộc Con mãi mãi, không thôi! (Xuất 3:2-3; 10-12). Xin cho con học đòi tâm tình của Tiên tri Giê-rê-mi, để dạn dĩ tuyên bố rằng: “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhân danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, và tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa” (Giê-rê-mi 20:9). Từ cõi vô minh, tôi được khai sáng bởi Lời Chúa. Bất chợt tôi nghiệm ra rằng: Nắng đổ lửa của Saigon đã làm sôi sụt tâm hồn tôi một tình yêu cháy bỏng đối với Dân Tộc mình; nhưng chỉ có Lửa Thánh Linh mới nung nấu tâm linh tôi một bầu nhiệt quyết để dấn thân và phục vụ Quê Hương Việt Nam bằng một tấm lòng kính sợ Chúa và bằng tình yêu thương linh hồn Đồng Bào Việt Nam một cách chân thật tự đáy lòng mình.
Tôi quỳ xuống, ràn rụa nước mắt, dốc đổ lòng mình cầu nguyện cho Dân Tộc tôi – Việt Nam thương yêu.
Tôi đứng lên. Và bổng dưng bật ra tiếng hát tự đáy lòng mình lời một bài hát xưa lơ xưa lắt:
“Lạy Chúa ơi! Đây đời con! Đây hồn con! Đây lòng con!”

Ngộ thật! Đây là một bài hát do Mục sư Đặng Văn Trung – Nhà Truyền Giáo cho Sắc tộc Bahna tại tỉnh Pleiku, Miền Trung Việt Nam – sáng tác. Bài ca kỷ niệm này chúng tôi đã hát cùng với nhau tại Trung Tâm Truyền Giáo An Khê – Phú Phong vào mùa thu năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai (1972). Bây giờ, gần bốn mươi năm sau (2012), bất chợt tôi hát lại bài hát này, không phải để nhen nhúm một kỷ niệm xa xưa, nhưng để sắc son dặn lòng mình một lời tâm niệm: “Có con đây, xin hãy sai con”(Ê-sai 6:8).

“Lạy Chúa ơi! Đây đời con! Đây hồn con! Đây lòng con!”

Charlotte vào thu, tháng mười, hai ngàn mười hai.
Phan Du Mục.

canh-vn-21

Chương I. Trở Về:

Sau gần một tuần lễ họp mặt đầy ơn phước tại Thái Lan với các anh chị em cùng tâm chí phục vụ trong Cánh Đồng Truyền giáo tại Việt nam, chiều nay, chúng tôi lên đường về Việt nam. Chuyến bay của hảng Hàng Không Thổ Nhĩ Kỳ khởi hành lúc 3:00pm ngày 13/10/2012 từ sân bay Bangkok, và sẽ đến sân bay Tân Sơn Nhất, Saigon vào lúc 5:00pm cùng ngày.
Nhóm Truyền Giáo của chúng tôi gồm có bốn người: Một người Mỹ là Tiến sĩ Lâm Hân (Dr.Lynn Haines, gọi tắc là ông Linh), một người Hoa đến từ Singapore là Bác sĩ Anh-Rê Năm (Dr.Andrew NG, gọi tắc là Bác Năm, vì cái họ của ông Andrew là “NG” phát âm giống như Số Năm [ựng] trong Hoa ngữ), cùng hai người Việt là Mục sư Nguyễn Đại Phúc (là một Mục sư trẻ đến từ Hội Thánh Trưởng Lão Hoa Kỳ, hiện đang làm Chaplain – Tuyên Úy Bệnh Viện tại Rock Hill, North Carolina), và tôi – là Mục sư Quản nhiệm Hội Thánh Liên Hiệp Người Việt tại Thành phố Charlotte, North Carolina – nơi có trụ sở chính của Cơ Quan Truyền Giáo SIM. Chúng tôi cùng đến Việt nam trong tinh thần phục vụ Chúa của Cơ quan “Phục vụ trong Sứ Mạng” (SIM – Serving In Mission).

SIM là cơ quan truyền giáo đã được thành lập hơn 120 năm. SIM phát triển song hành cùng Cơ Quan Truyền Giáo CMA (The Christian and Missionary Alliance -Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp). Được biết, hai vị Lãnh Đạo của hai Cơ Quan: CMA là Tiến sĩ A.B.Simpson và SIM là Tiến sĩ Roland … vốn là hai bạn học cùng một Chủng Viện tại Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp, mỗi vị ra đi mỗi hướng. Tiến sĩ A.B.Simpson về Châu Á và CMA đã chính thức mang Tin Lành vào Việt-nam năm 1911, còn Tiến sĩ Roland …. thì hướng đến Châu Phi.
Sau hàng trăm năm, SIM chẳng những góp phần truyền giáo, gây dựng và phát triển Hội Thánh tại Vùng Châu Phi xa xôi, ngày nay Cơ Quan Truyền Giáo SIM đã trở nên một tổ chức Nhiệm vụ Quốc tế, đã thi hành Đại Mạng Lịnh của Chúa “Môn Đệ Hóa cho Muôn Dân” (Ma-thi-ơ 28:18-20), SIM đã từng bước phát triển và đã gửi ra hơn 1600 giáo sĩ và góp phần hoạt động phục vụ thiết thực khắp nơi trên cánh đồng truyền giáo thế giới. SIM hoạt động trong nhiều lãnh vực, nghề nghiệp khác nhau trong xã hội, như công tác giáo dục, Y tế Cộng Đồng và Mục Vụ Truyền Giáo Thể Thao Cơ Đốc. SIM đã hoạt động trong hơn 60 quốc gia, đặc biệt tại Châu Phi, Châu Á, Nam Mỹ và rải rác trong một số quốc gia trên toàn cầu, kể cả những quốc gia đang bị áp bức trong vấn đề tôn giáo.

Nhưng đặc biệt, hiện nay trong bối cảnh ngoại giao thân thiện của Chính Phủ Việt Nam mở rộng sự bang giao cùng thế giới, nhất là với Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Hai quốc gia có thể nói là cựu thù, nay đã từng bước đến gần nhau ngồi lại hòa đàm, hàn gắn vết thương chiến tranh, xóa đau buồn quá khứ và hướng đến một tương lai hòa bình, thịnh vượng. Trong bối cảnh ấy, đây là lần đầu tiên SIM chính thức đặt chân vào Việt Nam (từ ngày 13 đến 26/10/2012).

Mục tiêu của chúng tôi trong chuyến đi này chủ yếu là nghiên cứu tình hình, tìm hiểu tiềm năng và nhu cầu thực tế của Hội Thánh Tin Lành tại Việt Nam; đồng thời, chúng tôi tìm hướng hợp tác, xây dựng và phát triển công cuộc truyền giáo qua ba lãnh vực Giáo Dục Đào Tạo, Y tế Cộng Đồng và Truyền Giáo Thể Thao, theo như tôn chỉ truyền giáo của SIM đã vạch ra. Do đó, khi tìm hướng hoạt động trong tương lai, đương nhiên là ưu tiên cho Hội Thánh, nhưng chúng tôi cũng sẽ vươn tầm đến những đơn vị hay tổ chức phù hợp với chủ trương của SIM, cho dù đó là tổ chức hợp pháp của tư nhân hay tổ chức xã hội của Chính phủ. Đây là một sứ mạng trọng đại. Riêng tôi suy nghĩ đây cũng chính là một cơ hội quý báu cho Cánh Đồng Thiêng Truyền giáo tại Việt Nam. Tôi tin cậy ơn thần hựu của Chúa, sự quan phòng của Chúa trên Hội Thánh của Ngài tại Việt Nam. Tôi tin tưởng tiềm năng của Cơ Quan SIM. Tôi cũng tin quyết rằng, trong sự tể trị của Chúa, sau 35 năm phục vụ Chúa tại quê nhà, Chúa đưa tôi sang Hoa Kỳ không phải là vô cớ. Tôi nhận biết ý chỉ của Chúa trên chức vụ mình khi phải rời Việt nam sang Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong quá khứ, đôi lần tôi vẫn ưu tư, tự vấn rằng: Tại sao Chúa lại đặt để con trong một hoàn cảnh éo le như vậy!? Rời một Hội Thánh lớn tại Việt Nam để đến một Hội Thánh nhỏ bé như vậy!? Cám ơn Chúa đã ban cho tôi nghị lực để phục vụ Chúa cách trung tín trong mọi hoàn cảnh và chờ đợi câu trã lời của Ngài. Chúa không chậm trễ để trã lời câu hỏi ấy. Câu trã lời được bày tỏ rõ ràng cho tôi qua sứ mạng truyền giáo mà tôi đang tâm sự cùng bạn hôm nay. Cám ơn Chúa, Ngài xử dụng tôi không chỉ phục vụ trong một Hội Thánh nhỏ tại đây mà thôi, nhưng nhờ Hội thánh nhỏ bé này mà tôi mới có thể nhận lảnh một nhiệm vụ lớn lao trong công tác truyền giáo cho Dân tộc tôi. Và, điều đó đã được Chúa hành động bắt đầu từ chuyến đi này. Vì lẽ đó, xin cho tôi được viết lên những trăn trở, những ưu tư trong lòng tôi – một người tôi tớ hèn mọn của Chúa trong thời gian chờ đợi sự trở về thăm lại Quê Hương.

bien-chieu1

Trở về trong Tâm thức.

Mấy độ xuân qua , mấy lần dừng bước,
Mấy hành trình diệu vợi được dừng chân ?
Về quê cha, nghĩ đến được mấy lần ?
Trong tâm thức, dường như là nhiều lắm…!

Trong ký ức tuổi thơ, tôi là một đứa trẻ thuộc lớp nghèo thành phố. Mười một tuổi tôi phải xa cha mẹ già. Tôi rời Lái thiêu – quê ngoại tôi để xuống Sài-gòn đi học. Tôi giúp việc nhà cho một người thân của chị dâu tôi, để có tiền đi học và cơm ăn. Trong hoàn cảnh ấy, mỗi lần được trở về Quê Ngoại là Lái thiêu thăm ba má tôi là một điều gì đó quá khó, quá tầm tay của một đứa bé nghèo khổ như tôi. Cho nên, cái cảm xúc rạo rực, cái bồi hồi của ngày trở về quê ngoại năm xưa vẫn hằn sâu trong kỷ niệm tuổi thơ của mình.

Người Việt Tha Hương nào cũng có nỗi niềm khao khát được trở về quê hương. Nhạc sĩ Phạm Duy là một điển hình trong nhóm Văn nghệ Hải ngoại. Trong Tuyển tập nhạc mang chủ đề “30 năm, Về thôi”, Nhạc sĩ Phạm Duy trong lời giới thiệu ca khúc “Trở về mái nhà xưa” đã tâm sự:
“Kể từ ngày xuất ngoại xấp sỉ 20 năm rồi. Tôi xa Quê hương, xa Huế, rất nhiều khi tôi có ý nghĩ trở về thăm quê cũ. Trở về Huế, Sài-gòn và Hà Nội, nhưng tôi cứ bâng khuâng, ngại ngùng, lưỡng lự. . . Về thôi! Làm gì có trăm năm mà đợi, làm gì có kiếp sau mà chờ! . . .”

Khi rời khỏi Quê Hương, tôi đã suy nghĩ đến ngày trở về trong một tương lai gần, nhưng chắc chắn thời gian không phải là trăm năm để đợi chờ, cũng không phải hai mươi năm cứ bâng khuâng, ngại ngùng, lưỡng lự . . . Tôi nghĩ mình sẽ trở về. Tuy nhiên, tương lai là vô định, nhưng tương lai cuộc đời tôi nằm trong cánh tay đại năng của Chúa.

Nỗi lòng của những con người ly hương khi nghĩ về cố hương thì không bút mực nào tả xiết. Ngày xưa, khi Dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày qua Ba-by-lôn, họ nhớ về Si-ôn và khóc. Si-ôn là núi thánh, là thủ đô của quê hương họ, là nơi có đền thờ Đức Chúa Trời. Si-ôn là biểu tượng của Tuyển Dân Ngài. Bên bờ sông Ba-by-lôn của Dân Ngoại, Dân Y-sơ-ra-ên nhớ về núi thánh Si-ôn và khóc.

Thi thiên 137:1-4 chép rằng:
“Chúng tôi đang ngồi trên mé sông Ba-by-lôn, Bèn nhớ lại Si-ôn, và khóc. 2 Chúng tôi treo đàn cầm chúng tôi trên cây dương liễu của sông ấy. 3 Vì ở đó những kẻ bắt chúng tôi làm phu tù, Có biểu chúng tôi hát xướng; Kẻ cướp giựt chúng tôi có đòi chúng tôi hát mừng, mà rằng: Hãy hát cho chúng ta một bài ca của Si-ôn. 4 Trên đất ngoại bang, Chúng tôi làm sao hát được bài ca của Ðức Giê-hô-va?”
Trong thân phận nô-lệ trên đất ngoại bang, họ bị đòi hỏi phục vụ bằng lời ca, tiếng hát của Dân Tộc mình. Nhưng Dân Y-sơ-ra-ên làm sao hát được trong thân phận nô-lệ xứ người. Tiếng hát bặt tăm và chiếc đàn cầm của dân tộc đã lặng câm, treo lơ lửng trên cành dương liễu, bên cạnh giòng sông ngoại bang. . .

Còn tôi thì sao? Cám ơn Chúa, tôi được đến định cư ở một xứ sở tự do, tôi không phải mang thân phận nô-lệ như Người Y-sơ-ra-ên tại Ba-by-lôn. Tôi đang sống trong một Quốc Gia mà Quyền Con người được đề cao hàng đầu trong các sắc luật. Con người được sống trong tự do. Con người được tự do phát biểu, tự do viết lách, sáng tác theo suy nghĩ của mình. Cho nên, tôi và các con có hiệp lại làm một tờ báo, mang tên là Tạp Chí Cội Nguồn – với khẩu hiệu là Tìm về bản sắc tâm linh Người Việt. Chỉ Cái tên thôi cũng gieo trong lòng người đọc một khao khát trở về với cội nguồn Dân Tộc, cho dù chỉ là trên văn chương chữ nghĩa, qua những dòng tư tưởng mà thôi.

Và trong cuộc sống tự do đó, tôi xử dụng ân tứ Chúa cho để viết lách cho một vài tờ báo địa phương của Cộng Đồng Người Việt. Chuyên mục mà tôi thường viết là Một Góc Đời Thường và Tiếng Mẹ Đẻ – chuyên mục bảo tồn văn hóa Việt. Tôi nghĩ rằng đây cũng là một phương cách truyền giảng qua văn phẩm, tôi viết lách với mục đích để Phúc Âm hội nhập văn hóa trong đời sống Người Việt. Trong phương diện viết lách này, mấy năm trước đây, tôi có suy nghĩ đến ngày trở về quê hương và đã viết một số bài, trong đó có một tùy bút và sáng tác một bài thơ. Giờ đây, khi ngồi viết hồi ký, tôi chợt nhớ đến hai bài này. Tôi tìm lại trong những tác phẩm đã viết, rồi mang ra đọc lại. Tôi đọc, để được nhìn lại chính mình.

Bài thơ: Cánh Chim Lang Bạt.

Như cánh chim lạc đàn
Vươn mình tìm về quê cha đất tổ
Giữa bộn bề, hối hả nhịp thời gian
Mang nỗi niềm trìu trĩu thuở hồng hoang.

Tôi đã về quê cha thật sao ?
Bướm là người ?
Hay người là bướm bay vuốt ở trên cao
Hồn rạo rực giữa bao la gió núi
Lãng đãng, phiêu bồng trong vòm trời ký ức
Hòa vào hồn thiêng sông nước hôm nay
Mấy độ xuân qua , mấy lần dừng bước,
Mấy hành trình diệu vợi được dừng chân ?
Về quê cha, nghĩ đến được mấy lần ?
Trong tâm thức, dường như là nhiều lắm…!

Sống ly hương dòng đời nào êm ắng
Chợt hồi hương, qua câu hát bên đường
“Mưa Ca-li không buồn bằng mưa Sài-gòn…”*
Lời dung dị, sao rừng thương, biển nhớ!

Trên đất khách, hồn tìm về nguyên thủy
Vần thơ xưa xao xuyến tận tâm hồn

“Anh thương binh về thăm nguyên quán
Một bàn tay vĩnh viễn gởi sa trường
Anh trở lại với bàn tay còn lại
Vẫy vẫy chào non nước với quê hương…

Quê hương anh mây giăng đèo ải
Chiều ấu thơ êm ả câu hò
Nước mấy nguồn , sông hẹn về cửa Ðại
Ngũ Hành Sơn năm cụm núi xanh lơ…” **

Tôi đã về quê cha thật sao ?
Mơ thành hiện thực, phải không nào ?
Rưng rưng tưởng niệm người đã khuất
Giao ca thế hệ, lệ tuôn trào.

Tôi đã về quê cha thật đây
Cánh chim lang bạt đã sum vầy
Trùng trùng điệp điệp niềm hoài vọng
Ðan kết vào hồn, tổ ấm đây.

(*) Trích Nhạc phẩm Mưa Ca-li Mưa Sài-gòn do Ca sĩ Giao Linh hát.
(**) Trích Bài Thơ Năm Cụm Núi Quê Hương của Thi sĩ Tường Linh.

canh-vn-261

Tùy Bút:

GỐC MAI GIÀ

Tôi nôn nao trong lòng sau ba mươi năm xa xứ, nay trở về quê xưa với hành trang là lòng hoài hương và tình thương đối với đứa cháu kêu tôi bằng cậu. Nhân dịp Tết Nguyên đán, vợ chồng nó mời tôi về quê “ăn tân gia” vì mới cất một căn nhà khá đẹp. Căn nhà ấy do tôi giúp đỡ cháu tiền xây cất với một điều kiện nhỏ nhoi, ấy là nhớ để lại gốc mai già trước sân.
Ngồi trên máy bay sang trọng, tôi thả hồn về vùng trời ký ức… tuổi thơ hoa mộng với biết bao kỷ niệm. Tết năm nào cũng vậy, ba dạy tôi lặt lá mai để hoa kịp nở mùng một tết. Ðón tết thật vui, nhà có hai chị em, tôi phụ ba cắt nhánh mai đem “chưng” ở tủ thờ, chị thì giúp mẹ nấu nướng đón xuân. Ðêm giao thừa mai nở rộ, chúng tôi ra sân đứng bên gốc mai đốt pháo thật là vui. Ba tôi dặn, nhớ chăm sóc gốc mai này để mỗi năm đón tết.
Thời gian đã gõ nhịp xuân, hạ, thu, đông, như lướt trên phím đàn đen trắng của đời người. Tôi vào quân ngũ nên luôn vắng nhà. Chị tôi đi lấy chồng làng bên. Dầu vậy, cứ tết đến là chúng tôi cố gắng về vui xuân bên cha mẹ, vui bên gốc mai cũ ngày nào.
1975. Tôi ly hương. Cuộc viễn du trải qua bao mùa xuân lang bạt xứ người, tôi cố gắng vươn lên giữa muôn ngàn thử thách, trải qua những mùa xuân xa xứ. Khi cha mẹ mất, chị tôi dọn về ở để giữ đất, giữ nhà. Chị tôi cố giữ lại gốc mai già sần sùi và xem như một kỷ vật của cha me để lại cho chúng tôi.
Rồi chị tôi cũng qua đời. Mảnh đất giao lại cho cháu tôi bảo quản…
Tiếng loa thông báo từ phi hành đoàn đưa tôi về với thực tại. Tôi thật đã về lại quê hương sau bao năm xa cách! Cháu tôi đón từ sân bay và đưa về thẳng về làng. Làng quê nay thay đổi quá nhiều! Biết bao căn nhà mới được cất lên, và nhà cháu tôi cũng vậy.
Ba mươi tết , cũng là ngày cháu tôi làm lễ mừng Tân gia, tôi sung sướng khi nhìn thấy hạnh phúc của gia đình cháu tôi vượt qua cảnh nghèo khổ. Tôi xúc động vì nghĩ rằng mình đã làm một điều gì đó thật tốt, không phải chỉ cho cháu, mà cơ hồ như một chút lễ vật từ tấm lòng đứa con ly hương kính dâng lên ba mẹ tôi trên mảnh đất này. Nước mắt từ lâu đã khô trong tôi, bây giờ tuôn chảy, tôi không cầm lại được. Tôi bước ra trước thềm nhà và cứ khóc, khóc như đứa trẻ ngày nào bị cha rầy, mẹ mắng. Trong tro tàn kỷ niệm, tôi chợt nhớ đến cây mai ngày nào bên cha mẹ đón xuân . . . Ờ! chính tại nơi này! nơi này đây là cây mai kỷ niệm được trồng. Tôi hoảng hốt phát hiện sao cây mai bây giờ không còn nữa? Nó đã chết, hay là ai đã chặt bỏ đi đâu? Có lẽ cháu tôi vì cất căn nhà lớn nên đã đốn cây mai rồi? Tôi ray rức trong lòng khi nghĩ đến lời dặn dò của người xưa để lại, một nỗi niềm xót xa khôn tả, quặn thắt trong lòng tôi. Dường như tôi đang bị mất mát một bảo vật hay một gia tài to tác lắm!

Có lẽ không thấy tôi vào nên cháu tôi ra tìm tôi. Nhân tiện không có ai, tôi liền trách nó: “Sao con không nhớ lời cậu dặn. Cất nhà chi cho lớn mà đốn mất cây mai?” Tôi nói với cháu rất nhẹ, nhưng dường như tự lòng tôi là một lời kết án đối với kẻ xa nguồn, quên cội! Nó đã quên công đức tổ tiên. Nó đã xóa đi kỷ vật của gia đình… Nhưng cháu tôi nở một nụ cười, níu tay tôi và dẫn lên lầu. Ô kìa! Giữa sân thượng rực nắng mùa xuân, cội mai già được đặt trong một cái chậu lớn bằng sành tráng men tuyệt đẹp. Hoa mai đang nở rực rỡ, vàng óng, nổi bật giữa đám bông thược dược, cúc đại đóa và hồng tiểu muội trong những chậu sành được xếp thành hàng quanh sân thượng. Hai cậu cháu đến bên cây mai, rồi trong ân cần cháu nói với tôi : “Cậu ơi! ngày nay người ta chơi kiểng quý phải để trong chậu mới đẹp!” Tôi yên lặng không nói gì, lòng thì cảm động trước tấm lòng trân trọng của cháu tôi đối với gốc mai già. Tôi cứ để lòng mình thinh lặng. Nhìn gốc mai già dù vô ngôn mà sao nói thật nhiều tiếng nói của ký ức, của thâm tình, của kỷ niệm thân thương ngày nào. Gió nhẹ nhàng đưa bàn tay vô hình, đầy trìu mến vuốt ve ngàn hoa xuân. Tôi nhìn từng cánh mai lay động mà nghe trong ấy lời thì thầm của ngày xưa.(Còn tiếp)


Chuyên mục

%d người thích bài này: