Đăng bởi: nguoichanbay | 19/10/2011

TƯỞNG NIỆM CHÚA

BÀI GIẢNG TIỆC THÁNH


TƯỞNG NIỆM CHÚA

Kinh Thánh Nền tảng:
“Vả, tôi có nhận nơi Chúa điều tôi đã dạy cho anh em: ấy là Ðức Chúa Jêsus, trong đêm Ngài bị nộp, lấy bánh,  tạ ơn, rồi bẻ ra mà phán rằng: Nầy là thân thể ta, vì các ngươi mà phó cho; hãy làm điều nầy để nhớ ta. Cũng một thể ấy, sau khi ăn bữa tối rồi, Ngài lấy chén và phán rằng: Chén nầy là sự giao ước mới trong huyết ta; hễ khi nào các ngươi uống, hãy làm điều nầy để nhớ ta.  Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh nầy, uống chén nầy, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến. “I Cô-rinh-tô 11:23-26”
 
Câu Nền tảng:
“Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”(I Cô-rinh-tô 11:24b, 25b)
 
Một ông tín hữu giàu có dâng một khăn bàn tiệc thánh thật đẹp, trên có thêu hàng chữ câu gốc:“Hãy làm điều nầy để nhớ Ta”, và bên góc phải của chiếc khăn có thêm hàng chữ lưu niệm “Ông bà Nguyễn Văn X. kính tặng”. Ðặc biệt và ngộ nghĩnh, sau khi trang trí, người ta mới nhận thấy hàng chữ mang tên ông bà lớn hơn hàng chữ câu gốc đến 5 lần!
Thế là Ban Chấp hành phải mau mau lấy xuống sau giờ nhóm vì hình thức của chiếc khăn nầy được dâng không đúng mục đích thuộc linh của lễ Tiệc Thánh.Mục đích của Tiệc Thánh là gì? Câu trã lời rõ nghĩa nhất được tìm thấy qua mạng lịnh của Đức Chúa Giê-su – Đấng thiết lập Lễ Tiệc thánh đầu tiên nơi phòng cao. Ngài phán: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta”(I Côr 11:24b). Và điều Chúa phán trở nên quan trọng vì đã được chính Chúa lập lại lần thứ nhì trong khi hành lễ (I Côr 11:25b).
 
 
I.LỄ TIỆC THÁNH KHÔNG PHẢI LÀ BUỔI TIỆC BÌNH THƯỜNG.
 
 
Buổi tiệc bình thường là buổi tiệc vui, tiệc mừng, được tổ chức với mục đích mọi người cùng tụ họp ăn uống trong tính cách hưởng thụ, vui chơi. Cũng không phải là một buổi tiệc mang lại sự ăn uống thoải mái, thỏa mản nhu cầu ưa thích của khẩu vị.
Khi dạy về Tiệc Thánh, Sứ đồ Phao-lô nói: “Sau khi ăn bữa tối rồi. . .” (I Côr 11:25a). Như vậy, Các Tín hữu trong Hội Thánh Đầu tiên thường dự tiệc thánh sau khi ăn bữa tối (Còn gọi là Tiệc Yêu Thương, hay Thông công để giải quyết nhu cầu ăn uống bình thường hàng ngày, đó là bữa ăn tối).


Trong sinh hoạt của Hội Thánh sơ khai, Hội Thánh tại thành phố Cô-rinh-tô đã hiểu sai và thực hiện không đúng mục đích Tiệc thánh, nên đã bị Sứ đồ Phao-lơ khiển trách: “Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;  bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ. Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Ðức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.” (I Cor 11:20-22).

II.TIỆC THÁNH LÀ BUỔI TIỆC THUỘC LINH.

Như vậy, Tiệc thánh là một buổi tiệc mang ý nghĩa thuộc linh. 

Thật ra, từ ngữ “Tiệc Thánh” không có trong nguyên văn, tức là bản Kinh Thánh tiếng Hi-lạp (Greek), nguyên ngữ Tiệc thánh được viết là “Tiệc của Chúa”, các bản Anh Ngữ cổ và hiện đại cũng đều dịch “Tiệc của Chúa” như vậy. Duy chỉ có Bản Thánh Kinh Truyền thống Tiếng Việt (xuất bản năm 1926) của Người Việt Nam chúng ta có ghi từ ngữ “tiệc thánh” một lần duy nhất, trong I Cô-rinh-tô 11:20 mà thôi.

Một từ ngữ tiếng Việt khác do Người Công Giáo La-mã dùng cho tiệc thánh, đó là Tiệc Ly. Tuy nhiên, theo truyền thống Giáo hội Tin lành chúng ta thường gọi là Tiệc thánh. Người Tin Lành quý mến và sử dụng từ ngữ nầy vì nó toát lên tính chất thuộc linh của buổi lễ trong nghi thức thờ phượng Chúa.

Vậy, Tiệc thánh do Đấng Thánh thiết lập, với mục đích thánh là để cho các thánh đồ tưởng niệm đến chính Ngài, như mạng lịnh của Chúa Giê-su: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta” (Luca 22:19; Mác 14:22-24; Ma-thi-ơ 26:26-28 & I Côr 1:1 Tín Hữu là “Thánh đồ”).

Theo I Cô-rinh-tô 1:1 Sứ đồ Phao lô trong Hội Thánh Đầu Tiên  gọi Tín hữu là Thánh đồ. Đối tượng nhận tiệc thánh là “thánh đồ”. Vì lẽ đó, theo Giáo luật chỉ có những người tin nhận Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế, là Cứu Chúa của chính mình thì mới được tham dự. Niềm tin nầy được xác nhận qua sự kiện người dự phải là người đã nhận thánh lễ Báp-têm. Hầu hết các Giáo phái Chính Thống của Cơ Đốc Giáo trên thế giới đều theo giáo luật và giáo nghi nầy.

III.TIỆC THÁNH LÀ TƯỞNG NIỆM SỰ HY SINH CỦA CHÚA.

Chúa phán: “Hãy làm điều nầy để nhớ ta”. Vậy, đó là điều gì giúp chúng ta gợi nhớ, tưởng nhớ, hay tưởng niệm đến Chúa? – Ấy là, nhờ “bánh và chén” tức là bánh không men và ly rượu nho, được dùng trong Ngày Đại Lễ Vượt Qua của Người Do Thái.
Kinh Thánh chép: “Trong ngày thứ nhất ăn bánh không men, môn đồ đến gần Ðức Chúa Jêsus mà thưa rằng: Thầy muốn chúng tôi dọn cho thầy ăn lễ Vượt qua tại đâu? Ngài đáp rằng: Hãy vào thành, đến nhà một người kia, mà nói rằng: Thầy nói: Giờ ta gần đến; ta và môn đồ ta sẽ giữ lễ Vượt qua trong nhà ngươi. Môn đồ làm y như lời Ðức Chúa Jêsus đã dạy mà dọn lễ Vượt qua”. (Ma-thi-ơ 26:17-19).

Trong khi ăn lễ Vượt qua, Đức Chúa Giê-su lấy ổ bánh, là loại thực phẫm chính của Người Do Thái để dạy dỗ môn đồ về ý nghĩa của sự hy sinh mà Ngài sẽ thực hiện. Hình ảnh đó diễn ra trên một phòng cao tại thành Giê-ru-sa-lem thật cảm động: Ngài bẻ ra phân phát cho các môn đồ mà phán rằng: “Nầy là thân thể ta, vì các con mà phó cho”. Rồi Ngài lấy chén rượu nho (là dụng cụ đựng thức uống của Người Do thái, dùng để uống như ly của Người Việt chúng ta), Ngài phán rằng: “Nầy là máu ta, máu của Giao Ước Mới đã đổ ra cho nhiều người được tha tội”.
Sau buổi tiệc cuối cùng ấy, Chúa Giê-su đã thực hiện điều Ngài phán như hình ảnh của ổ bánh bị bẻ ra những phần nhỏ và phân phát cho từng người có mặt trong buổi tiệc ấy; Thân thể của Chúa đã bị tan nát bởi khổ hình trên thập tự giá. Thật vậy, Chúa đã hy sinh mạng báu của Ngài, thân thể Ngài tan nát vì tội lỗi chúng ta, như lời dự ngôn của Tiên Tri Ê-sai (670 năm TC): “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh”(Ê-sai 53:5). Và khi từng người nhận bánh và nuớc nho riêng cho mình, chúng ta nhận biết rằng sự hy sinh của Chúa, máu của Ngài tuôn đổ trên thập tự là cho chính chúng ta và cho tất cả mọi người, không hạn chế và không phân biệt một ai, như lời Thánh Kinh: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đức Chúa Giê-su Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

KẾT LUẬN:

Hằng năm, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ biệt riêng ngày 31 tháng 5 (Memorial Day) để tưởng niệm sự hy sinh của những Chiến sĩ Trận Vong. Buổi lễ luôn được tổ chức trang nghiêm và mọi người đều cảm động khi nhắc nhở sự hy sinh mạng sống bảo vệ Đất Nước của những chiến sĩ. Còn riêng chúng ta, chúng ta tưởng niệm sự hy sinh cao cả của Chúa mỗi tháng một lần, vào mỗi Chúa nhật đầu tháng. Tuy nhiên, nếu Anh chị em nhận thức sâu xa sự hy sinh của Chúa, thì linh hồn chúng ta sẽ hằng tưởng nhớ đến công ơn cứu chuộc của Chúa mỗi ngày trong cuộc đời. Tác giả Thi Thiên đã nói: “Hỡi linh hồn ta, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va. Chớ quên các ân huệ của Ngài” (Thi 103:2).

Cầu xin Chúa giúp đỡ chúng ta nhận thức sâu xa tầm quan trọng và ý nghĩa thuộc linh của Tiệc Thánh, để dọn thân-tâm-linh trong sạch, thánh khiết để dự lễ. Nếu ai có phạm tội trong những ngày qua, hãy ăn năn, xưng tội với Chúa để được tha thứ theo lời Ngài hứa (trong I Giăng 1:7 rằng: Nếu chúng ta xưng tội lỗi mìh thì Ngài là thành tín công bình, sẳng sàng tha thứ tội lỗi chúng ta và làm cho chúng ta sạch khỏi mọi điều gian ác), hầu cho xứng đáng nhận bánh và rượu nho trong tiệc thánh, tượng trưng thân thể tan nát và máu vô tội của Chúa đổ ra lai láng trên thập tự đền tội cho mỗi chúng ta. Bởi đức tin, khi ăn bánh nầy, uống chén nầy, chúng ta sẽ nhận lảnh được sự linh nghiệm do quyền năng từ sự hy sinh của Chúa: “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh”(Ê-sai 53:5). Amen! Muốn thật hết lòng.                                  

Mục sư Nguyễn Văn Đại

Đăng bởi: nguoichanbay | 19/10/2011

CÁC CẤP ĐỘ QUAN PHÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

SUY TƯ THẦN HỌC

CÁC CẤP ĐỘ

QUAN PHÒNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI

TƯƠNG QUAN TRÊN TẠO VẬT

Một trong nhiều vấn đề phát sinh trong khi nghiên cứu Thần học Cựu Ước đó là Mối liên hệ của Đức Chúa Trời trong Phẩm cách là Đấng Tạo Hóa đối với tạo vật. Phải chăng Đức Chúa Trời đã hoàn thành công cuộc sáng tạo cách tuyệt vời và hoàn mỹ “một lần đủ cả” rồi thôi !? – như những người theo Thuyết Duy Thần (Deists) đã chủ trương rằng sau khi hoàn tất công cuộc sáng tạo Đức Chúa Trời đã xoay mặt đi với tạo vật của Ngài (*l).

Vấn đề không dừng lại một cách đột ngột, phủ phàng và bất hợp lý như vậy đối với một Đức Chúa Trời Toàn Tri và bản tánh vô hạn của Ngài được! Như vậy, Mối Tương giao giữa Đức Chúa Trời trong thân vị Đấng Sáng Tạo và Mối liên hệ với Tạo vật của Ngài phải được duy trì liên tục mới thích hợp với bản tánh cao quí của Ngài.

Thế thì, Sự Duy trì mối liên hệ ấy như thế nào? Các bước trong tiến trình ấy ra sao? Mang lại hệ quả gì trên tạo vật, nhất là trên chúng ta là “tạo vật thượng đẳng” trong công trình sáng tạo của Ngài? Bài viết này mong ước trình bày cặn kẻ Ba Cấp độ về Sự Quan Phòng của Đức Chúa Trời tương quan trên Tạo Vật.

William Dyrness, Tác giả quyển “ Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước” đã nói:                                                                       “Nghĩ đến hoạt động của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo theo ba cấp độ rất hữu ích cho chúng ta” (*2).

I. ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO
CŨNG LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI QUAN PHÒNG TẠO VẬT.

Để củng cố cho đề tài được nêu , chúng ta cần xác định lại Chủ Thể của Mối Liên Hệ chính là Đức Chúa Trời, cùng Đối tượng của Mối liên hệ chính là Mọi Thọ Tạo, trong đó có chúng ta.
Đầu tiên, với tín lý sáng tạo. Chúng ta xác tín rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng vũ trụ bằng Lời phán và Hành động (*3).  Sự sáng tạo tuyệt hảo và diệu kỳ từ hư vô( ex nihilo) có nghĩa là Đức Chúa Trời đã không sử dụng một chất liệu cụ thể (vật chất ) nào để tạo nên thế giới (vũ trụ) này cả. Đó là một công cuộc sáng tạo “thiêng liêng” không hề được sử dụng cho sự tạo dựng (làm ra) mang ý nghĩa vật chất. Đức Chúa Trời đã làm hiện hữu điều mà trước đó không có. (*4) Cũng có thể hiểu đơn giản rằng Ngài đã “lắp đầy vào chổ trống không”.

Trong một ý niệm hữu hạn và phiến diện, Đức Chúa Trời giống như một Họa sĩ Tài Ba. Từ không gian trống không của vuông vải tinh nguyên trên khung vẻ, Người Hoạ sĩ tài hoa đã vung chiếc cọ điêu luyện và tự do thể hiện ý niệm nghệ thuật của mình mà tạo nên tác phẩm. Rồi nó trở nên một “kiệt tác”. Người Họa sĩ hoàn tất tác phẩm trong thời gian mình muốn và “nghỉ”. Nhưng từ ngữ “nghỉ”( Sáng 2:2-3 ) ở ngữ cảnh này chỉ là chấm dứt sáng tác, nghĩa là Đức Chúa Trời nghĩ ngơi sau khi hoàn tất công trình sáng tạo.  Nhưng, không phải rồi thôi! mà điều gì tiếp nối? Sau đó, Người Họa sĩ vẫn giữ mối liên hệ mật thiết một cách liên tục với tác phẩm mình sở hữu bằng cách “chiêm ngưỡng” nó. Đức Chúa Trời “thấy” ( Sáng 1: 10, 12, 18, 21, 25 “thấy” ) và hài lòng với thành quả sáng tạo của mình với nhận định tác phẩm ấy hoàn hảo ( “tốt lành”). Và tất nhiên, với sự thỏa lòng như vậy, Người Họa sĩ đã đặt để kiệt tác ấy vào một vị trí quan trọng trong sự nghiệp nghệ thuật của mình. Và thật là hợp lý khi nghĩ rằng Nhà Họa sĩ hằng quan tâm và luôn luôn bảo quản kiệt tác ấy là một lẽ tự nhiên.   Vũ trụ và chúng ta là Kiệt tác của Nhà Danh Hoạ Tài Hoa – Đức Chúa Trời.

Dầu vậy, Thí dụ nào cũng phiến diện. Có thể hiểu cách hạn hẹp, Hoạ sĩ bình thường trong nghệ thuật vẫn phải chịu chi phối của chất liệu màu sắc, vải bố hoặc bút cọ để có thể làm phương tiện diễn đạt ý tưởng nghệ thuật mình để tạo thành tác phẩm, nhưng như đã đề cập ở trên , người viết mong chúng ta hiểu trong phạm trù nhỏ hẹp của thí dụ phải được hiểu trên phương diện nghệ thuật mà thôi. Có nghĩa là từ trước chưa có tác phẩm nào như thế và rồi từ mãng vãi trắng tinh, trống không, tác phẫm sáng tạo với bàn tay khéo léo của Họa sĩ thì những gam màu rực rỡ của sự sống lần lượt hiện ra và hình thành tác phẫm vũ trụ trên khung hình sáng tạo thần kỳ.

Đức Chúa Trời Sáng Tạo cũng chính là Đức Chúa Trời của Sự Quan Phòng trong Mối Liên Hệ mật thiết trên Tạo Vật của mình.

Kỳ tới: CẤP ĐỘ MỘT:

ĐỨC CHÚA TRỜI SÁNG TẠO TẠO VẬT VỚI CHỦ ĐÍCH YÊU THƯƠNG.

BÀI GIẢNG DƯỠNG LINH

HỘI THÁNH –

Nơi rịt lành những tấm lòng tan vỡ.   

 

 

 

Kinh Thánh: Lu-ca 10:30-37


Câu Nền Tảng: Lu-ca 10:33-34


“Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho”.
“Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; 2 đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;” (Ê-sai 61:1-2)

Lời tựa:

Trong nền kinh tế hiện đại trên thế giới, có một cách giới thiệu về mục tiêu của các tổ chức, công ty rất hay.

Thí dụ như Tiểu bang North Carolina của chúng ta là “The First in Flight” hoặc Trường Ðại Học Cộng Ðồng CPCC là “Be There” chẳng hạn.
Tôi xin đố Hội Thánh:Tiêu chí Hảng Xe Honda là gì? Hảng Xe Toyota là gì? Wallmart là gì? Belk là gì? Ross là gì? Nói chung những tiêu chí nầy nói lên mục tiêu hoạt động của tổ chức hay cơ quan đó.

Kính thưa Hội Thánh,
Hôm nay tôi được Chúa dạy dỗ và xin nêu lên đôi điều suy nghĩ sau đây.
Mục tiêu gây dựng Hội Thánh trong giai đoạn I của chức vụ chúng tôi, được gói ghém trong tiêu chí “Người Công Bình Sống Bởi Ðức Tin” (Ha-ba-cúc 2:4). Trong tiêu chí đó, chúng ta đã học hỏi rất nhiều sự dạy dỗ từ Thánh Kinh để gây dựng, củng cố đức tin của mỗi chúng ta, từ người cũ đến người mới, với ước ao mỗi đời sống Con Cái Chúa, có đức tin căn bản, thuần khiết và vững mạnh.
Hôm nay, chức vụ tôi bước vào giai đoạn II, với tấm lòng vui mừng khi nhận biết đời sống đức tin nhiều Con Cái Chúa trưởng thành, mặc dù, cũng có những đời sống chưa thật sự vững vàng trong đức tin thuần túy, theo Thánh kinh dạy dỗ. Ðặt căn bản trên Thánh Kinh, là Lời Ðức Chúa Trời, tôi xin nêu ra tiêu chí mới: “Hội Th ánh-Nơi rịt lành những tấm lòng tan vỡ”. Tiêu chí nầy hướng về mục tiêu Truyền giảng Tin Lành cho Ðồng bào chúng ta, cũng là bài giảng của tôi hôm nay.

Kính mời Hội thánh cùng mở Thánh Kinh Phúc Âm Luca 10:30-37. Tôi xin đọc lại một lần nữa.
Qua câu chuyện Chúa Giê-su kể, Ngài muốn nhấn mạnh điều gì?
Ai trò của Hội Thánh là gì đối với Ðồng Bào và Ðồng loại xung quanh chúng ta?

I.HỘI THÁNH KẾ THỪA SỰ NGHIỆP CHÚA CỨU THẾ


a) Ðây là câu chuyện Chúa Giê-su kể.
Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. 31 Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. 32 Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.
33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
36 Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp? 37 Thầy dạy luật thưa rằng: Aáy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.
b)Chúa Giê-su thực hiện những điều Ngài dạy, chúng ta phải làm theo mạng lịnh đó.
Mathiơ 9:35 . Ðức Chúa Jêsus đi khắp các thành, các làng, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành nước Ðức Chúa Trời, và chữa lành các thứ tật bịnh.
Hội Thánh là “Nhà Quán”. Người Samari Nhân Lành là Chúa Giê-su. Người bị cướp là Ðồng bào, Kẻ cướp là Ma Quỹ. Nên nhớ rằng, Chúa Giê-su là Ðấng Rịt Lành mọi đau thương, Ðấng chữa lành mọi bệnh tật, Ðấng cứu giúp mọi tội nhân. Chúng ta – Hội thánh – chỉ là Nhà Quán để tiếp tục chăm sóc nạn nhân. Không phải chúng ta cứu, chúng ta là người giúp đỡ.
c)Ðức Chúa Trời- Ðấng chúng ta thờ phượng là Ðấng chữa lành.


Thi Thiên 147:2-3 2 Ðức Giê-hô-va xây cất Giê-ru-sa-lem; Ngài hiệp lại những kẻ bị tản lạc của Y-sơ-ra-ên, 3 Chữa lành người có lòng đau thương, Và bó vít của họ.
Bản Dịch phổ thông: “Ngài hàn gắn lại những tấm lòng tan vỡ, băng bó các vết thương của họ”.
Bản Dịch Mới “Ngài chữa lành những tấm lòng tan vỡ, băng bó những vết thương của họ”


II.HỘI THÁNH LIÊN ÐỚI MẬT THIẾT VỚI CỘNG ÐỒNG


a)Chúng ta đang sống trong một thế giới phức tạp và tội lỗi.
Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. 31 Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. 32 Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi. 33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
*Quan điểm sống và Triết lý sống khác nhau:

Có Nhà Xã Hội đã tóm ý câu chuyện Chúa Giê-su kể qua ba quan niệm sống của các thành phần xã hội, như sau:
-Cái gì của anh là của tôi, tôi lấy!
-Cái gì của anh là của anh, cái gì của tôi là của tôi. Tôi đi!
-Cái gì của tôi là của anh, tôi cho!

Nhóm thứ nhất là Bọn Cướp: Không làm việc, rình rập, cướp công, giựt của người khác, thủ lợi cho riêng mình.
Nhóm thứ nhì là Những Người Tôn Giáo: Thầy Tế Lễ, Người Lê-vi, là những người hoạt động tôn giáo, đại diện thành phần đạo đức trong Xã Hội, trong Ðền Thờ. . . nhưng họ làm ngơ trước nỗi đau đớn và hoàn cảnh “nửa sống, nửa chết” của nạn nhân.
Nhóm thứ ba, là thiểu số nhưng chính là sự can thiết cho Xã Hội, cho những cuộc đời đau khổ, hoạn nạn. Người Sa-ma-ri Nhân lành là Chúa, và Chúa muốn chúng ta sống như Ngài: “Hãy đi và làm theo như vậy”. Chúng ta là ánh sáng cho thế giới tối tăm tội lỗi, chúng ta là Muối Men cho Muôn Dân (Math 5:13-16), và chúng ta là Nhà Quán để chăm sóc những nạn nhân được Chúa rịt lành vết thong, hàn gắn những tấm lòng tan vỡ, những cuộc đời may hy vọng, những gia đình rạn nức, những cuộc tình vỡ tan. . .
Kinh Thánh cho thấy thãm cảnh đó ở chung quanh chúng ta, ngay trong xã hội nầy:


Giê-rê-mi 10:19-21 19 Khốn nạn cho tôi vì vết thương tôi! Vít tôi là đau đớn! Nhưng tôi nói: Aáy là sự lo buồn tôi, tôi phải chịu. 20 Trại của tôi bị phá hủy, những dây của tôi đều đứt, con cái tôi bỏ tôi, chúng nó không còn nữa. Tôi không có người để giương trại tôi ra và căng màn tôi. 21 Những kẻ chăn chiên đều ngu dại, chẳng tìm cầu Ðức Giê-hô-va. Vì vậy mà chúng nó chẳng được thạnh vượng, và hết thảy những bầy chúng nó bị tan lạc.
Giê-rê-mi 6:13-14 13 Vì trong vòng họ, từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối. 14 Họ rịt vết thương cho dân ta cách sơ sài mà rằng: Bình an! bình an! mà không bình an chi hết.
Isaiah 1:4-6 4 Oâi! nước mắc tội, dân mang lỗi nặng nề, tông giống độc dữ, con cái làm bậy bạ kia! Chúng nó đã lìa bỏ Ðức Giê-hô-va, khinh lờn Ðấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, đã trở nên xa lạ và lui đi. 5 Các ngươi sao còn cứ bạn nghịch, để lại bị đánh nữa? Ðầu đều đau đớn cả, lòng đều mòn mỏi cả. 6 Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, chẳng có chỗ nào lành: rặt những vết thương, vít sưng cùng lằn mới, chưa rịt, chưa quấn, cũng chưa bôi dầu cho êm.

III.HỘI THÁNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHĂM SÓC


a)Chúng ta thực hiện nhiệm vụ như thế nào?

Kinh Thánh đưa ra các nguyên tắc:
33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.
Thứ nhất: Phải có lòng yêu thương Tội Nhân: “Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương;”
Thứ nhì: Chia sẽ những gì mình có khả năng: “…bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại;”
Thứ ba: Ðem về Hội Thánh những đời sống đau khổ, cần cứu giúp: “đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho”
Thứ tư: Dâng hiến tài chánh cho công tác cứu người: “. 35 Ðến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.”
b)Hội Thánh Ðầu Tiên là một gương mẫu Cứu Giúp Tội Nhân:


Phi-líp 2:1-4 Vậy nếu trong Ðấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, 2 thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. 3 Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. 4 Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa.
c)Chúng ta hãy ao ước sự xức dầu mới từ Ðức Thánh Linh để giúp đỡ “Kẻ Vỡ Lòng”:


Ê-sai 61:1-2 Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Ðức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; 2 đặng rao năm ban ơn của Ðức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Ðức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;
Ê-xê-chi-ên 34:4-6  Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mắc bịnh nên mạnh, chẳng chữa lành những con đau, chẳng rịt thuốc những con bị thương; chẳng đem những con bị đuổi về, chẳng tìm những con bị lạc mất;

 34:16-19 Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho con nào đau được mạnh. Nhưng ta sẽ hủy diệt những con mập và mạnh. Ta sẽ dùng sự công bình mà chăn chúng nó. 17 . Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Còn như bay, hỡi bầy chiên ta, nầy, ta xét đoán giữa chiên và chiên, giữa chiên đực và dê đực. 18 Bay ăn trong vườn cỏ xinh tốt, mà lại lấy chân giày đạp những cỏ còn lại; đã uống những nước trong, lại lấy chân vậy đục nước còn thừa; bay há chẳng coi sự đó là việc nhỏ mọn sao? 19 Còn những chiên ta thì phải ăn cỏ chân bay đã giày đạp, và uống nước chân bay đã vấy đục!

 

 

Kết Luận:


Nhà Thần Học Tân Ước là Phao-lô đã nói về quan điểm sống của Cơ Ðốc Nhân rằng:

“Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” Rô-ma 12:15.


Chúng ta có quá nhiều những người đau khổ chung quanh.Có rất nhiều tấm lòng tan vỡ cần rịt lành và chăm sóc.
*Có chị Tráng Niên nói rằng: Sáng nay, tôi rất đau đớn vì hay tin một người bạn gái đã tự tử đêm qua!

Rồi chị khóc mà nói tiếp: “Nhưng còn đau đớn hơn nữa khi tôi nhìn thấy trên điện thoại của tôi (miss call) số máy của cô ấy đã gọi đến trong đêm qua. Phải chi. . . !!!

Có bao nhiêu cơ hội để cứu giúp đã qua đi trong cuộc đời chúng ta? Mong Quý Bạn Đọc tận dụng cơ hội ngay hôm nay.
Chúa Giê-su là Người Samari Nhân lành, cứu giúp và rịt lành những vết thương cho nạn nhân, đã phán: “Hãy đi và làm theo như vậy!”. Chúng ta, Hội Thánh của Đức Chúa Trời phải tâm nguyện rằng:

Hội Thánh chúng ta là Nơi Rịt Lành Những Tấm Lòng Tan Vỡ. Amen!

 

Mục sư Nguyễn Văn Đại.

 

 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/10/2011

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ 2000 NĂM TRƯỚC

BÀI GiẢNG TIÊC THÁNH

 

CHUYỆN NGƯỜI ĐÀN BÀ

2000

NĂM TRƯỚC

Kinh Thánh: John 8:1-12

Câu Nền Tảng: Giăng 8:11-12

“Ðức Chúa Jêsus phán rằng:

Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.  

Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng:

Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm,

nhưng có ánh sáng của sự sống”

Lời Mở Đầu:

Chúng ta vừa xem qua Video Clip về Câu Chuyện Người Đàn Bà 2000 Năm Trước. Lời bài hát và hình ảnh sống động đã làm cho khúc Kinh thánh Giăng 8:1-12 trở nên sinh động hơn cho chúng ta.
Tuy nhiên, đứng trước bàn Tiệc Thánh mà chúng ta sắp cùng nhau dự, có đôi điều chúng ta cần suy ngẫm thêm.

I. KẾT ÁN TRONG ĐỀN THỜ.
A.Chúa đến đền thờ và dạy dỗ đoàn dân:
John 8:1 . Ðức Chúa Jêsus lên trên núi Ô-li-ve. 2 Nhưng đến tảng sáng, Ngài trở lại đền thờ; cả dân sự đều đến cùng Ngài, Ngài bèn ngồi dạy dỗ họ. 

B.Người Đàn Bà bị kết án từ những người Dạy Luật:
Bấy giờ, các thầy thông giáo và các người Pha-ri-si dẫn lại cho Ngài một người đàn bà đã bị bắt đang khi phạm tội tà dâm; họ để người giữa đám đông, 4 mà nói cùng Ðức Chúa Jêsus rằng: Thưa thầy, người đàn bà nầy bị bắt quả tang về tội tà dâm. 5 Vả, trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; -còn thầy, thì nghĩ sao?

C.Họ ném đá Người Đàn Bà với mục đích chống Chúa:

 Họ nói vậy để thử Ngài, hầu cho có thể kiện Ngài. Nhưng Ðức Chúa Jêsus cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất. 7 Vì họ cứ hỏi nữa,

D.Tại sao họ chống đối Chúa?
1.Vì Chúa có ảnh hưởng lớn trên đoàn dân:
Matthew 8:1 Khi Ðức Chúa Jêsus ở trên núi xuống, có đoàn dân đông lắm theo Ngài.
Mark 3:7-8 7 Ðức Chúa Jêsus cùng môn đồ Ngài lánh ra nơi bờ biển, có đoàn dân đông lắm từ xứ Ga-li-lê đến theo Ngài. Từ xứ Giu-đê, 8 thành Giê-ru-sa-lem, xứ Y-đu-mê, xứ bên kia sông Giô-đanh, miền xung quanh thành Ty-rơ và thành Si-đôn cũng vậy, dân đông lắm, nghe nói mọi việc Ngài làm, thì đều đến cùng Ngài.

2.Vì Chúa giảng dạy cách có quyền năng.
Mark 1:22 22 Chúng đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài, vì Ngài dạy như có quyền phép, chớ chẳng phải như các thầy thông giáo đâu.

3.Vì Chúa gần gủi với những Người bị khinh bỉ trong xã hội.
Matthew 21:31-32 Ðức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Ðức Chúa Trời trước các ngươi. 32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.

II. AI LÀ NGƯỜI ĐỊNH TỘI NGƯỜI ĐÀN BÀ?

A. Thách thức của Chúa Giê-su đối với Người Đạo Đức Giả:

c7tt: thì Ngài ngước lên và phán rằng: Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhất ném đá vào người. 8 Rồi Ngài lại cúi xuống cứ viết trên mặt đất.

B. Sự hổ thẹn lương tâm của Người Đạo Đức Giả:
9 Khi chúng nghe lời đó, thì kế nhau mà đi ra, những người có tuổi đi trước;

III. SỨ ĐIỆP CHO NGƯỜI ĐÀN BÀ TỘI LỖI.

A.Khi Người Đàn Bà tội lỗi đối diện với Chúa:
Ðức Chúa Jêsus ở lại một mình với người đàn bà, người vẫn đang đứng chính giữa đó. 10 Ðức Chúa Jêsus bấy giờ lại ngước lên, không thấy ai hết, chỉ có người đàn bà, bèn phán rằng: Hỡi mụ kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao?

B.Chúa Giê-su đến thế gian để cứu vớt tội nhân.

11 Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi;
Chúa Giê-su phán:

C.SỨ Điệp của Chúa là ĐỪNG TÁI PHẠM

1. Hãy đi, đừng phạm tội nữa.


2. Đi trong ánh sáng của sự sống.
12 . Ðức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng:

Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.

KẾT LUẬN:
Chúng ta hãy tự xét lại chính mình theo LỜi Chúa phán dạy.  Chúng ta hãy cầu nguyện ăn năn trước khi nhận tiệc thánh sáng hôm nay. Amen.

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/10/2011

NHỊN CƯỜI

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

NHỊN CƯỜI

 
 
             *Để thương nhớ các em Cô nhi của tôi.
 
 
 
 

 

 

 

Khi tôi thực tập hầu việc Chúa tại Trung tâm Truyền giáo Thiếu nhi Hòn chồng Nhatrang, với chức vụ Ðặc trách Thiếu nhi Tin Lành. Tôi có nhận dạy lời Chúa mỗi tối cho các em cô nhi tại Cô nhi viện Tin lành Hòn chồng Nhatrang. Lớp tôi phụ trách gồm cĩ Các em thiếu nhi Việt lai Mỹ, Ðại hàn và Tân Tây Lan ở Phòng số 10 của viện. Ðây là các em nhỏ tuổi nhất, khoảng ba đến năm tuổi mà thôi.

Một đêm kia, sau khi học kinh thánh thì có giờ cầu nguyện, các em quỳ gối với tôi bên giường ngủ mà cầu nguyện. Theo thông lệ hằng đêm, tôi mời một em cầu nguyện, em này có tên là Sơn. Sơn lai Mỹ đen nên tóc quăn, mặt đen thui nhưng hàm răng thật trắng, em cười trông thật dễ thương! Sơn cầu nguyện tốt nhưng đến phần cầu thay cho một bạn ở Phòng số chín bị bệnh thì em quên mất tên. Sơn nói : “Xin Chúa chửa cho…a….,chửa cho a…,” Tất cả yên lặng, rồi tôi nghe tiếng sột soạt, sột soạt… thì ra em đang lòm còm bò lại bên tôi. Trợn con mắt trắng sát, Sơn hỏi : “ Khầy ơi khầy! nó tên gì con quên mất tiêu!” Lúc ấy tôi mắc cười không chịu nổi, nhưng tôi phải cố nhịn cười mà nghiêm giọng nói tên em bị bệnh. Thế rồi Sơn lòm còm bò lại chổ quỳ khi nảy cầu nguyện tiếp tục cho xong.

Tôi về lại Trung Tâm, kể lại cho bạn tôi để cùng cười một trận cho hết ấm ức sự dồn nén trong lòng. Nghĩ lại, nếu tôi không nghiêm trang trong giờ cầu nguyện với các em thì chắc chắn tôi sẽ để lại những ấn tượng không tốt đẹp trong tâm hồn của những đứa trẻ ngây thơ.

 
Đăng bởi: nguoichanbay | 22/02/2011

Mưa Viễn Xứ

Thơ

Mưa  Viễn  Xứ

Trên đất khách chiều nay mưa viễn xứ
Lạnh thấu hồn cô lữ bước tha hương.
Mưa đất mẹ có làm em thương nhớ?
Mảnh tình quê, anh hành lý dặm trường?

Mưa viễn xứ không lời kinh nhật tụng
Tiếng ầu ơ ru con ngủ đêm khuya
Nuôi con lớn, mẹ một đời làm lụng
Bao gian nan, ôi kể mấy cho vừa.

Mưa viễn xứ thiếu âm buồn tí tách
Trên mái tôn, con hẻm nhỏ thân thương
Nhà cạnh nhà, anh và em chung vách!
Một chiều mưa, cùng ướt đẫm bên đường.

Mưa rĩ rã, cà phê buồn vắng khách,
Nhớ lời rao gánh cháo bán trong đêm
Bên gát trọ, trẻ cúi đầu trang sách
Mấy cụ già đàm đạo ở bên thềm.

Con đường cũ, gót sen bùn lấm tấm
Ướt vai gầy, ướt dáng liễu ngây thơ.
Tình viễn xứ thấm mưa vào trang giấy
Từng giọt hồn rơi xuống kết vần thơ.

Mưa viễn xứ, rưng rưng hồn lữ khách
Nguyện cầu cho Dân tộc được an bình,
Người Dân Việt chung lòng thờ phượng Chúa.
Mưa Ðầu Mùa tràn ân sủng tâm linh.

                                                      Phan Du Mục

Đăng bởi: nguoichanbay | 22/02/2011

Cánh Chim Lang Bạt

 

 

 

 

 

 

 

 

Cánh  Chim   Lang  Bạt
                                            

Như cánh chim lạc đàn
Vươn mình tìm về quê cha đất  tổ
Giữa bộn bề, hối hả nhịp thời gian
Mang nỗi niềm trìu trĩu thuỡ hồng hoang

Tôi đã về quê cha thật  sao ?
Bướm là người ?
Hay người là bướm bay vuốt ở trên cao
Hồn rạo rực giữa bao la gió núi
Lãng đãng, phiêu bồng trong vòm trời ký ức
Hoà vào hồn thiêng sông nước hôm nay

Mấy độ xuân qua , mấy lần dừng bước,
Mấy hành trình diệu vợi được dừng chân ?
Về quê cha, nghĩ đến được mấy lần ?
Trong tâm thức, dường như là nhiều lắm…!

Sống ly hương giòng đời nào êm ắng
    Chợt hồi hương qua câu hát bên đường
    “Mưa Cali không buồn bằng mưa Sàigòn…”
    Lời dung dị, sao rừng thương biển nhớ!

Trên đất khách, hồn tìm về nguyên thuỷ
Vần thơ xưa xao xuyến tận tâm hồn
“ Quê hương anh mây giăng đèo ải
Chiều ấu thơ êm ả câu hò
Nước mấy nguồn , sông hẹn về cửa Ðại
Ngũ hành sơn năm cụm xanh lơ…
Anh thương binh về thăm nguyên quán
Một bàn tay vĩnh viễn gởi sa trường
Anh trở lại với bàn tay còn lại
Vẫy vẫy chào non nước với quê hương…”

 Tôi đã về quê cha thật sao ?
 Mơ thành hiện thực,  phải không nào ?
 Rưng rưng tưởng niệm người đã khuất
 Giao ca thế hệ, lệ tuôn trào.

Tôi đã về quê cha thật đây
Cánh chim lang bạt đã sum vầy
Trùng trùng điệp điệp niềm hoài vọng
Ðan kết vào hồn, tổ ấm đây.

                    
Phan Du Mục

                          

Đăng bởi: nguoichanbay | 23/12/2010

NIỀM VUI VĨ ÐẠI CHO NHÂN LOẠI

BÀI GIẢNG GIÁNG SINH

NIỀM VUI VĨ ÐẠI
CHO NHÂN LOẠI

 

Kinh Thánh: Lu-ca 2:1-20
Câu Nền Tảng: Lu-ca 2:10-11
“Thiên sứ bèn phán rằng: Ðừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.”

 

Có những niềm vui khác nhau trong cuộc sống.
Niềm vui cá nhân: Như trong Mùa Giáng sinh nầy những em bé nhận được những món quà ưa thích. Như một thanh niên đón nhận một lá thư bày tỏ tình yêu từ người mình yêu mến. Như một doanh nhân tổng kết cuối năm với những kết quả thu nhập vượt mức. Hoặc đôi khi niềm vui thật bất ngờ khi nhận được một cú điện thoại thăm hỏi của một người bạn hay người thân từ xa sau bao năm dài xa cách.
 

Lại cũng co Niềm vui gia đình: Có thể là hai vợ chồng son nhận được tin sẽ có đứa con đầu lòng. Ông bà có thêm cháu bé, thành viên mới trong gia đình. Có thể hai vợ chồng nghèo vui mừng vì sau bao năm dành dụm, nay mua được căn nhà vừa ý. 

  
Mấy hôm nay, tôi xem truyền hình và thấy có một đoạn phim ngắn thật cảm động:
Ðó là hình ảnh của một gia đình trong đêm Giáng sinh.  Người mẹ kêu các ba đứa con gồm hai trai và một gái, đang ngủ trên lầu thức dậy để nhận quà. Từ trên lầu những đứa trẻ chạy ùa xuống, reo hò trong niềm vui. Họ cùng nhau quây quần bên một cái thùng quà “to tướng” đặt cạnh cây nô-ên trong phòng khách. Hai đứa con trai hì hụt mở cái thùng bằng giấy cạt-ton to lớn ra. . . và thật bất ngờ, một người lính bật nắp thùng đứng dậy và bước ra. Bọn trẻ ngạc nhiên, há hốc mồm trong giây lát rồi đồng kêu lên: “Ba ơi!!!! Ba đã về!!! Ba đã về thật rồi!!!”. Ôi! Niềm vui mừng nào to lớn cho bằng niềm vui đoàn tụ. Người Chiến Binh đã trở về từ chiến trường máu lửa, gặp lại vợ, gặp được con trong niềm vui giáng sinh!? Hạnh phúc gia đình này thật ngút ngàn kể sao cho xiết.

 

Cũng có Niềm vui cho cả một quốc gia Dân tộc, như khi Ðất Nước không còn chiến tranh, hòa bình được vãn hồi trên Quê Hương. Có khi cả Dân tộc vui mừng và hảnh diện vì một người Dân Nước mình đạt được một thành tựu khoa học hoặc đoạt được giải thưởng Nobel (như trường hợp Tiến sĩ Ngô Anh Tuấn, người Việt Nam, đoạt một giải thưởng Fields- tương đương Nobel Toán Học thế giới). Hoặc giả như niềm vui của Dân chúng Hoa Kỳ khi được tin Lưỡng Viện Quốc Hội thông qua chương trình Giãm Thuế của Tổng Thống Obama. Nguồn kinh phí dự định xuất ra là 8850 tỷ Mỹ kim, trong đó có 250 tỷ Mỹ kim giúp An sinh Xã Hội cho 66.000 gia đình đang gặp khó khăn. (Tuy nhiên, vẫn có người cho rằng niềm vui nầy chưa chắc được trọn vẹn, bỡi Chính Phủ có thể giảm thuế nầy, nhưng có thể tăng thuế khác!?).
Mặc dù, có những niềm vui cá nhân, niềm vui gia đình hay niềm vui cho cả một quốc gia, như chúng tôi vừa đề cập, nhưng thi thoảng cũng có những niềm vui cho toàn thể con người trên hành tinh chúng ta đang sống. Có thể đó là sự phát minh một loại thuốc kháng sinh mới trong Y tế, một hóa chất siêu bền trong công nghệ, hay một di tích cổ được phát hiện trong lãnh vực địa chất. Ðặc biệt, như thành tựu khoa học không gian của Cơ quan NASA Hoa kỳ khi đáp Phi thuyền đầu tiên từ Ðịa Cầu lên Sao Hỏa (Mars) ngày 16/12/2010 vừa qua. Tất cả, những phát minh quan trọng nầy phổ biến toàn cầu nhưng ảnh hưởng của nó chỉ tác động trên những lãnh vực riêng biệt như khoa học, y tế, công nghệ hay khảo cổ học mà thôi.

  

  

 
 
 
 
 
 
Duy chỉ có một Niềm vui ảnh hưởng trên đời sống của toàn thể Nhân Loại. Niềm vui ấy là Một Niềm Vui Vĩ Ðại, vì do chính Ðức Chúa Trời thực hiện cách nay 2000 năm qua sự kiện lịch sử: Chúa Giê-su giáng sinh tại Thành Bết-lê-hem, Xứ Do Thái. Trong đêm ấy, Thiên sứ loan báo cho Các Mục tử đang thức đêm canh giữ bầy chiên  rằng: “Ðừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;  ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.” (Lu-ca 2:8-11).

 Sự kiện đó trở nên vĩ đại hơn nữa, vì đã được Ðấng Tiên tri Ê-sai của Do thái dự ngôn, tức là báo trước khoảng 720 năm trước Thiên Chúa Giáng Sinh (BC. = Before Christ) rằng: “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Ðấng Lạ lùng, là Ðấng Mưu luận, là Ðức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Ðời đời, là Chúa Bình an.” Ê-sai 9:6.

 
Nhưng tại sao chúng ta lại tin rằng Sự Giáng sinh của Chúa Giê-su là một Niềm Vui Vĩ Ðại?
Có phải Người Tin Lành quá chủ quan trong tôn giáo!?  hay niềm tin của họ rất phiến diện khi tuyên bố chân lý nầy không?  Qua Thánh Kinh, là Lời của Ðức Chúa Trời. tôi xin được trình bày cùng quý vị như sau:

  

I.NIỀM VUI VĨ ÐẠI CHÍNH LÀ CHÚA GIÊ-SU GIÁNG SINH.

  Thiên sứ bèn phán rằng: Ðừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.” (Lu-ca 2:8-11). 
 

  A. Chúa Giê-su là Ðấng Từ trời đã huyền nhiệm giáng sinh.

 

Tất cả Giáo chủ đời nầy đều sinh ra theo thế thường (cách bình thường), do quan hệ của cha mẹ ăn ở với nhau mà sinh con, duy Chúa Giê-su được sinh ra cách nhiệm mầu, bởi quyền năng Ðức Thánh Linh tác động trên trinh nữ Ma-ri (Ma-thi-ơ 1:18-25). Thánh sử chép:
 

“Vả, sự giáng sinh của Ðức Chúa Jêsus Christ đã xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ Ngài, đã hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, thì người đã chịu thai bởi Ðức Thánh Linh.  19 Giô-sép chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang xấu, bèn toan đem để nhẹm.  20 Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, thì thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng: Hỡi Giô-sép, con cháu Ða-vít, ngươi chớ ngại lấy Ma-ri làm vợ, vì con mà người chịu thai đó là bởi Ðức Thánh Linh.  21 Người sẽ sanh một trai, ngươi khá đặt tên là Jêsus, vì chính con trai ấy sẽ cứu dân mình ra khỏi tội.  22 Mọi việc đã xảy ra như vậy, để cho ứng nghiệm lời Chúa đã dùng đấng tiên tri mà phán rằng:  23 Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, và sanh một con trai, Rồi người ta sẽ đặt tên con trai đó là Em-ma-nu-ên; nghĩa là: Ðức Chúa Trời ở cùng chúng ta.  24 Khi Giô-sép thức dậy rồi, thì làm y như lời thiên sứ của Chúa đã dặn, mà đem vợ về với mình;  25 song không hề ăn ở với cho đến khi người sanh một trai, thì đặt tên là Jêsus.”

 

B.Chúa Giê-su là Ðức Chúa Trời thành người, chính là sự kiện “vô tiền khoáng hậu”.

  
 Kinh Thánh chép rằng: “Trước khi sáng tạo vũ trụ đã có Chúa Giê-su  (Ngôi Lời – Logos). Chúa Giê-su ở cùng Ðức Chúa Trời và Chúa Giê-su là Ðức Chúa Trời. Ngay từ ban đầu, Ngài đã ở cùng Ðức Chúa Trời” (Giăng 1:1-3 BDM).
Thánh Kinh cũng khẳng định Chúa Giê-su là Ðấng sáng tạo vũ trụ: “ Tất cả đều được Chúa tạo dựng. Không có gì hiện hữu mà không do Ngài. Trong Ngài có sự sống và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Giăng 1:4; Sáng 1:1, 26).
 

Lý do Hội Thánh không bảo rằng Chúa “sinh ra” (như các tôn giáo khác) mà nói rằng Chúa “Giáng sinh” vì Chúa Giê-su là Ðấng từ cõi đời đời (từ trời) đến với nhân loại. Thánh kinh tuyên bố rằng:“Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Ðấng từ trời xuống, ấy là Chúa Giê-su (Con người) vốn ở trên trời.  (Giăng  3:13).
 

Lại nữa, Chúa Giê-su Giáng thế là niềm vui vĩ đại vì sự kiện “vô tiền khoáng hậu” nầy phát xuất từ (do) lòng yêu thương Ðức Chúa Trời ban cho nhân loại:
“Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16; Gal 4:4).
“Nhưng Ðức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Giê-su vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8).

II.NIỀM VUI VĨ ÐẠI VÌ ẢNH HƯỞNG TRÊN TOÀN THỂ NHÂN LOẠI:

Thiên sứ bèn phán rằng: Ðừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.” (Lu-ca 2:8-11). 

  

A.Ðấng Cứu Thế giáng sinh là “Sự Vui Mừng Lớn cho Muôn Dân”:


Mọi Dân tộc đều có thể nhận được niềm vui mừng vĩ đại nầy khi đến với Ngài. Vì Ngài đã đến với nhân loại. Chúa mặc lấy hình hài của con người, làm một hài nhi được sinh ra trong chuồng gia súc, được đặt nằm trong một máng đựng thức ăn đơn sơ, bẩn thỉu. Ngài đã hòa mình trong cuộc sống cơ cực của con người.
Chúa Giê-su không kỳ thị hay phân biệt trình độ, tuổi tác, giới tính, hay giàu nghèo trong xã hội. Chúng ta cứ nhìn vào những nhân vật liên quan đến sự giáng sinh của Chúa Giê-su cũng nhìn thấy rõ tình thương yêu vĩ đại của Chúa:
Như trong đêm Chúa Giáng sinh, Thiên sứ đã đến báo tin cho các Mục đồng đang thức đêm canh giữ bầy chiên ngoài đồng của thành Bết-lê-hem. Có thể nói, đối tượng đầu tiên nhận được Niềm Vui Vĩ Ðại chính là những Người Lao động, nghèo nàn, dân quê chân chất. Và họ đã đến tôn thờ Ngài nơi chuồng chiên máng cỏ (Luca 2:7-8).
Các Nhà Hiền Triết từ Ðông Phương băng rừng vượt sa mạc nóng cháy xa xăm, tìm tôn thờ Chúa. Họ là những Vị Vua từ Ðông Phương, đại diện cho nhóm người trí thức, vương giả, các hiền triết của Nhân loại tìm thờ Vị Vua Thánh, với câu hỏi: “Vua Dân Giu-đa mới sinh tại đâu?” (Math 2:2).

 

Diệu kỳ hơn nữa, Sự Giáng sinh của Chúa Giê-su là Một biến động ảnh hưởng cả thiên đàng: Các Thiên sứ cùng Thiên Binh đã rất  ngạc nhiên vì Ngôi Hai Ðức Chúa Trời đã từ bỏ ngôi cao sang vinh hiển, hạ mình xuống làm một con người bé nhỏ đơn sơ.  Các Thiên sứ và thiên thần thấu hiểu được chương trình của Ðức Chúa Trời là cứu rỗi tội nhân nên họ đã cùng nhau ca ngợi sự giáng sinh của Chúa Giê-su. Sự kiện nầy mang lại một kỷ nguyên thanh bình cho toàn thể nhân loại :
“Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Ðức Chúa Trời rằng: Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” (Luca 2:13-14)

 Kinh thánh hé mở cho chúng ta thấy điều diệu kỳ đó ở thiên đàng như sau:
“Hãy có đồng một tâm tình như Ðấng Christ đã có,  6 Ngài vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ;  7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người;  8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.  9 Cũng vì đó nên Ðức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh,  10 hầu cho nghe đến danh Ðức Chúa Jêsus, mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quì xuống,  11 và mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Ðức Chúa Trời, là Ðức Chúa Cha” (Phi-líp 2:5-11).

 B.Vì Chúa Giê-su giáng sinh để xóa tan nỗi sợ hãi của nhân loại:

 Trong khi Thiên sứ báo tin cho các Mục Tử, thì họ không có vui. Họ rất sợ hãi.

Kinh Thánh chép: “Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.  9 Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi.  10 Thiên sứ bèn phán rằng: Ðừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;  11 ấy là hôm nay tại thành Ða-vít đã sanh cho các ngươi một Ðấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.” (Lu-ca 2:8-11).
 

Những Con người nầy sợ hãi điều gì? 

 
Có le, Các Mục tử (những người chăn chiên) “đang trú ngoài đồng”  họ sợ cướp bóc, nên đã “thức đêm canh giữ bầy chiên” (Luca 2:8). Có lẽ, họ vướng buồn hay lo lắng cho cuộc sống nghèo nàn khổ sở vì lầm than trong than phận nô lệ dưới sự cai trị của Ðế Quốc La mã. Xã hội lộn xộn bất an, và để mưu cầu cuộc sống, con người đã thủ lợi, cướp giựt lẫn nhau, nên họ phải thức để canh giữ bầy chiên. Cho nên, khi Thiên sứ của Chúa hiện ra, ánh vinh quang chói lòa khiến cho các mục tử “rất sợ hãi”. Ðiều nầy cho chúng ta thấy rằng con người chẳng những lo lắng về vật chất như “cơm áo gạo tiền”, nhưng cũng lo sợ về cuộc sống nô lệ, và khao khát nhu cầu tinh than, để được sống trong sự độc lập tự do. Sâu xa hơn nữa, con người sợ hãi những hiện tượng siêu nhiên, huyền bí, mà khoa học chưa giải thích được, như tại đây, thiên sứ đã hiện ra với ánh vinh quang chói sáng khiến cho họ rất sợ hãi.
Nói chung, các mục tử sợ hãi mọi sự: từ lo sợ bọn lính La-mã, sợ bọn cướp, đến sợ thú dữ cướp chiên, nên sợ luôn cả thiên thần có ánh sáng siêu nhiên. . . Tóm lại, họ rất sợ hãi vì mọi sự có thể đưa đến cái chết. Họ đã sợ chết, nên thiên sứ phán cùng họ rằng: Ðừng sợ chi!

 Nhân loại ngày nay cũng giống như các mục tử ngày xưa vậy.

Chúng ta sợ hãi mọi sự: từ sợ đau bệnh, sợ tai nạn, sợ rủi ro, sợ mất việc làm, sợ phá sản, sợ con hư, sợ gia đình ly tán, sợ nghèo, sợ đói, sợ lạnh, sợ. . . già và sợ chết! Kinh thánh khẳng định: “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô-ma 6:23). Có nghĩa là Ai làm công cho tội lỗi, ai làm nô lệ cho ông chủ tội lỗi, thì sẽ được trả công là sự chết. Và Bạn và tôi đều ở trong số ấy, mặc dù không nói ra hay không công nhận, thì trong tận sâu thẳm tâm linh chúng ta đều ít nhiều đã sợ hãi cái chết. Trong thực tế, theo tâm lý chúng ta thường xem “Cái chết là chuyện bình thường của mọi người, nhưng nó lại bất thường đối với chúng ta !?”
Chúng ta bất an và sợ hãi vì chúng ta là những tội nhân “hụt mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời”. Tôi, Bạn hay những Mục tử năm xưa đều là những tội nhân, như Thánh Kinh chép:“Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời” (Rô-ma 3:23).
Ðáng lý ra con người không có sợ hãi hay sợ sự chết, nhưng vì sau khi phạm tội, sự vinh hiển của Chúa lìa khỏi họ, bỡi con người “thiếu mất hay hụt mất sự vinh hiển” nên họ sợ hãi (Sáng 3:6-10). Tại đây, Kinh Thánh cho thấy “các Mục tử thấy sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh thì họ rất sợ hãi.”(Luca 2:9). Nhưng Thiên sứ đã trấn an họ: Ðừng sợ chi” (Luca 2:10).
Tạ ơn Ðức Chúa Trời, chúng ta cũng sẽ chẳng sợ hãi chi nữa, bỡi vì Ðức Chúa Giê-su đã hy sinh trên thập tự giá, đỗ huyết ra chịu chết đền tội cho chúng ta, để phá diệt quyền lực của ma quỷ, lãnh tụ của sự chết. Chúa đã chết thay để giải thoát mọi người đang sống trong nỗi sợ hãi sự chết và giải cứu chúng ta khỏi ách nô lệ cho tội lỗi.
Như chính lời Chúa trong  Hê-bơ-rơ 2:14-15 có chép rằng: “Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ,  lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm tù trong vòng tôi mọi trọn đời”.

Kết  luận:

Cảm tạ ân điển của Ðức Chúa Trời, Ngài đã ban Chúa Giê-su giáng thế làm người để cứu với nhân loại. Ðó là niềm vui vĩ đại cho nhân loại. Ðiều đó đã thực hiện rồi, đã làm xong rồi cho tất cả chúng ta. Bạn có nhận được Niềm Vui Vĩ Ðại nầy hay còn sống trong lo âu và sợ hãi? Cơm áo gạo tiền của cuộc sống có phải đang là gánh nặng của bạn? Trách nhiệm trên gia đình, vợ con hay công việc làm ăn sinh sống, có làm bạn mệt mõi chán chường, bạn đã không hề có niềm vui that sự trong tâm hồn mình? Hãy đến với Chúa Giê-su và tôn thờ Ngài, như các Mục tử năm xưa. Chắc chắn Ngài sẽ tiếp đón Bạn trong tình yêu thương và ban cho bạn niềm vui tuyệt diệu của Ngài.
Chúa Giê-su đã phán: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ” (Math 11:28).

 
Trong tuổi thơ khi ở Việt nam, tôi sống tại thành phố Sàigon. Tôi rất thích đi Vũng Tàu để tắm biển. Ðứng trước biển cả hùng vĩ, tôi thấy mình quá bé nhỏ. Tôi thích nghe sóng biễn vổ rì rào rồi ngắm bình minh và hoàng hôn trên biển. Tôi thích hít thở bầu không khí trong lành mênh mông của biển. Tôi có một Người Chú bà con xa với ba tôi. Ông ấy rất giàu, và có căn nhà rất lớn và sang trọng nằm nơi bờ biển. Ba tôi có dẫn tôi vào thăm người chú nầy. Tôi thấy chú ấy ốm yếu, ho hen, nằm trong căn phòng tối thui và cửa thì đóng kín. Dường như, Chú ấy rất sợ ánh nắng và gió biển thì phải! Mấy tháng sau, tôi nghe chú ấy chết. Ba tôi nói chú ấy là người nghiện thuốc phiện.

 

Nhớ về Chú tôi, tôi gẫm nghĩ về thân phận của con người cũng giống như vậy. Ðức Chúa Trời đã ban Niềm Vui Vĩ Ðại cho nhân loại, ai ai cũng có thể hưởng được niềm vui ấy, như ai ai cũng có thể ngắm bình minh và hoàng hôn cùng hít thở bầu không khí trong lành của biển.

Nhưng trong thực tế không phải ai ai cũng có được niềm vui vĩ đại nầy! Tại sao? Tại vì, nhiều người giống như Chú Tôi cứ đóng mãi cửa lòng mình, cứ tiếp tục sống mãi hoài trong cuộc đời tối tăm tội lỗi! Và chắc chắn một ngày kia phải chết! Không chỉ chết về thể xác, nhưng chính là cái chết của linh hồn bị hư mất, bị hủy diệt đời đời nơi hỏa ngục. Kinh thánh phán rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét” (Hê-bơ-rơ 9:27), “Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai” (Khải 21:8).

Hơn hai ngàn năm qua, Lời Chúa Giê-su vẫn còn tuyên phán: “Hỡi những kẻ lao khổ và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các con được an nghỉ”. “Nhưng hễ ai tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền năng trở nên Con cái Ðức Chúa Trời” (Giăng 1:12).

 Bạn thân mến, sự thành công hay thất bại của cuộc đời đôi khi bắt đầu bằng một cơ hội để quyết định cho quyết định quan trọng nầy. Như một triết gia đã nói: “Không ai tắm mình dưới dòng sông hai lần”. Cầu xin Chúa giúp bạn tận dụng cơ hội hôm nay để quyết định nhận Niềm vui vĩ đại cho cuộc đời mình. Mong thay.

Mục sư Nguyễn Văn Ðại.

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 22/12/2010

CHÚA BÌNH AN

BÀI GIẢNG GIÁNG SINH

 

CHÚA BÌNH AN

 

 

Kinh thánh: Luca 2:1-20
Câu nền tảng: Ê-sai 9:6

       “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Ðấng Lạ lùng, là Ðấng Mưu luận, là Ðức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Ðời đời, là Chúa Bình an.”

 

 Trong tuổi thơ, tôi có từng trãi về “ngủ nướng”. Người Việt nam dùng từ này rất tượng hình, ngủ nứơng là một người thức dậy mà không muốn ra khỏi giường, nằm lăn qua ngủ thêm một chút, rồi lăn lại ngủ thêm một chút, như nướng một miếng thịt trên bếp lửa để  chín cho đều! (…vui!!!).  Vào một buổi sáng, tôi nằm trên giừơng trong phòng ngủ, đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ, tôi thấy bình minh rực rở như một bức tranh tuyệt đẹp. Tôi thả hồn theo những ong bướm bay lượn trên hoa lá, những áng mây bay bay trên bầu trời xanh trong vắt, tràn ngập ánh sáng ban mai… rồi bất chợt, một cơn gió mạnh thổi đến, cánh cửa sổ đóng sập lại, cả căn phòng chìm trong bóng tối… Tôi ngẫn ngơ, nuối tiếc… Rồi một cơn gió khác làm cánh của sổ bật ra… nhưng chỉ vài phút sau lại biến mất… (yên lặng ).  Trong kinh nghiệm cuộc sống, tôi nhận thấy sự bình an trong tâm hồn mỗi người chúng ta cũng giống như vậy. Huy hòang rồi chợt tắt, rực rỡ rồi u ám, vui mừng và nước mắt, hạnh phúc rồi đau khổ. Như Nhà văn Khalin Gibrand, đã viết: “Tôi đã uống mật ngọt pha cùng mật đắng trong cuộc đời.”

Thật vậy, bao lần chúng ta nếm trãi sự ngọt ngào của bình an và hạnh phúc nhưng rồi đau khổ, buồn thãm đầy đắng cay đã đổ ập đến trong cuộc đời chúng ta liên tục. Tình trạng bất an dày vò tâm hồn chúng ta không ngơi nghỉ.

I.SỰ BẤT AN LÀ THỰC TRẠNG CỦA NHÂN LỌAI.

A) Chúngta đang sống trong một thế giới bất an.

Thực trạng này thật rõ ràng khi chúng ta đọc lướt qua tin tức trên báo mỗi ngày, chúng ta nghe radio hay xem truyền hình thấy những hình ảnh thế giới đang diễn ra trong tình trạng: Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, động đất, dịch lệ (cúm gà) bệnh tật (Aids) tràn lan khắp mọi nơi.

  

Ngày nay, mặc dù có một Tổ chức lớn lao của thế giới để giữ gìn hòa bình là Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, nhưng thế giới cứ liên tục xãy ra chiến tranh, hết Châu Á rồi lại Châu Phi, hiện nay lại bùng nỗ tại Trung Ðông giữa Israen và Palestin, giữa Quân đội Ðồng Minh và Afganistant. Bom Cảm tử của Ankeda đã cướp đi biết bao sinh mạng hàng ngày. Bom hạch nhân của Bình Nhưởng và Bắc Triều Tiên là mối đe dọa hàng đầu của Châu Á và Thế giới hiện nay.
 Cách nay không lâu, Biến cố “911” với sự sụp đổ Tòa Tháp Ðôi Thương mại tại New York, cho thấy khủng bố, chiến tranh và sự chết ở khắp mọi nơi!
 (Nếu tôi nói cùng qui vị rằng: Trước buổi nhóm, có một người lạ mặt, mang một gói quà đến để ở cạnh cây noên này, mà tôi không biết món quà đó là gì, và một cú điện thọai báo rằng đó là bom khủng bố, chắc quí vị không an tâm ngồi đây phải không?)
 Tôi nhớ mùa giáng sinh năm 2004, đúng vào ngày Chúa nhật 25 tháng 12, cơn sóng thần của Châu Á đã thình lình đùa biết bao nhiêu người chết chìm trong sóng nước. Thái lan, Indonesia và Malaysia có khỏang 300.000 người chết bởi cơn sóng thần ấy. Người ta vui chơi, du lịch và hưởng thụ bên bãi biển, Sóng thần đến cách bất ngờ và đùa đi hết thảy!  

Tại Mỹ, Cơn bão Katrina vừa qua đã làm kinh hòang mọi người, trong khi nhiều người nghỉ rằng chúng ta đang sống một nơi bình an nhất thế giới, thì tai họa thình lình vụt đến, như Người Xưa đã nói “Tai bay họa gởi”.
Tình trạng bất an hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới này. Thật, như Thánh Kinh có chép rằng: “Khi người ta nói hòa bình và an ỗn, thì tai họa thình lình vụt đến”(I Tes 5:3)

Có một câu chuyện vui kể rằng:
Có một Người Nga tên là Ivanovic, lần đầu tiên được đi xuất ngọai du lịch. Anh đến Cơ  quan xuất cảnh để làm thủ tục.
Nhân viên hỏi: Anh muốn đi nước nào? Anh lưỡng lự, lựa chọn.
Thấy vậy người nhân viên góp ý: Anh đi Ý đi?
– Châu Âu hả, tôi nghe ở đó hình sự, xã hội đen và Mafia dữ lắm. Nó giết cả thẫm phán chính phủ. Ivanovic trã lời như vậy.
– Anh đi Israen đi, đó là xứ Thánh, có nhiều di tích lịch sử?
– Thôi! tôi đâu có ngu dại mà đến lò thuốc súng, nguy hiểm ở mọi nơi.
-Vậy anh đi Mỹ đi?
-Ờ! Ðó là một đất nước rất văn minh và tiến bộ, nhưng mà tôi nghe ở đó tự do lắm, ai cũng có súng, đàn bà và thiếu niên cũng có súng…nghe nói có đứa vác súng vô trường học bắn thầy cô và bạn bè chết hàng lọat. Thôi nguy hiểm quá…
 Bực mình, anh nhân viên này đưa cho Ivanovic một quả địa cầu bằng nhựa và nói “anh cứ lựa chọn đi, một lát tôi sẽ giúp anh”. Một lát sau người nhân viên trở lại. Ivanovic cầm quả địa cầu bằng nhựa xoay qua xoay lại và nói: “Anh còn quả địa cầu nào khác không?”(…)
Có lẽ anh ta muốn tìm một nơi nào khác, bởi vì theo anh ấy, không có một nơi nào trên thế giới này tuyệt đối là an tòan cho anh ta.
 
 Trớ trêu hơn nữa, chúng ta lại đang sống trong trạng thái bất an của tâm hồn, nỗi bất an lo âu của nội tâm trong đời sống hằng ngày. Người lớn tuổi lo âu về sức khỏe, người trung tráng niên lo lắng về công ăn việc làm (Sợ mất job!).  “Ðầu tiên” là “tiền đâu” để trã tiền nhà, tiền điện tiền ga hàng tháng. Dù ngồi trên xe hơi sang trọng, an tòan (hơn Honda ở Việt nam) nhưng trên xa lộ chúng ta vẫn căng thẳng lo âu. Tai nạn có thể xãy ra trong “nháy mắt”.

Sự bất an bao trùm xung quanh con người.
Trên giường êm nệm ấm, vẫn có những tiếng thở dài của trằn trọc đêm thâu!
 
B) Nguyên nhân của sự bất an:

Chúng ta bất chợt phải đặt vấn đề với câu hỏi, Tại sao thế giới và lòng người bất an như vậy? Thực trạng đó do đâu mà có?
Câu trả lời đầy đủ nhất là từ Kinh Thánh.

Tại vườn Ê-đen, Chúa hỏi: A-đam, con ở đâu? Ông trả lời: Thưa Chúa, con có nghe tiếng Ngài trong vườn bèn sợ (Sáng 3:10).
A-đam trả lời với Chúa như vậy là lúc sau khi phạm tội. Cảm giác sợ hãi là do tội lỗi. Ngày nay, mọi người sống trong bất an, lo sợ, bởi vì tất cả mọi người đều phạm tội. Kinh thánh khẳng định rằng: Vì mọi người đều đã phạm tội, hụt mất sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời” và “Tiền công của tội lỗi là sự chết” (Rô-ma 3:23; 6:23).

Trong mọi nỗi lo sợ, sợ chết là nỗi lo sợ lớn nhất của nhân loại. Tại sao? Có phải Chết là hết!? Không! Bởi vì Thánh Kinh có chép rằng:
“Theo như đã định cho loài người phải chết một lần và chịu phán xét “(Hê-bơ-rơ 9:27).

Cuộc sống con người như một điếu thuốc lá. Khi bị đốt cháy thì tàn thuốc sẽ rơi xuống và một luồng khói mong manh bay lên.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết trong tác phẫm Cát Bụi Phù Du: “Hạt bụi nào hóa kiếp than tôi, để một mai trở về làm cát bụi”
Khi chết, thân thể con người sẽ trở về với cát bụi, nhưng linh hồn con người sẽ phải ứng hầu trước Ðức Chúa Trời và chịu phán xét.
Người xưa dạy rằng: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo. Cao phi viễn tẩu giả nan tàng” có nghĩa là “Việc lành việc ác gì cũng có ngày báo trả, dù có cao bay xa chạy cũng không thể thoát được” (Minh Tâm Bửu Giám, chương ).

Kinh thánh cho biết sự hình phạt kinh khiếp của sự chết linh hồn trong Khải huyền 21:8 như sau: “Còn những kẻ hèn nhát, kẻ chẳng tin, kẻ đáng gớm ghét, kẻ giết người, kẻ dâm loạn, kẻ phù phép, kẻ thờ thần tượng, và phàm kẻ nào nói dối, phần của chúng nó ở trong hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng: đó là sự chết thứ hai”.

Ôi! Sự hình phạt thật là khủng khiếp, Kinh Thánh cho biết đó là “nơi có lửa và diêm cháy bừng bừng, ngày đêm không hề tắt”.

Như vậy con người tuyệt vọng chăng?

II.CHÚA BÌNH AN LÀ NHU CẦU CỦA NHÂN LOẠI.
   
a.Chúa Bình An do Ðức Chúa Trời ban cho:

Ðang khi nhân loại bất an, tuyệt vọng vì sợ hải sự chết, thì Thánh Kinh cho biết: “Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài (đã giáng sinh làm người, chết thế tội nhân), hầu cho hễ ai tin Ðấng ấy sẽ không bị hư mất, mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16).

720 năm trước Thiên Chúa Giáng trần, Tiên tri Ê-sai đã dự ngôn: “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Ðấng Lạ lùng, là Ðấng Mưu luận, là Ðức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Ðời đời, là Chúa Bình an.” (Ê-sai 9:6)

Lời tiên tri ấy đã được ứng nghiệm trong thời Vua Hê-rốt trị vì tại thành Jerusalem xứ Do Thái. Một Con Trẻ được sinh ra cho nhân loại, tức là Chúa Giê-su – Chúa bình an đã giáng sinh nơi chuồng chiên máng cỏ, tại tiểu thôn Bết-lê-hem mà mỗi Mùa Nô-ên chúng ta đều nhắc nhau thánh sử nầy.

 

Sự giáng sinh kỳ diệu ấy, đã khai mở một Kỷ Nguyên Thanh Bình cho nhân loại. Cho nên,

Trong đêm Chúa giáng sinh, Các Thiên Thần đã hát vang trên không trung bản thần ca tuyệt diệu:
“Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao,
Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người” (Lu-ca 2:14).
Ân trạch còn có nghĩa là ân điển, ân sủng hay ân huệ từ Ðức Chúa Trời ban cho nhân loại. Ân điển đó đáp ứng nhu cầu của nhân loại đang lầm than trong tội lỗi, đang khổ sở và lo sợ sự chết, ân điển đó mang lại sự bình an cho con người như lời haut vang long của các thiên sứ:
“Sáng Danh Thiên Chúa trên trời.
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Ân điển đó chính là Chúa Giê-su đã giáng sinh, Ngài chính là Nguồn bình an cho nhân loại.

b.Chúa Giê-su mang bình an cho nhân loại bằng cách nào?
Kinh Thánh phô diễn rằng: “Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.  6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Ðức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê-sai 53:5-6).

Thật như vậy, tội lỗi của chúng ta đáng bị hình phạt nơi hỏa ngục, bây giờ tội lỗi đó được chất trên thân thể Chúa Giê-su. Chúa gánh thay tội lỗi chúng ta và Ngài chịu hình phạt thay cho chúng ta trên thập tự giá. (Diễn tả thêm sự hình phạt đóng đinh trên thập tự tương quan tội lỗi nhân loại).

 

 

 

 

C.Chúa Giêxu mang bình an đến cho nhân loại:
Kinh thánh bày tỏ Chúa Giê-su là Ðấng có thẩm quyền ban sự bình an.

Ngày kia, Các môn đồ và Chúa trên thuyền đi sang bờ biển Ga-li-lê. Chiếc thuyền đã gặp cơn bảo tố dữ dội. Sóng gió làm cho thuyền chòng chành nghiêng ngã… hòng chìm. Các môn dồ cầu xin Chúa giúp đỡ, thì Ngài đã đứng trên mủi thuyền và phán với sóng gió: “Hãy yên đi! Lặng đi!  Gió liền dứt vâng theo lời Ngài, và biển liền yên lặng như tờ.” (Mác 4:36-41). Ðức Chúa Giê-su có quyền trên thiên nhiên, vũ trụ nầy, vì Ngài là Ðấng Tạo Hóa, nên muôn vật, kể cả thiên nhiên cũng vâng mạng lịnh Ngài. Có nhiều người trong chúng ta từng trãi điều nay khi đi vượt biên phải không? Chúa đã nhậm lời cầu xin và cứu chúng ta qua những cơn bão tố. Nhưng hôm nay, có những bão tố làm cuộc đời chúng ta nghiêng ngã: Con thuyền gia đình chúng ta đang nghiêng ngã. . . ? Con thuyền sự nghiệp chúng ta  đang hòng chìm . . .!? Con cái chúng ta đang hư hỏng, ly tán, bội nghịch. . . Hãy đến với Chúa Giê-su – Chúa Bình An, Ngài sẽ ban sự bình an cho chúng ta.

Trước khi bước lên thập tự giá, chết thay hình phạt của nhân loại, Ngài đã phán: “Lòng các con chớ nên bối rối và cũng đừng sợ hãi” (Giăng 14:1-2).

Sau khi chịu chết trên thập tự giá, được chôn trong thạch mộ ba ngày, Chúa Giê-su đã sống lại một cách vinh quang. Ngài hiện ra cho các môn đồ mà phán rằng “Bình an cho các con” (Giăng 20:19-29). Ngài cũng hiện ra cho Thô Ma là người hay nghi ngờ, không tin Chúa Giê-su that đã sống lại. Ngài phán: “Vì ngươi thấy nên tin ta, nhưng phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin ta vậy”. Bạn chính là người chẳng từng thấy mà đã tin vậy.

III.PHƯƠNG CÁCH NHẬN BÌNH AN TỪ CHÚA GIÊSU.

Làm sao chúng ta có thể nhận được sự bình an?

A)Nhận biết thực trạng đời sống bất an do tội lỗi

“Huyết của Ðức Chúa Jêsus, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.  8 . Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta.  9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.  10 Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta. (IGiăng 1:7-10)

B)Tiếp nhận Chúa Bình an làm Cứu Chúa riêng mình.
Giăng 1;12 “Nhưng hễ ai tin nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền năng trỡ nên Con Ðức Chúa Trời”

 

 

Kết luận:

Có một Cuộc thi Hội Họa, chủ đề Sự Bình Yên. Sau nhiều vòng thi tuyển, có hai bức tranh được vào vòng chung kết. Bức thứ nhất diễn tả cảnh yên tịnh của một bải biễn không chút gợn sóng, rạng phi lao đứng yean trên bải cát trãi dài. Con thuyền đậu khoang thai, in bóng in mặt nước. Thật là một cảnh tượng yen tịnh vô cùng. Nhưng tác phẩm này bị đánh giá là không thể hiện được chủ đề sự Bình Yên, bởi vì, ai có thể bảo đảm biển sẽ không nổi sóng, gió và giông tố sẽ tràn về bất cứ lúc nào. . . Còn tác phẩm thứ hai, khi thoạt nhìn vào, chẳng có gì là bình yên cả. Một lằn sét lóe sáng từ một góc tranh, cơn mưa đổ xuống như trút, nước chảy qua những tảng đá trên cao, tràn qua thành dòng thác tuôn xuống một cách đá sừng sửng. Nó là bức tranh diễn tả một cơn bảo tố dữ dội!? Nhưng khi nhìn kỷ bức tranh, người ta thấy ngay nơi vách đá, có một hốc đá bình yên mưa bảo không tạt nước vào được, ở đó có một tổ chim. Con chim cha, chim me và các con của nó đang cất tiếng hót. . . mặc dù xung quanh là bảo tố.
Bức tranh nay đoạt giải vì toát len ý nghĩa tuyệt đẹp của sự bình yên. Ðây là sự bình an thật mà chúng tôi muốn đề cập. Kinh Thánh cho biết Chúa Gie6su là Vầng Ðá của Mọi Thời Ðại “Hãy nhờ cậy Ðức Giê-hô-va đời đời, vì Ðức Giê-hô-va, chính Ðức Giê-hô-va, là vầng đá của các thời đại! (Ê-sai 26:4), và như lời của một bài Thánh ca chúng ta ưa thích: “Chổ kẻ đá vững an. . . nơi tôi nương thân trong lúc phong ba. . .”

Thật vậy, Chúa Cứu Thế Giê-su là Chúa Bình An. Ðấng Giáng sinh để mang đến cho nhân loại kỷ nguyên thanh bình. Bạn còn sống trong bất an vì tội lỗi hay đã sở đắc một cuộc sống bình an trong nội tâm, cho dù đang sống trong nghịch cảnh.
Bạn ơi! Hãy đến với Chúa ngay hôm nay. Mong thay!

 

Mục sư Nguyễn Văn Ðại.

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 22/12/2010

Quán Trọ Chúa Giáng sinh.

BỒI LINH GIÁNG SINH

Quán Trọ

Chúa Giáng sinh.

Kinh thánh :       Luca 2:1-7
Câu gốc:              “Vì Nhà Quán không có đủ chỗ ở”
                                                                      (Luca 2:7b)

 Thánh sử Chúa Giêxu giáng sinh ghi rất rõ địa điểm, nơi chốn sinh ra của Ngàị Nơi đó được gọi là thành Ðavít, còn gọi là Bếtlêhem, xứ Giu đê, tức là Quốc gia Do thái ngày naỵ Nhưng có một chi tiết khá thú vị và lạ lùng trong thánh sử Chúa giáng sinh, ấy là khi được sinh ra, Hài Nhi Thánh Giêxu được Mẹ Ngài “lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không đủ chỗ ở”(Luca 2:7b). Qua câu Kinh thánh này, cho thấy Chúa được sinh ra trong một chuồng gia súc của Người Do thái tại thành Bếtlêhem. Tại sao Chúa lại giáng sinh nơi thấp hèn ô trượt như vậỷ “Vì Nhà Quán không có đủ chỗ ở”.

 “Nhà Quán”được đề cập ở đây là Nhà trọ, nơi dừng chân nghỉ ngơi của lữ khách. Kinh thánh Bản Diễn Ý có chép”Vì Nhà Quán không còn chỗ trọ”(Luca 2:7b)   Chúng ta cùng suy gẫm Lời Kinh thánh này qua đề tài “Quán Trọ Chúa Giáng sinh”.

I. QUÁN TRỌ NĂM XƯA
    KHÔNG CHỔ CHO CHÚA (Luca 2:1-7)

 Tại sao Quán trọ Ðêm Chúa Giáng sinh không có đủ chỗ ở, đến nỗi Chúa phải sinh ra trong một chuồng gia súc?
 Khúc Kinh thánh Luca 2:1-7 đã nêu lên nguyên nhân “Thời đó, Hoàng đế Lamã là Aâu-gút-tơ ra lệnh kiểm tra dân số khắp đế quốc. Ðây là cuộc kiểm tra đầu tiên, được thực hiện thời Qui-ri-ni-u làm Tổng trấn xứ Siry và Do tháị Mọi người đều phải về nguyên quán để đăng ký trong cuộc kiểm tra nàỵ Vì Giôsép thuộc dòng họ Ðavít, nên phải từ thành Naxarét xứ Galilê, về làng Bếtlêhem xứ Giuđê, quê hương Vua Ðavít, để đăng ký cho mình và cô Mari, vị hôn thê đang có thaị Về đến Bết lêhem, Mari tới ngày sinh nở. Cô sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc lại, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không còn chỗ trọ”

  

  

 Trong bối cảnh ấy, chúng ta thấy thành Bếtlehem là một làng nhỏ cho nên các nhà trọ cũng không có nhiều phòng. Việc trở về nguyên quán khai tên vào sổ trong cuộc kiểm tra dân số khiến cho nhiều người thuộc dòng dõi Vua Ðavít kéo về Bếtlêhem với số lượng đông đúc. Họ thuê phòng trọ lại qua đêm, quán trọ thiếu phòng là vì thế. Nan đề là do nhu cầu lớn hơn cung ứng. Hơn nữa, Giôsép và Mari sinh sống tại làng Naxarét là ở tận phương bắc Nước Giu đa, còn Bếtlêhem là dưới miền nam. Hành trình họ trãi qua là 128 dặm, tức là 194,8km. Như vậy, khoảng đường gần hai trăm cây số, với phương tiện vận chuyển ngày xưa bằng lừa, ngựa hay lạc đà thì phải mất nhiều ngày mới về đến thành Bếtlêhem. Giôsép vừa đi trễ, vừa là người thợ mộc nghèo khó thì làm sao tìm được nơi nghỉ ngơi tiện nghi và sang trọng  được! Quán trọ không còn đủ chỗ ở. Dẫu vậy, có lẽ vẫn còn chút tình người đối với người phụ nữ có mang đã đến ngày sinh nỡ, chủ quán cho họ một nơi qua đêm, ấy là chuồng gia súc. Thế rồi Mari đã hạ sanh Hài Nhi Thánh Giêxu trong nơi thấp hèn nhất của cuộc đời nàỵ Ngài giáng sinh giữa sự thiếu thốn, nghèo nàn của người lữ khách trên đường về cố hương. Kinh thánh chép “Người sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở”.

 


 

    Bên cạnh những cuộc đời ngũ vùi trong hưởng thụ, sống trong giường êm, nệm ấm vẫn còn có những thân phận nghèo nàn lam lũ. Từ cõi đời đời, nguyên chỉ của Ðức Chúa Trời yêu thương thế nhân, một tình thương yêu bao dung, không phân biệt giàu nghèo trong cuộc đời này, nên Chúa đã chọn một nơi thấp hèn nhất trong cuộc đời này để ai ai cũng có thể đến với Ngàị Một nhà thần học đã nói:” Thế giới này không có chỗ cho Chúa, Ngài luôn tìm một lối vào trong những tấm lòng chật hẹp của con người, mãi hoài mà không tìm gặp được.” Ðúng như Kinh thánh chép: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, song Con Người không có chỗ gối đầu”(Mathiơ 8:20) Khi suy niệm về cuộc đời của Chúa, một triết gia đã nói: “Chúa Giêxu là Ðấng sinh ra bên đường, sống trên đường và chết giữa đường.” Thật vậy,  thế giới không chỗ cho Chúa, kễ cã khi Ngài chết, phần mộ chôn Ngài cũng là của người khác mà thôi! (Mathiơ27:59-60). Lòng người luôn luôn đóng chặc lại như quán trọ năm xưa, không chỗ cho Chúạ Lòng người luôn hướng về tiền bạc, lợi lộc và hưởng thụ, nên nỗi cứ hững hờ, không đón nhận, tôn thờ Hài Nhi Thánh Giêxu.

II. QUÁN TRỌ   GIÊRUSALEM    (Mathiơ 2:1-9)

 Cách tiểu thôn Bếtlêhem không xa là Kinh thành Giêrusalem, nơi Vua Hêrốt trị vì. Kinh thành  nhộn nhịp có nhiều quán trọ và cung điện Giêrusalem nguy nga tráng lệ. Nhưng Chúa Giêxu không giáng sinh nơi đó. Thiên ý khác với quan niệm con ngườị Các vị Vua Phương đông cứ nghĩ rằng Vua Giêxu phải sinh ra trong cung điện như những vị vua khác, nên họ đã đến kinh thành Giêrusalem mà tìm Chúạ Họ hỏi rằng: “Vua Dân Giuđa mới sanh tại đâủ Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài bên đông phương, nên đến đặng thờ lạy Ngài”(Mathiơ 2:2) Họ đã không gặp được Chúa nơi này; trái lại, hành động sai lầm đó đã đưa đến một hậu quả vô cùng tai hạị Aáy là bỡi lòng ganh tỵ, lo sợ mất ngôi vua nên Vua Hêrốt đã ra lệnh “giết hết thảy con trai từ hai tuổi trỡ xuống ở thành Bếtlêhem và cả hạt” (Mathiơ 2:16-18).Cung điện Giêrusalem không có Chúa Giáng sinh mà chỉ có thế lực, lòng ganh tỵ và âm mưu hiểm độc của con ngườị Hình ảnh đo chính là  tấm lòng tội lỗi của con người luôn luôn chống đối và khước từ Chúa .

 Có một thiền sư bước vào cung điện. Vua tiếp đón ông và hỏi: Thầy đến có việc gì cần không?
Thiền sư nói: Ta cần một chỗ nơi quán trọ nàỵ
Vua trã lời: Nhưng đây là cung điện của ta, sao gọi là quán trọ?
Thiền sư hỏi:Thế thì trước khi Bệ hạ sống ở đây thì cung điện này thuộc về aỉ
– Thì của Cha ta, nhưng người đã chết rồi!
Vua trã lời xong thì thiền sư hỏi tiếp: Vậy, trước đó nữa cung điện này của aỉ
– Của ông nội ta, người cũng đã chết rồị
 Bấy giờ, vị thiền sư chậm rãi nói: Cung điện này là nơi mà ông nội bệ hạ, cha bệ hạ và kễ cã bệ hạ ở trong một thời gian rồi ra đi, nó không phải quán trọ thì nó là gì?

 Câu chuyện nêu trên nhấn mạnh rằng cung điện cũng chỉ là một quán trọ quyền lực trong cuộc đời này mà thôị Quyền hành, chức tước, địa vị, giàu sang trong trần gian sẽ qua đi như giấc mộng phù dụ Vì danh lợi quyền mà con người dùng bao thủ đoạn, lọc lừa lẫn nhau hầu trục lợi cá nhân. Họ sẳn sàng giả nhân ngãi, mượn tôn giáo, lợi dụng niềm tin chân thành của người khác để triệt tiêu đối thủ, giết người trừ hậu hoạn về sau (Mathiơ 2:7-8). Quán trọ – cung điện Giêrusalem không có và không bao giờ có Chúa Giáng sinh vì nơi đó chỉ có danh lợi quyền ngự trị trong lòng ngườị

 Hơn nữa, trong quán trọ – cung điện Giêrusalem mặc dù có những con người hoạt động tôn giáo, nhưng họ không có niềm tin chân chính. Ðó là những thầy tế lễ cả và những thầy thông giáo trong Hội đồng Tư tế. Khi Vua Hêrốt triệu tập cuộc họp về việc Các Bác sĩ Ðông Phương hỏi “Vua Dân Giuđa mới sanh tại đâủ” Thì những Thầy Thông giáo là người lào thông kinh sử, hiểu rõ lời dự ngôn nên trã lời ngay vấn đề này bằng cách trưng dẫn Kinh thánh sách Michê 5:1 (Mathiơ 2:5-6). Qua đó, chúng ta nhận biết họ thật là người giỏi Thánh kinh. Những thầy tế lễ và thông giáo này có tri thức kinh thánh, họ biết kinh thánh nói về Chúa Cứu thế rất rõ, nhưng họ chỉ dừng lại ở chỗ biết  mà không tìm kiếm và tôn thờ Chúa như các Bác sĩ Ðông phương. Lớp võ tôn giáo không giúp con người được gặp Chúa, được cứu rỗị Có tri thức mà không có sống đạo thì lòng người chỉ là một quán trọ hẹp hòi, cung điện lý trí và một hình thức tôn giáo đầy ấp câu kinh tiếng kệ, nhưng thiếu hụt sự tôn thờ bằng tấm lòng chân thành tìm kiếm chân lý. Nhân loại có thể ngủ mê trên triết lý, thần học, mà nhắm mắt hửng hờ, không tôn thờ Ðấng Chân Thần đã giáng sinh tìm cứu con ngườị

Quán trọ – Tôn giáo Giêrusalem không chỗ cho Chúa giáng sinh.  
 

Theo lịch sử Hội thánh, thời kỳ vàng son về xây dựng thánh đường chính là thời trung cổ. Các công trình mang đậm nét kiến trúc La Hy, kiểu dáng gôtích nguy nga tráng lệ, những bức bích hoạ trong thánh đường là những tác phẫm nghệ thuật bất hủ từ những họa sĩ trứ danh còn mãi đến hôm naỵ Nhưng trên phương diện thuộc linh, thời trung cổ được mệnh danh là “thời kỳ ám thế”, đến nỗi giáo hội phải tiến tới công cuộc cải chánh để trở về với lẽ thật của Thánh Kinh. Tại saỏ  Bởi vì, đời sống tin kính của hàng giáo phẫm đã “xuống cấp” trầm trọng, nạn mua bán quyền hành, chức tước đã xãy ra, bè phái và thủ đoạn đã ẫn hiện trong phạm trù đạo đức, bất khiết và tội lỗi đã chế ngự trong sinh hoạt giáo hội thay thế cho bản chất tinh ròng thánh khiết của Hội thánh Ðức Chúa Trờị Công cuộc Cải Chánh đã đưa Hội thánh ra khỏi  tình trạng hình thức tôn giáo để “sống bởi đức tin”. Bài thánh ca tôi thích hát, có lời đơn sơ như sau:”Nhà xiêu vách nát, kèo cột lung lay, Giêxu ngự vào hóa thiên cung ngay” (Thánh ca số 211). Dù hình thức đơn sơ như một chuồng chiên máng cỏ, nếu có Chúa Giêxu Giáng sinh, ngự trị thì đó chính là thiên đàng trên đất vậỵ

III. QUÁN TRỌ    BẾTLÊHEM   (Mathiơ 2:10-11)

 Quán trọ Bếtlêhem là nơi các Bácsĩ Ðông phương đã tìm gặp và tôn thờ Hài nhi Thánh Giêxụ Thánh kinh ghi rõ Các Bác sĩ đã rời khỏi cung điện lý trí Giêrusalem, họ hướng mắt lên bầu trời cao rộng của niềm tin, thì “Kìa, ngôi sao mà họ đã thấy bên đông phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chổ con trẻ ở mới dừng lạị Mấy thầy thấy ngôi sao mừng rỡ quá bộị Khi vào đến nhà thấy con trẻ cùng Mari, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương và một dược”(Mathiơ 2:9-11)
 Kinh thánh cho biết Các Bác sĩ gặp Chúa”khi vào đến nhà” Vậy, đây là nhà nàỏ Có phải nhà của Giôsép? Chắc chắn là không, vì nếu là nhà của ông thì đã đưa Mari vào nhà ngay khi về đến thành Bếtlêhem rồị Nhà này là quán trọ. Chúng ta phải nhớ rằng từ đông phương xa xôi các Bác sĩ tìm Chúa phải trãi qua thời gian thật dài mới đến được đất nước Do thái,  họ vào kinh thành, vào cung điện diện kiến Vua Hêrốt… rồi mới đến được Bếtlêhem. Phải mất nhiều ngàỵ Có lẽ, những khách đến đăng ký kiểm tra dân số đã thưa dần, quán trọ vắng khách, trống chỗ, nên Giôsép đã cẫn thận đưa sản phụ và hài nhi vào tá túc trong quán trọ. Cho nên, khi các Bác sĩ tôn thờ Chúa là ở quán trọ chớ không phải là chuồng chiên máng cỏ như nhiều vỡ kịch hoặc hoạt cảnh thường nêụ Quán trọ Ðêm Giáng sinh đã không chỗ cho Chúa, nhưng quán trọ tại Bếtlêhem là nơi Các Bác sĩ  đã tìm gặp và tôn thờ Hài Nhi Thánh.

 

 

 Trong tiếng Hêbơrơ, căn tự “Bết-lê-hem” có nghĩa là “Nhà Bánh”. Từ khi Chúa Giêxu giáng sinh thì Quán trọ thành Bếtlêhem đã trở nên Nhà Bánh cho toàn thể nhân loạị Nơi đó chu cấp nhu cầu khao khát cho tâm linh con người, bởi vì nơi đó có sự hiện diện của Ðấng Hằng sống, Ngài xưng nhận rằng “Ta là bánh của sự sống…Ðây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết. Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy thì sẽ sống vô cùng.”(Giăng 6:48-51).Chúa Giêxu đã giáng sinh để mang lại sự no đủ sung mãn tâm linh cho nhân lọai đang đói khát tâm linh. Cho nên,  Hội thánh của Ðức Chúa Trời ngày nay cũng phải mang tinh thần phục vụ như quán trọ Bếtlêhem năm xưạ Hội thánh là nơi mang Bánh Hằng sống cho Nhân loạị Hội thánh là nơi con người thành tâm tìm kiếm, tôn thờ Chúa Giáng sinh sẽ chắc chắn nhận được no đủ và thoả lòng nỗi niềm khao khát tâm linh. Chúng ta có thực hiện tinh thần truyền giảng về tình yêu Chúa cho mọi người không? Kinh thánh chép:”Nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói, và làm no kẻ khốn khổ thì sự sáng ngươi sẽ sáng ra trong tối tăm và sự tối tăm ngươi sẽ như ban trưa”(Eâsai 58:10)

 Vào năm 1775, tại phòng tiếp tân của một khách sạn sang trọng nhất thành phố Baltimore, nước Mỹ, một người ăn mặc như một nông dân bước vào thuê phòng trọ. Người quản lý khách sạn nhìn thấy bề ngoài của người này quá bình dân nên từ chối không cho thuê phòng trọ. Sau khi người ấy quay đi, một nhân viên chính phủ bước vào và nói với người quản lý kia rằng anh đã sai lầm, vì anh đã từ chối Ngài Thomas Jefferson, Phó Tổng Thống Hoa Kỳ. Người quản lý khách sạn hỏang hốt chạy theo xin lỗi vị khách quý, và Ngài Thomas Jefferson đã nói: “Nếu khách sạn của anh không có chỗ cho một nông dân, thì cũng không có chỗ cho một Phó Tổng Thống Hoa Kỳ!”

 Bạn nghĩ gì về điều nàỷ Phải chăng đã bao lần trong cuộc đời chúng ta đã xem thường và khước từ Hài Nhi Thánh? Bao lần chúng ta giống Người Dân Thời Tiên Tri Ê-sai từ chối Chúa: “Có bao nhiêu người tin lời Chúả Ai chịu nghe tin mừng chúng tôi loan báỏ Chúa sẽ tiết lộ quyền năng cứu độ cho aỉ Trước mặt Ðấng Tạo hóa, Ngài lớn lên như cây non nứt lộc từ gốc rễ mọc trong lòng đất khô cạn: Ngài chẳng có thân hình đẹp đẽ. Lòai người nhìn ngắm không thấy Ngài có gì hấp dẫn. Ngài bị người ta khinh dể, khước từ. Ngài là con người đau đớn, quen chịu sầu khổ. Lòai người thấy Ngài liền ngõanh mặt, bĩu môi, khinh miệt, không thèm đếm xỉa”(Eâsai 53:2b-3BDY) Nhưng chúng ta đâu có biết rằng Ðấng chúng ta từ chối chính là Ðức Chúa Trời cao cả, Ngài là Vua trên muôn vua, đã từ trời cao giáng sinh nơi thấp hèn nhất để thi hành sự cứu chuộc chúng tạ.
 

Kinh thánh chép: “Thật Ngài đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta, mà chúng ta lại tưởng rằng Ngài đã bị Ðức Chúa Trời đánh đập và làm cho khốn khổ. Nhưng Ngài đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Ðức Giêhôva đã làm cho hết thảy tội lỗi chúng ta đều chất trên ngườị”(Esai 53:4-6)
Trước tình thương yêu vô bờ và sự hy sinh  của Chúa, lòng bạn có chỗ nào cho Ngài không?
Hay lòng bạn hững hờ chối từ Chúa như quán trọ năm xưa “vì nhà quán không còn đủ chỗ ở”.
Ðừng để danh vọng, lợi lộc và quyền thế đời này trở thành cung điện vàng son đóng khung cuộc đời của bạn.
Cũng đừng dừng lại ở tri thức biết Chúa mà thôi, nhưng hãy tiến tới trong đức tin để tôn thờ, hiến dâng cuộc đời và phục vụ Chúa yêu thương chúng ta ngay hôm naỵ Lòng bạn, cuộc đời bạn sẽ được phước hạnh biết bao khi trở nên nơi cư trú của Cứu Chúa dấu yêu (ICôrinhtô 3:16; 6:19-20; Mathiơ 1:23; 28:20b).
 
 Lòng máng gia súc tanh hôi, bẫn thỉu đã trở nên nơi chiêm ngưỡng, nơi được nhắc nhở luôn luôn trong thánh sử, tại sao ? Bởi vì, Lòng máng đơn sơ ấy có Hài nhi Thánh Giêxu ngự vàọ Cũng một thể ấy, lòng bạn , cuộc đời bạn sẽ trở nên ý nghĩa khi tiếp nhận Chúa  Cứu Thế Giêxụ Muốn thật hết lòng.

              
 Mục sư Nguyễn văn Ðại
    
Đăng bởi: nguoichanbay | 17/11/2010

QUÀ CHO THẦY

 

 MOT GOC DOI THUONG

Trong bat cu huyen thoai nao cung deu co chua nhung manh vun cua su that.

QUÀ CHO THẦY 

Ngày 20 tháng 11- Ngày Nhà Giáo, má lui-cui gói quà thầy cô giáo của ba anh em chúng tôi. Thằng út học cấp một, tôi cấp hai và anh tôi cấp ba.
– Mình mà có nhiều tiền thì tặng quà cho tất cả thầy cô mới xứng đáng với công khó dạy dỗ con mình. Má tôi nói.
– Cho nên, cứ tặng cho Thầy cô Chủ nhiệm là được rồi! Ba tôi miễn cưỡng nói.
Bất chợt, thằng em út tôi hỏi:
– Ủa, vậy ai là Chủ nhiệm thì được quà, ai dạy học thì được tặng quà… vậy tại sao ông Mục sư và mấy anh chị hướng dẫn cũng là người dạy dỗ tụi con mà sao không được các phụ huynh trong Hội Thánh tặng quà?
Một chút yên lặng …
Anh tôi phá tan bầu không khí căng thẳng đó:
– À, tại Ông Mục sư là “Chủ tọa” chớ đâu phải là chủ nhiệm, còn các anh chị hướng dẫn Thiếu nhi là thầy cô dạy Ðạo, chớ đâu phải dạy chữ, hiểu chưa?!
Cả nhà cùng cười như vỡ chợ, rồi ba tôi nói với má tôi:
– Chúng ta nên trân trọng các Thầy Cô. Em nên nhín nhút mua ít quà để tỏ lòng kính mến Mục sư mình và khích lệ các Anh chị Hướng dẫn Thiếu nhi trong Hội Thánh.
 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/11/2010

LÒNG BIẾT ƠN

 

 MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG

 Trong bất cứ huyền thoại nào

cũng đều có chứa những mãnh vụn của sự thật.

 

 

 

 

 
 
 
 

 
LÒNG BIẾT ƠN 
 
Có tiếng gỏ cửa. Tôi đang ngồi soạn bài nên Nhà tôi ra đón khách. Rồi tiếng của Nhà tôi từ phòng khách vọng vào:– Có Bà Tư qua thăm mình, anh ơi! 
 
Nghe có Bà Tư đến thăm thì tôi hơi ngạc nhiên, còn các con tôi thì chạy ùa ra mừng rỡ. Chúng nó rất thương mến bà Tư. Bà là một tín hữu nghèo trong Hội Thánh ven đô, nơi trước đây chúng tôi đã phục vụ. – Không biết bà Tư qua thăm chúng tôi hay có việc gì quan trọng không!? 
 
Tôi quan tâm và hỏi, nhưng bà Tư không trả lời ngay. Bà điềm đạm ngồi xuống ghế, rồi lấy từ trong chiếc giỏ đệm ra, nào là xâu thịt khoảng hai ký lô, hai chục trứng vịt và một chùm nho đâu khoảng một ký, gì đó.
Bà tươi cười nói:– Tui cho mấy cháu mấy trái nho và biếu ông bà mục sư nồi thịt kho ăn lấy thảo. Tui nhớ ông mục sư thích ăn “thịt kho tàu” mà, phải không?
– Nhưng hôm nay là tháng sáu, chớ đâu phải Tết! Sao Bà Tư cho ăn Tết sớm vậy? Chúng tôi cùng cười. Tôi tiếp:
– Bà Tư qua thăm là được rồi, sao mua sắm làm chi cho tốn tiền. . . trong lúc gia đình . . . 
 
Tôi định nói thêm là gia đình bà Tư nghèo, có nhiều khó khăn, không cần phải làm điều đó. Nhưng bà Tư nói ngay:– Mục sư ơi! Tui vừa mới bán được miếng đất bên hông nhà, chổ trồng cây xoài đó, mục sư nhớ hông? Cám ơn Chúa đã tiếp trợ cho gia đình tui. Còn món quà nầy là điều tui ao ước từ lâu. . . mà đến nay mới làm được. Mục sư nhận cho tui vui. Tui không bao giờ quên ơn của mục sư giúp đỡ gia đình tui trong lúc thiếu thốn trước đây. . .
 
Đêm hôm ấy, tôi tạ ơn Chúa, vì có những mùa gặt đến chậm, nhưng bát ngát hương lúa thiêng liêng của tình người.  
 
 
 
 

  
Đăng bởi: nguoichanbay | 17/11/2010

TÔI ÐI XE XÍCH LÔ

 

  MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG

 Trong bất cứ huyền thoại nào cũng đều có chứa những mãnh vụn của sự thật.
 
 
 
 
 

                                    

 

 

 TÔI ÐI XE XÍCH LÔ

Tôi ít khi đi xe xích lô đạp, bởi lẽ tôi đã có xe gắn máy. Dẫu vậy, thỉnh thoảng tôi cũng có đi xe xích lô khi xe gắn máy của tôi bị hư hay xẹp vỏ. Nhà tôi lúc trước ở Quận 8, đường xe buộc phải qua cầu Chà Và, dốc cao. Mỗi lần leo dốc, tôi đều nhảy xuống xe đi bộ vì tôi không thể chịu đựng nỗi cảnh người chở tôi gò lưng đẩy xe qua cầu.

Gần đây, gia đình tôi được chuyển về Quận Tân Bình. Chuyện xảy ra cách đây mấy ngày, xe bị hư nên tôi phải đi xích lô từ Sở làm về nhà. Ðường xa, bác xích lô đòi giá mười lăm ngàn đồng. Tôi trả giá  còn mười hai ngàn đồng. Trời trưa nắng, xe chạy chậm chập, tôi hơi sốt ruột… rồi xe cũng tới nhà. Bác xích lô nhận mười hai ngàn cảm ơn và quay xe. Theo lịch sự tôi nhìn bác và nói cảm ơn, nhưng tôi bàng hoàng, không nói nên lời nào … vì bất chợt phát hiện bác xích lô ấy đã đạp xe bằng đôi chân khập khểnh của mình. Chân bên trái là một chân giả bằng plastic.

Một thoáng ray rứt trong tôi …
 Bác ấy là một thương binh? Một người khuyết tật trong cuộc sống này? Tôi không biết rõ! Nhưng tôi biết rõ tôi – một con người khiếm khuyết, ít quan tâm đến những mối quan hệ thân thiết trong cuộc sống đời thường.

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/11/2010

Lòng Cảm Tạ

 

      

Lòng Cảm Tạ

 
“Con khá cẩn thận ,
 e quên Giêhôva Ðức Chúa Trời con ,
không gìn giữ những điều răn mạng lịnh và
 luật lệ của Ngài mà ngày nay ta truyền cho con chăng;
lại e sau khi đã ăn no nê, cất nhà tốt đặng ở,
 thấy bò chiên của mình thêm nhiều lên,
 bạc, vàng và mọi tài sản mình dư dật rồi,
 thì bấy giờ lòng con tự cao,
 quên Giêhôva Ðức Chúa Trời con,
 là Ðấng đã đem con ra khỏi xứ Eâdíptô,
 tức khỏi nhà nô lệ chăng.”
 (Phục truyền 8:11-14)
  
“Ngợi khen Ðức Chúa Trời,
 Cha Ðức Chúa Giêxu Christ chúng ta,
 Ngài đã xuống phước cho chúng ta
 trong Ðấng  Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng
 ở các nơi trên trời”
(Êphêsô 1:3)
     

Vua Ðavít trong tuổi hưu hạ, khi tham dự một buổi lễ Tạ ơn rất long trọng của Dân Ysơrasên, ông đã cầu nguyện rằng :”Ðức Chúa Trời chúng tôi ôi! Chúng tôi cảm tạ Chúa và ngợi khen danh vinh hiển Ngài”(ISử 29:13)
 Ðức Chúa Giêxu luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời bằng lời cầu nguyện: “Con tạ ơn Cha.” (Giăng 11:41) “Con ngợi khen Cha…” (Mathiơ 11:25) Chúa Giêxu luôn luôn cảm tạ dù trong tay chỉ có năm cái bánh và hai con cá ít oi cho nhu cầu quá lớn là năm ngàn người ăn (Mác 6:41)  Chúa luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời.
 

 Sứ đồ Phao lô mở đầu sứ điệp của mình cho Hội thánh tại Êphêsô bằng một lời cảm tạ hết sức quan trọng, bày tỏ ơn thiên hựu của Chúa thi thố trên con dân  của Chúa:
 “Ngợi khen Ðức Chúa Trời, Cha Ðức Chúa Giêxu Christ chúng ta, Ngài đã xuông cho chúng ta trong Ðấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời”(Êphêsô 1:3)
 Chúng ta cùng suy gẫm chủ đề ’Lòng Cảm tạ” qua câu kinh thánh này.

I.ÐỐI TƯỢNG CỦA LÒNG CẢM TẠ

 
 Trong nền Văn hóa thế giới nói chung , nhất là Văn hóa Việt chúng ta nói riêng, khi nhận một sự thi ân nào của người khác, chúng ta  thường đáp lễ bằng sự tạ ơn.Lòng tạ ơn được bày tỏ kèm theo một số hành động và lời nói. Thí dụ như “Con xin cám ơn ba má”, “Tôi xin chân thành cảm tạ quí ông bà.”. “Gia đình chúng tôi xin tri ân qui vị khách quí”… Tuỳ theo đối tượng thi ân là thân hay sơ, thì lời cảm tạ mang tính cách thân thiện hay khí khách.
 

 Sứ đồ Phao lô cảm tạ ơn thiên hựu của Chúa, Ngài đã ban ân điển và sự bình an cho Hội thánh Ngài và cho chính đời sống của ông bằng một ngôn từ cao quí “Ngợi khen Ðức Chúa Trời”. Chỉ có Ðức Chúa Trời là Ðấng chúng ta ngợi khen và thờ phượng bằng tất cả tấm lòng, vì Ngài là “ Ðấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí, vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời.(Khải huyền 5:13b).
 Ðức Chúa Trời chúng ta ngợi khen là Ðấng Hằng Sống. Chúng ta thờ phượng Ðấng Sống chớ không tin một tôn giáo chết, thờ hình tượng. Vì “Hình tượng của các dân bằng bạc và bằng vàng, Là công việc tay loài người làm ra. Hình tượng có miệng mà không nói, Có mắt mà chẳng thấy, Có tai mà không nghe, Và miệng nó không hơi thở.Phàm kẻ nào làm hình tượng, và nhờ cậy nơi nó, Ðều giống như nó.” (Thi thiên 115:4-8).

 
 Nhưng  Ðức Chúa Trời Hằng Sống thương yêu, chăm sóc chúng ta bằng cách đã ban mọi thứ phước thiêng liêng qua Ðức Chúa Giêxu Christ, Cứu Chúa của chúng ta.  Nhờ Ngài mà chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội theo sự dư dật của ân điển Ngài và được danh phận làm con Ðức Chúa Trời.  Bởi Thánh Linh Ngài, chúng ta được ấn chứng đến ngày cứu chuộc và có cơ nghiệp đời đời trên thiên quốc (Êphêsô 1:3,4,5,7,13 và 14). Thật cảm tạ ơn Chúa vô cùng.

II.ÐỘNG LỰC ÐỂ TỎ LÒNG CẢM TẠ

 
        Ðộng lực để cảm tạ là gì? Hay đặt vấn đề cách khác, lý do tại sao chúng ta phải cảm tạ Chúa? Phao lô đã nêu lý do cảm tạ  là vì “Ngài đã xuống phước cho chúng ta…..đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời”(1:3)
 Xin chú ý. Từ ngữ “Ngài đã xuống phước” được dùng trong thì qúa khứ. Ngài “đã”, chớ không phải Ngài “sẽ” là thì tương lai. Tạ ơn Chúa, vì Chúa đã xuống phước cho chúng ta như một người cha yêu thương con mình. Ngài dự bị mọi ơn phước cho chúng ta như Người Cha dự bị những món quà, những dụng cụ học tập, những phương tiện cần dùng đã để sẳn trong những ngăn tủ của Ngài. Khi chúng ta có cần thì Ngài ban cho, sự ban cho đã được trù liệu sẳn sàng, hầu cho có thể nhận bất cứ lúc nào.

  
 Có một Mục sư kinh nghiệm phục vụ Chúa đã nói: ”Ðức Chúa Trời luôn dự bị sẳn những ơn phước trong những ngăn tủ của Ngài, nhưng những ơn phước đặc biệt thì Ngài đặt trong ngăn tủ thấp nhất, hầu cho người quì gối xuống hoặc cúi mình thật thấp thì mới nhận được.
 Chúa dự bị ơn phước cho chúng ta trên linh trình theo Ngài giống như sự chăm sóc của Chúa đối với Dân Ysơrsên. Kinh thánh cho biết sau khi vượt qua Biển đỏ, “Dân Ysơraên vào đồng vắng Su rơ; trọn ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả.  Kế đến đất Ma ra, nhưng vì nước tại đó đắng, uống chẳng được…”  (Xuất 15:22-25).  Chúng ta đã biết nước là nhu cầu thiết yếu trong sa mạc.  Không có nước, sự sống Dân Ysơraên bị đe dọa. Nhưng khi có nước, nước lại bị đắng, không uống được, thế là nan đề được nhân đôi. Khó khăn chồng chất khó khăn.  Giải pháp là gì?  Kinh Thánh chép: Môise cầu nguyện: “Chúa bèn chỉ cho người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt.” (c25)  Giải pháp ở đâu? Ngay bên cạnh, ngay trên linh trình. Thật là lạ lùng, Chúa đã dự bị “cây gỗ” từ bao tháng ngày trước đó, để đúng lúc có cần, Ngài cung ứng cho Dân sự của  Ngài. Ngày nay, giải pháp mọi nan đề chúng ta là “Ðức Chúa Trời đã xuống phước cho chúng ta trong Chúa Cứu Thế” – Ðấng chịu hình trên cây gỗ từ ngàn xưa.
 

 Vững tin trong hiện tại và hướng về tương lai, Vua Ðavít đã nói trên kinh nghiệm một đời theo Chúa rằng: “Phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi “  (Thi thiên 23:6a). Người không tin Chúa luôn “cầu may, lánh rủi”, nhưng luôn gặp “tai bay, họa gởi”, hoặc “phước bất trùng lai, hoạ vô đơn chí”;  còn chúng ta là con cái Chúa thì “phước hạnh và sự thương xót sẽ theo chúng ta”.  Nhận thức rõ ràng như vậy chính là động lực mạnh mẽ khiến cho lòng chúng ta luôn tạ ơn Chúa.

 
 
III.TRỞ LỰC CỦA LÒNG CẢM TẠ

 Trở lực lớn nhất của lòng cảm tạ ấy là chúng ta hay quên. Mặc dù khoa học khẳng định khối óc và tiềm thức của con người là một “bộ nhớ” kỳ diệu lạ lùng.  Không có một điều gì, sự kiện nào xãy ra trong cuộc đời chúng ta mà không được lưu lại trong tiềm thức. Nhưng trong thực tế, chúng ta lại hay quên. Chúng ta quên tên người bạn nhiều năm không gặp, quên lời hứa, quên trã nợ, quên tình, quên nghĩa, quên ơn. Khi từ bỏ chiếc áo cũ, đôi khi kỷ niệm cũng theo đó chìm vào quên lãng.
 Hãy nghe lời Chúa phán trong sách Phục truyền luật lệ ký 8:11-14
 “Ngươi khá cẩn thận , e quên Giêhôva Ðức Chúa Trời ngươi,  không gìn giữ những điều răn, mạng lịnh và luật lệ của Ngài mà ngày nay ta truyền cho ngươi chăng; lại e sau khi đã ăn no nê, cất nhà tốt đặng ở,  thấy bò chiên của mình thêm nhiều lên, bacï, vàng, tài sản mình dư dật rồi, thì bấy giờ lòng ngươi tự cao, quên Giêhôva Ðức Chúa Trời ngươi, là Ðấng đã đem ngươi ra khỏi xứ  Êdíptô, tức khỏi nhà nô lệ chăng”.
 Tiền bạc, vật chất là phương tiện tốt để chúng ta phục vụ Chúa. Nhưng vật chất tiền bạc cũng là bẩy rập ma quỷ giăng ra để đánh sập đức tin chúng ta. Ngạn ngữ Pháp có câu:  “Tiền bạc là một đầy tớ tốt và là một ông chủ xấu.”  Bốn câu Kinh thánh trên  cảnh tỉnh chúng ta, khi tiền bạc, tài sản sung túc thì lòng người dễ sanh ra tự cao. Khi nhà cao, học cao, địa vị cao… nếu không cẩn trọng thì “cao nghiệu” dễ thành ”kiêu ngạo”.  Lòng tự cao sẽ quên Ðức Chúa Trời và quên ơn Ngài vậy. Ðó là trở lực trên con đường đức tin.

 Chúng ta phải xác tín như Sứ Ðồ Phao lô rằng: “Tôi làm được mọi sự nhờ Chúa ban thêm sức cho tôi” (Philíp 4:13). Nhận thức như vậy chúng ta sẽ hết lòng biết ơn và cảm tạ Chúa luôn luôn.

IV.HÀNH ÐỘNG CỦA LÒNG CẢM TẠ.
 Người xưa dạy rằng “Hữu ư trung xuất hình ư ngoại” nghĩa là có bên trong thế nào sẽ lộ ra bên ngoài như vậy. Sách Châm ngôn 4:23 dạy rằng: “Khá cẩn thận giử tấm lòng của con hơn hết,  vì các nguồn sự sống do nơi nó mà ra”.  Phát xuất từ tấm lòng tạ ơn, chúng ta sẽ nãy sinh những hành động cụ thể để đền đáp lại tình yêu thương của Chúa đối với chúng ta.  Chúng ta hiệp tác với anh chị em để rao giảng Tin lành và gây dựng Hội thánh.  Lòng tạ ơn khiến Chúa vui lòng.
 Khi Ðức Chúa Giêxu lên thành Giêrusalem, Ngài ghé vào ngôi làng nhỏ, có mười người phung đến đón Ngài và xin được chửa lành. Chúa chửa lành và phán cùng họ rằng: ”Hãy đi, tỏ mình cùng thầy tế lễ”.  Ðức tin phải kèm theo hành động. Ðang khi mười người phung đi thì họ được chữa lành hết thảy, nhưng chỉ có một người trở lại để tạ ơn Chúa mà thôi (Luca 17:11-19). Tỷ lệ của lòng biết ơn thật ít. Có đến chín người được chửa lành đã quên ơn.  Chúng ta quyết tâm làm “ người thứ mười” cho Chúa.

 Tháng sáu năm hai ngàn lẽ năm vừa rồi, tôi đến Hoa  kỳ thăm các con tôi. Tôi có thăm một người bạn. Thật ra, anh này là kế toán trưởng của công ty tôi trước đây. Tôi đã dẫn dắt anh ấy tin Chúa. Ðể tỏ lòng biết ơn, anh chị đã đãi tôi một bữa tiệc tại nhà hàng Hoa Kiều sang trọng nhất vùng ấy. Anh mời cả ba mẹ anh cùng tham dự. Ba anh trước đây là một Ðại Tá của Binh chủng Pháo binh. Ðiều làm tôi cảm động sau bữa tiệc, khi trã tiền thì hai cha con bạn tôi đã dành nhau trã . Ông nói:  “Hãy cho ba trã tiền hôm nay để đền đáp lòng yêu thương của Mục sư ngày xưa”. Với sự ngạc nhiên của tất cả chúng tôi, ông giải thích “Mục sư đã giúp đở Phong và các con tôi rất nhiều. Nhưng đặc biệt là khi tôi ở  tù về, sống trong hụt hẩn của gia đình, ruồng bỏ của bạn bè và xã hội; mục sư đã mời tôi bữa cơm thân mật với nhiều lời an ủi, khích lệ.  Sự trân trọng và thương yêu của mục sư đối với một người tù như tôi thì làm sao tôi quên ơn được…”  Lòng biết ơn trở nên món quà bất ngờ, một kỷ niệm cho chức vụ tôi.  Việc làm của tôi rất nhỏ, đến nổi tôi không còn nhớ, nhưng hôm nay khi nhận một hành động từ lòng biết ơn thì tôi được khích lệ dường bao.

 Cũng một thể ấy, khi nhận thức rõ ràng Sự thi ân lớn lao của Chúa, chúng ta sẽ được khích lệ để hết lòng phục vụ Chúa. Chúng ta phải  nhận biết ơn phước, sức khoẻ, tài năng và cả tài chánh của chúng ta đến từ sự ban cho của Chúa. Chúng ta mạnh mẽ dâng hiến thì giờ, ân tứ và tiền bạc để góp phần gây dựng Hội thánh ngày càng phát triển.  Ðó là hành động thiết thực của lòng biết ơn .
 Tác gìả Thi thiên 103, đã nói: ”Hỡi linh hồn ta,  hãy ngợi khen Ðức Giêhôva.  Chớ quên các ân huệ của Ngài ”(103:2).  ”Thanksgiving day – Ngày Tạ ơn “ ngoài ý nghĩa là sự nhắc nhở chúng ta nhớ ơn Chúa, nhưng cũng là dịp để cảm tạ  những ân nhân trong cuộc sống của mình.

 Có một thầy  Truyền đạo thường hay đem đôi giày cũ đi vá. Vá đi, vá lại nhiều lần . Ðến nổi người thợ sửa giày cười nhạo thầy, rằng tiền vá giày tính ra còn nhiều hơn tiền mua đôi mới. Thầy cười và nói: “Giày này cũ, nhưng tôi thích mang. Bởi vì, nó là món quà ba tôi cho khi tôi mới bước vào chức vụ. Tôi luôn mang giày này như mang cả tình thương của ba tôi trên mổi bước đường trong cuộc sống.”

 

Sứ đồ Giăng đã dạy:  “Này, sự yêu thương ở tại đây: A’y là chẳng phải chúng ta đã yêu  Ðức Chúa Trời,  nhưng Ngài đã yêu chúng ta, và sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội chúng ta.  Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Ðức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau” (IGiăng 4:10-11).  Thế giới vật chất tiếp diễn chung quanh chúng ta với nhịp đập thật hối hả, chóng mặt. Hậu quả  tất yếu là chúng ta quên ơn Chúa và  sống hờ hững với nhau.  Thế giới tội lỗi trong chiếc áo khoác mỹ miều của sự sung túc và tiến bộ, dễ làm cho tình yêu thương phôi pha, héo úa theo thời gian (Mathiơ 24:12)  Mặc dù không muốn, nhưng chúng ta luôn bị  quay cuồng trong guồng máy “cơm áo gạo tiền”, để bất chợt một ngày nào đó giật mình phát hiện tình yêu ban đầu đã nguội dần. Chúa phán:  “Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy hãy nhớ lại, ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn,  làm lại những công việc ban đầu của mình …” (Khải huyền 2:4-5a). 


 Duyên Anh, Nhà Văn chuyên viết truyện tâm lý Tuổi Học trò, trong một tác phẩm ông đã phát họa sự rung động đầu đời của con tim, mà cậu học trò mới lớn vừa nhận được tình yêu đầy chất thơ nhưng rất thực. Lúc ấy, với những xúc cảm đầu đời Cậu học trò nói lí nhí với người yêu:  “Cám ơn, cám ơn em đã…yêu anh”.
  Tình yêu thương ban đầu chúng ta có còn mạnh mẽ? Hay đã phôi pha lòng yêu mến Chúa? Hãy yêu Chúa cách đơn sơ và chân thành từ đáy lòng của mỗi chúng ta.

KẾT LUẬN.
 Cảm tạ ơn Chúa, qua lời Ngài chúng ta nhận biết Ðức Chúa Trời Hằng Sống là Ðấng đã xuống cho chúng ta mọi thứ phước thiêng liêng trong Ðức Chúa Giêxu. Bởi ơn thiên hựu, phước hạnh và sự thương xót của Chúa luôn theo đuổi chúng ta  trên linh trình theo Chúa.  Lời Chúa cũng cảnh tỉnh chúng ta đừng quên ơn Chúa. Sự sung túc và bận rộn trong cuộc sống làm cho lòng chúng ta dễ quên ơn Chúa. Hành động thiết thực nhất của lòng biết ơn là dâng hiến thì giờ, ân tứ, tài chánh…nói chung là cả cuộc đời chúng ta làm Chúa vui lòng.

Mùa Giáng sinh gần đến với chúng ta, tôi nhớ một câu chuyện cảm động.

 Khi Liên xô cũ sụp đỗ. Tại Nga, Chính phủ cho phép dạy Kinh thánh trong một số trại thiếu nhi mồ côi. Có vài thanh niên đến dạy cho các em lời Chúa.  Chị hướng dẫn hôm đó kể về câu chuyện Chúa giáng sinh: Chúa Giêxu từ trời cao giáng thế làm người, Chúa sinh ra trong nghèo nàn nơi chuồng chiên, Mari, mẹ Ngài lấy khăn bọc con mình đặt nằm trong máng cỏ,không có nệm êm chăn ấm. Chúa sinh ra trong nghèo nàn thiếu thốn như các em., Ngài thương yêu các em nhiều lắm.
 Ðể ôn lại bài học ấy, chị hướng dẫn mời một em kể lại câu chuyện này.  Một em rất dễ thương kể:” Em thấy…, em thấy…., Em này bắt đầu bằng tiếng  “em thấy” để kể về sự giáng sinh của Chúa, cho đến cuối câu chuyện, em nói: “em thấy trong máng cỏ có hai em bé nằm…” Quá ngạc nhiên, Chị hướng dẫn nhắc nhở: Chỉ có một mình Chúa Giêxu thôi, em ơi!   Em bé đó trã lời: Em biết, nhưng em muốn làm em bé thứ hai để nằm ngủ với Chúa. Chiếc khăn nhỏ không làm Chúa ấm được khi trời lạnh. Chị biết không, khi không đủ chăn ấm,  chúng em thường ôm nhau ngũ cho ấm… “

  Trí tưởng tượng của trẻ con là vậy, nó thường bay bổng theo những suy nghĩ đơn sơ của chúng. Em bé  này muốn Chúa được ấm áp khi trời đông lạnh giá. Là một cô nhi mà nó vẫn có cái để dâng cho Chúa?  Ðiều nó mơ ước là làm một điều gì đó để  Chúa ấm áp. Còn chúng ta thì sao ? Chúng ta có làm cho Chúa ấm lòng?

  Sứ đồ Phao lô đã khuyên người học trò yêu dấu của mình rằng: “Hãy nhen lại ơn Chúa” (II Timôthê 1:6). Hãy nhờ Thánh Linh làm tươi mới tình yêu ngày nào khi ta tin Chúa. Hãy vượt qua trở lực để nhớ đến ơn Chúa và để yêu Ngài cách đơn sơ nhưng chân thành.”Cám ơn Chúa đã yêu thương con”. Yêu và phục vụ là hành động thiết thực, là món quà giá trị  của tấm lòng cảm tạ Ðức Chúa Trời.

 Mục sư Nguyễn Văn Ðại


   

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/09/2010

TIỆC YÊU THƯƠNG

 

BÀI GIẢNG  TIỆC THÁNH 

TIỆC YÊU THƯƠNG

Cong vụ 2:44-27:

“Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện.  43 Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ.  44 Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung.  45 Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.  46 Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà,  47 ngợi khen Ðức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.”

Hoi thánh Đầu tiên nêu gương cho chúng ta tinh thần thong cong qua bửa ăn thân ái, hay còn được gọi là Tiệc Yêu thương. Tinh thần ấy dạy chúng ta cách tở chức các bửa ăn trong Hoi thánh thể hiện tinh thần Cơ-đớc:

1.Hiệp lại: “Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung”

2.Chia sẻ: “Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người”

3.Dùng bữa chung cách vui vẻ: “Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà”. Cách vui vẻ là tấm lòng cởi mở với nhau. Câu chuyện trao đởi là những câu chuyện vui, nhưng khơng phải chuyện tiếu lâm, chỉ nói chuyện khơi hài, vui cười.

Truyện tiếu lâm là truyện có mợt trong ba nợi dung như sau:
[1] Lời thanh ý tục. [2] Lời tục ý thanh. [3] Lời tục ý tục. Ba loại đều cĩ sự phàm tục, nên Cơ đốc nhân khơng nên nĩi.
Phao-lo khuyên Hoi thánh rằng: “Chớ nói lời tục tỉu, chớ giễu cợt, chớ giả ngộ tầm phào, là những điều không đáng, nhưng thà cảm tạ ơn Chúa thì hơn.” (Ê-phê-sơ 5:4; Cơ-lơ-se 3:8).

 

 

 

 

 

 

4.Dùng bữa chung cách thật thà: Khi họp nhau trong bữa ăn, điều quan trọng là lòng thật thà, tức là phải đới xử với nhau cách chân tình, khong dới trá, xạo hay lừa gạt, khơng lấy lòng, ninh hót, dùng tâm lý mà đắc nhân tâm, nhưng thực chất khong gây dựng đời sống  thuoc linh. Lòng thât thà sẽ khong cớ tình nói để làm ton thương, khong nói móc, nói kèo trên người khác. Chúng ta đừng khoe khoang, nhưng có thể nói đến kinh nghiệm ơn phước Chúa ban để gây dựng lẫn nhau trong Hợi Thánh.

5.Kết quả: “ Ngợi khen Ðức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.” 
Khi chúng ta thực hiện những bữa tiệc thân ái như vậy thì Danh Chúa cả sáng, Danh Chúa được ngợi khen. Điều ấy mang ảnh hưởng sâu đậm trong Cợng đờng nơi chúng ta sinh sớng, và ắt sẽ có nhiều người trở lại tin nhận Chúa. Bởi vì, ai ai cũng khao khát mợt mới thong cong mật thiết với người khác, và mọi người đều muớn có mợt tập thể vui vẻ thật thà.

6.Phao-lơ quở trách Hoi Thánh Cơ-rinh-tơ vì người tham dự khơng thể hiện tinh thần yêu thương.
“Trong khi tôi truyền lời cáo dụ nầy, chẳng phải khen anh em, vì sự nhóm lại của anh em không làm cho mình hay hơn mà làm cho mình dở hơn.  18 Trước hết, tôi nghe rằng khi anh em có sự nhóm họp Hội thánh, thì sanh ra sự phân rẽ; tôi cũng hơi tin điều đó.  19 Vì chắc trong vòng anh em phải có bè đảng, hầu cho được nhận biết trong anh em những kẻ nào thật là trung thành.  20 Vậy, khi anh em nhóm nhau lại một chỗ, ấy chẳng còn phải là Tiệc thánh của Chúa mà anh em ăn;  21 bởi vì lúc ngồi ăn, ai cũng nôn nả mà ăn bữa riêng mình, đến nỗi người nọ chịu đói, còn kẻ kia thì quá độ.  22 Anh em há chẳng có nhà để ăn uống sao? Hay là anh em khinh bỉ Hội thánh của Ðức Chúa Trời, muốn làm cho những kẻ không có gì phải hổ thẹn? Tôi nên nói chi với anh em? Có nên khen anh em không? Trong việc nầy tôi chẳng khen đâu.” (I Cơ-rinh-tơ 11:17-22).
 

7.Sau Tiệc Yêu Thương là Tiệc Thánh.
Thong thường, sau khi ăn chung với nhau trong tiệc yêu thương rời, thì Hợi thánh cùng dự Lễ Bẻ Bánh, hay còn gọi là Tiệc Thánh. Cho nên, Phao-lơ khuyên mọi người hãy tự xét lấy mình: 

 
  “Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng, thì sẽ mắc tội với thân và huyết của Chúa.  28 Vậy mỗi người phải tự xét lấy mình, và như thế mới ăn bánh uống chén ấy;  29 vì người nào không phân biệt thân Chúa mà ăn bánh uống chén đó, tức là ăn uống sự xét đoán cho mình.  30 Aáy vì cớ đó mà trong anh em có nhiều kẻ tật nguyền, đau ốm, và có lắm kẻ ngủ.  31 Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.  32 Song khi chúng ta bị Chúa xét đoán, thì bị Ngài sửa phạt, hầu cho khỏi bị án làm một với người thế gian.  33 Hỡi anh em, vậy thì lúc anh em hội lại để ăn chung với nhau, hãy chờ đợi nhau.  34 Ví bằng có ai đói, hãy ăn tại nhà mình, hầu cho anh em không nhóm lại để mà chuốc lấy sự đoán xét. Còn các việc khác, lúc tôi đến sẽ đoán định” (I Cơ-rinh-tơ 11:27-34).

Hoi Thánh ngày nay theo gương mẫu Hợi Thánh đầu tiên, họp lại dùng bữa chung với nhau trong các kỳ Lễ đặc biệt như Giáng Sinh hay Phục sinh. Tuy nhiên, chúng ta cần dự lễ Tiệc thánh thường xuyên, vì Tiệc Thánh do Chúa Giê-su thiết lập để chúng ta tưởng nhớ đến Chúa và cơng ơn cứu chuợc của Ngài.

Mợt sớ Hệ phái Cơ-đớc thực hiện Tiệc thánh hằng tuần, mỡi khi nhóm lại, nhưng Hoi Thánh chúng ta có thong lệ từ xưa cứ mỡi tháng thực hiện mot lần vào Chúa Nhật đầu tháng. Có lẽ, vì sợ dự thường xuyên sẽ làm cho chúng ta nhàm chán, có thể đem đến sự xem thường Tiệc Thánh như mợt thong lệ, hay mot nghi thức thờ phượng mà thoi. Điều đó cũng hay, vì chúng ta khao khát, chờ đón để dự tiệc thánh mỡi tháng mợt lần, sẽ khiến chúng ta kỉnh kiền hơn. Tuy nhiên, vì phước hạnh từ Tiệc Thánh, nên Hoi Thánh vẫn tở chức trong các cuợc Hợi Đờng, Đại Hợi, Biệt Lễ của Họi Thánh, chứ khơng hẳn là chỉ mợt tháng mợt lần mà thơi!
Xin mỗi người chúng ta kỉnh kiền cầu nguyện. Hãy xét mình, ăn năn những lỡi lầm trong mợt tháng qua. Hãy xưng tọi mình với Chúa với long tin nơi hứa ngon của Ngài: “Nếu chúng ta xưng toi mình, thì Ngài là thành tín cong bình để  tha toi cho chúng ta và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác” (I Giăng 1:9). Cảm tạ Chúa, xin chúng ta cầu nguyện./-

Đăng bởi: nguoichanbay | 08/09/2010

Thankgiving Day

 
 

    

 

   

  

MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG

Trong bất cứ huyền thoại nào cũng có những mãnh vụn của sự thật.

     

 

   

  

    

  
  
  
  
  
  
  
  
 
 
 
 

  

  

THANKGIVING  DAY  

 
Thi sĩ Thương ca có mấy lời thơ mà tôi nhớ hoài:
“Ðời lên gành, xuống bãi,
 Tóc xanh, chừ, sương nắng phôi phai.”
 

   

Chừ, tóc không còn xanh nữa!
Nắng sương đất khách như người họa sĩ đã pha những gam màu thời gian rồi 
vô tình sơn phết lên mái tóc tôi. Ðể chiều nay chợt nhìn ngắm,
 rồi chiêm nghiệm kiệt tác một đời lên lành, xuống bãi trong hồn.
Trong không gian tĩnh, tâm hồn tôi dao động nhớ đến anh.
Cái nhớ không sâu lắm, không đậm đà, mà sao da diếc quá, mênh mông quá, anh ơi!
Hùng! Tên của anh, trong ký ức tôi chỉ nhớ được võn vẹn có cái tên nhưng không nhớ họ của anh.
Thật là có lỗi biết bao! Cho dù tôi thèm khát được lội ngược dòng sông thời gian,
để lần về quá khứ tìm anh, với anh, mà nào có được đâu!
 
Sau 1975, tôi gặp nhiều gian nan trên Quê hương thời hậu chiến. Thân phận một nhà giáo thật bấp bênh trong cuộc sống ngày ấy.
Ðời lên gành xuống bãi, mấy ai không trãi qua, phải không anh?
Trong cơn sóng gió của cuộc đời, con thuyền gia đình tôi gần như sắp chìm vào đáy sâu, thì anh xuất hiện.
Anh như một vị cứu tinh đã giải thoát gia đình tôi qua cơn túng quẩn, ngặt nghèo.
Bằng tấm lòng cảm thông, bằng nghĩa cử thanh cao, anh trao cho tôi số tiền cho mượn không do yêu cầu, và ép tôi phải nhận trong nghịch cảnh. Tôi nghẹn ngào chẳng thốt nên lời.
 

      

Ðời lên gành xuống bãi. Anh mất hút trong đời tôi như một vị thần tiên hiện ra làm phước 
rồi vụt biến mất đi, để lại ngẫn ngơ cho con người trần thế. Tôi mãi hoài tìm kiếm,
lân la mà anh vẫn biệt tăm. Mấy năm sau tôi tình cờ được tin từ hải ngoại,
ằng Anh chị đã vượt biển ra đi, nhưng đau thương biết dường nào vì chị đã bị hải tặc cướp đi mất biệt.
Anh đã đến bến bờ tự do, nhưng từ dạo ấy không còn bạn đồng hành nào gặp lại anh nữa.
 Hung tin nầy ray rức lòng tôi mấy đêm liền. Anh Hùng ơi! Giờ nầy anh ở đâu?
 
Ðời lên gành xuống bãi. Tóc xanh chừ sương nắng phôi phai.
Bốn mươi năm vụt qua trong đời người. Tôi như con thuyền vượt biết bao sóng gió,
về đến bến bờ bình an. Chiều nay, nhìn con suối róc rách chảy êm đềm bên triền núi 
Chemmi Rock miền bắc Carolina, tôi nhớ về anh. Từ trong ẩn hiện chấp chờn của vùng ký ức,
của lòng tri ân, hình ảnh anh hiện ra bên tôi và trong tôi rõ mồn một.
 
Tôi thì thầm theo gió lời cám ơn anh, người đã một lần vụt đến trong khoảnh khắc
 gian truân lên gành xuống bãi của đời tôi.
Và còn xa hơn nữa, tôi cúi đầu trong thinh lặng để hồn mình bậc lên 
tiếng khóc nấc nguyện cầu cho anh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Theo gió, cho dù một nơi xa xăm nào đó, mong anh nhận cho tôi một tiếng cám ơn 
chân thành nhất, mà tôi nghĩ rằng thời gian không làm cho
lòng biết ơn phải sương nắng phôi pha. Ðể giờ nầy trong tận cùng sâu thẳm của lòng biết ơn.
Tôi xin Cảm tạ Chúa, Người đã gửi anh đến giúp tôi trong cuộc đời lên gành xuống bãi ngày xưa.

     

Đăng bởi: nguoichanbay | 01/09/2010

ÁO MỚI

MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG                              

Trong bất cứ huyền thoại nào cũng có những mảnh vụn của sự thật 

 

   

   

   

   

ÁO MỚI

Ngày tựu trường đến, ba mẹ dành dụm may cho ba anh em tôi mỗi người một cái áo mới.
  
Nhà trường phát hai cái huy hiệu cho mỗi học sinh, nên mỗi đứa phải có hai cái áo mới đủ mặt đi học. Thế là tôi cho thằng em kế tôi chiếc ao của năm học vừa qua, còn nó thì cho thằng út. Áo tôi và áo nó đã ngã màu.

Ðêm xuống, mẹ ngồi may mấy cái huy hiệu trường lên áo chúng tôi, còn ba thì đọc Kinh Thánh chuẩn bị cho giờ cầu nguyện lễ bái.
 -Cái áo gì mà “cũ xì”! Em út tôi nói.
Rồi thằng em kế tôi tếu có duyên:
 – Áo cũ mà huy hiệu mới!
 – Áo tụi mình cũ mà đẹp hơn áo của Ba.
Tôi cười và nói cho các em vui khi nghĩ đến chiếc áo bạt màu, rách nhiều lổ, có nhiều chỗ vá của ba tôi. Ba má nhìn nhau rồi oà cười cùng chúng tôi.

Khuya đêm ấy, tiếng sấm chớp của cơn mưa đêm làm tôi thức giấc, vô tình tôi nghe tiếng nức nỡ cầu nguyện của ba từ phòng trước vọng lại …
Dường như có vấn đề gì đó của người lớn mà tôi chưa hiểu được!?
 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 01/09/2010

HIỂM HỌA INTERNET

NÓI VỚI PHỤ HUYNH

 

 

 

 

 

 

 

HIỂM HỌA
INTERNET
ĐỐI VỚI CON CHÁU CHÚNG TA

“Hỡi Kẻ Trẻ kia,
Hãy vui mừng trong buổi thiếu niên,
Khá đem lòng hớn hở trong khi còn thơ ấu,
Hãy đi theo đường lối lòng mình muốn,
Và nhìn xem sự mắt mình ưa thích,
Nhưng phải biết rằng vì mọi việc ấy,
Đức Chúa Trời sẽ đòi ngươi đến mà đoán xét.”
 
Truyền đạo 11:9

Internet – Xa lộ Thông tin – là một phát minh tiện ích phục vụ đời sống của nhân loạị Sau khi phát minh máy vi tính, internet đã nối kết thông tin tòan cầu, hình ảnh cung cấp cho con người thật gần gủi, nhanh chóng và sinh động. Cha mẹ, con cái, bạn bè trò chuyện với nhau (“chat”) bằng phím đánh chữ và những cái “click” chuột điện tử. Hơn nữa webcam chuyển hình ảnh người đối thoại qua mạng thật rỏ ràng, gần gủị Trong sự học tập, sử dụng máy vi tính được nối mạng sẽ giúp cho các em cập nhật được kiến thức tân tiến hằng ngày, trên mạng có hàng loạt thư viện chuyên ngành và website chuyên mục giúp ích cho các em. Ngoài ra, các em có thể hội nhập vào một “thế giới ảo” rất giống đời thực qua các trò chơi điện tử (games). Các em dễ dàng liên lạc với bạn bè và ngay cả “người chưa biết mặt” đang lang thang trên xa lộ thông tin. Internet hấp dẫn vì đáp ứng tính hiếu kỳ và tính khai phá của tuổi thiếu niên.

Đã bao lần chúng ta vui và mừng thầm khi nhìn con mình ngồi trước chiếc máy vi tính, sử dụng bàn phím và click chuột một cách thành thạo!? Nhưng vấn đề là con cháu chúng ta đang sử dụng chương trình gì trên mạng? Chúng nó đang học hay chơỉ Chúng ta đã không ngại tốn tiền mua sắm máy, trả tiền cước nối mạng, nhưng con cháu chúng ta đã học được gì? Nhận được gì qua internet?

Kính thưa Quý Phụ Huynh,
Trong muôn ngàn hấp dẫn của internet, nhiều cặm bẩy đã giăng đối với con cháu chúng ta mà đôi khi chúng ta không quản lý được.
Thông thường, chúng ta dạy con không nên nói chuyện với người lạ, không được mở cửa cho bất cứ ai vào lúc ở nhà một mình, không kể chuyện nội bộ gia đình cho hàng xóm. . . nhưng chúng ta bỏ ngỏ, lơ là khi con chúng ta ngồi trước máy vi tính “chat” với những người “bạn mới” trên mạng. Con chúng ta tán gẩu hàng giờ với người lạ, nó nói gì? Các thông tin nội bộ, cá nhân, gia đình bị rò rĩ đối với kẻ chủ mưu tấn công gia đình và con cháu của bạn. Tính chất ảo trên mạng có thể làm cho một người đàn ông sành sỏi, gian giảo trò chuyện trong ngôn ngữ của một đứa trẻ. . . moi thông tin và hẹn hè con cháu bạn gặp gỡ uống nước ở một nơi nào đó . . . là một hiểm họa khôn lường.
Theo tâm lý, tâm hồn con trẻ luôn đầy tưởng tượng và mơ mộng. Lời ngon ngọt dụ dỗ sẽ đánh bẩy con bạn bằng một hình tượng ảo rất lý tưởng. . . cho đến khi con bạn đến một điểm hẹn nào đó, thoát khỏi vòng kiểm soát của bạn. Thử nghĩ, Nó sẽ ra sao?

Ngoài ra, internet còn cung cấp những chương trình, những hình ảnh bạo lực và khiêu dâm đồi trụy, mà chính người lớn chúng ta còn sợ hãi và ghê tởm, huống chi là những tâm hồn non nớt! Có lần, một người bạn mở cho tôi xem cảnh một con tin bị trói chặt nơi ghế. Một hung thủ bịt mặt, tay cầm dao đâm vào cổ nạn nhân, máu phọt ra đỏ ốị Rồi tên đó dùng dao cứa cổ nạn nhân cho đến khi đứt lìa rạ . . sau hết là hình ảnh một thây người không đầu và chiếc thủ cấp bên cạnh với cặp mắt thật hải hùng. Thú thật, cho đến hôm nay, mỗi khi nhớ lại, tôi còn bị ấn tượng đến kiếp đảm sự tàn bạo đó vô cùng. Hình ảnh dã man đó có thể tác động trên tâm hồn non nớt của Trẻ, đưa đến hành động tội lỗi khi có cơ hội phạm tộị 

Kính thưa Quý Phụ Huynh,
Phải công nhận internet và máy vi tính không thể thiếu trong sinh hoạt cuộc sống, nhất là trong học tập của con cháu chúng tạ Tuy nhiên, việc sử dụng thế nào cho được hiệu quả thì cả là một nghệ thuật. Nay tôi xin tổng hợp một số lời khuyên của các nhà Giáo dục các Chuyên gia kinh nghiệm về vấn đề nầy, và nhất là trong ánh sáng Thánh Kinh –Lời của Đức Chúa Trời, chúng tôi xin đưa ra một số gợi ý như sau:

1. Phải giải thích cho con bạn rõ và qui định thời gian mỗi ngày con bạn được sử dụng internet một cách nghiêm túc trong thời khóa biểu học tập.

2. Không nên cấm (cấm sẽ làm trẻ hiếu kỳ thêm) mà Phải dạy con bạn cách trò chuyện với “người bạn chưa gặp mặt”. Phân tích cho con bạn rằng, cho dù người bạn ấy rất “hợp gu” và cảm thông với nó. Dạy con bạn rằng không được cho thông tin nào về gia đình, giờ giấc làm việc hay sinh hoạt, cùng chi tiết về tài sản, và bí mật nội bộ của gia đình thông qua mạng.

3. Phải dạy con bạn tuyệt đối không bao giờ chấp nhận lời mời để đi ra đường gặp gỡ, uống nước với một người quen nào trên mạng.

4. Phải dạy cho con bạn hiểu, không phải bất cứ cái gì nó thấy hay nghe trên mạng, hoặc đọc trên các web. là đúng tuyệt đốị Các giao tiếp “online” không bao giờ giống giao tiếp thật ngoài đờị

5. Bạn phải kiểm tra “hộp thư điện tử” (ẹmail) của con để chắc chắn rằng con bạn đang được an toàn trong các mối quan hệ giao tiếp bằng thư.

6. Dạy con bạn giao tiếp một cách lễ độ với mọi người trên internet như người thật ngoài đời, tuyệt đối không sử dụng ngôn ngữ tiếng lóng hay nói tục.

7. Nên hướng dẫn con bạn lần đầu tiên truy cập internet và thỉnh thoảng lên mạng chung với nó. Tuy khó, nhưng rất hữu hiệu để ngăn chặn mầm móng nguy hiểm đối với con cháu bạn.

8. Phải dạy con bạn thuộc lòng Lời Chúa trong Kinh thánh sách Truyền đạo 11:9 “Hỡi kẻ Trẻ kia, hãy vui mừng trong buổi thiếu niên, khá đem lòng hớn hở trong khi còn thơ ấu, hãy đi theo đường lối lòng mình muốn và nhìn xem sự mắt mình ưa thích.” (Dừng lại đây, dù chưa hết câu gốc), Rồi hỏi con: Như vậy Kinh Thánh khuyên chúng ta cứ làm, cứ chơi, cứ xem những gì mình ưa thích phải không? (Để con bạn trã lời, sau đó mời nó đọc tiếp phần còn lại của câu gốc) “. . .nhưng phải biết rằng, vì mọi việc ấy Đức Chúa Trời sẽ đòi con đến mà đoán xét” (Truyền đạo 11:9). Phải nhấn mạnh rằng Mạng lịnh của Chúa là nó phải chịu trách nhiệm trên mọi điều nó làm, nó xem hiện naỵ
9. Bạn nên nhớ. Muốn lấy một con dao nhọn và bén đang đe dọa tính mạng của con bạn, bạn phải cho nó một cây kẹo hay một món đồ chơi hữu ích khác. Nếu không, nó sẽ khóc, nó chắc chắn không chịu, phải không? Vì lẽ đó, bạn nên giúp cháu đọc sách hằng ngày, như Sứ đồ Phao-lô khuyên đứa con thuộc linh của mình là Ti-mô-thê rằng: “Hãy chăm chỉ đọc sách” (I Ti-mô-thê 4:13), và khuyên con bạn đọc Kinh Thánh hằng ngày như Hội Thánh Bê-rê: “Ngày nào cũng tra xem Kinh Thánh” (Công vụ 17:10-11).
10. Điều cuối cùng, phải dạy cho con bạn biết rằng sự thành công của một người không chỉ là do tri thức mà thôi (trong đó có sự hiểu biết qua internet), nhưng là do chuyên cần và học tập theo Lời Chúa để thành công và hạnh phúc. Như kinh nghiệm của Giô-suê, Nhà Lãnh Đạo Tài Ba đã nói về Kinh Thánh: “Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng con, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theọ Vì như vậy con mới được may mắn trong con đường mình và mới được phước.” (Giô-suê 1:8).
Nếu có thể được, bạn nên mua các  CD co dữ liệu về Thánh kinh cho con bạn, gia đình bạn cùng sử dụng như: CD Thánh Kinh Việt nam, CD Nhu Liệu Kinh Thánh, CD VietBiblẹ Các CD nầy bao gồm 7-8 bản Kinh Thánh Tiếng Việt khác nhau và khoảng 40 đầu sách đa dạng khác để tham khảo, giải nghĩa và nghiên cứụ Ngoài ra, nên mua các Truyện Bồi Linh và Truyền Giáo sẽ mang lại sự gây dựng đức tin và tạo thích thú cho con cháu của bạn.


Kính chúc Quý Phụ Huynh được thành công trong sự dạy dỗ con cháu chúng ta theo như Mạng lịnh của Chúa: “Hãy dạy cho Trẻ Thơ con đường nó phải theọ Dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm ngôn 6:22).

Mục sư Nguyễn Văn Đại

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/08/2010

Mục đích của Thần học Tân Ước là gì?

(Đọc tiếp…)

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/08/2010

KHÓC

Một Góc Đời Thường

 

 

 

 

 

 

 

KHÓC

Trung tâm Truyền giáo Thiếu nhi Hòn chồng Nhatrang có một ban thiếu nhi hát rất hay, hầu hết các em là thiếu nhi trong Hội thánh Tin lành Vĩnh phước. Ðặc biệt có cả con Mục sư trong vùng nữa.

Chuyện xãy ra trong một buổi sinh hoạt, có hai em thiếu nhi gây lộn nhau dữ dội, mà cả hai đều là con mục sư cả. Với tư cách là người đặc trách thiếu nhi, tôi giải quyết chuyện xung đột này bằng cách mời hai em vào văn phòng. Tôi nhắc hai chiếc ghế cho hai em ngồi cạnh bàn và tôi ngồi chiếc ghế bên trong, đối diện hai em. Ðây là lần đầu tiên xữ lý một vấn đề xung đột của Thiếu nhi mà, tôi nghiêm nghị lắm! Tôi cho phép một em nói trước rồi lần lượt em kia sẽ nói.

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhưng có một tình huống bất ngờ, là khi em thứ nhì nói thì em thứ nhất cải lại. Em la lơùn tiếng om sòm… còn em thứ hai thì khóc lóc dữ dội. Tôi bảo các em yên lặng nhưng các em cứ nói, cứ khóc. Rồi cả hai em đều khóc… rối trí quá, tôi đứng lên la lớn “ Các em nín đi!” nhưng các em đứa nói đứa khóc lớn hơn nữa… chịu hết nỗi các em tôi đành ôm mặt khóc nức nở. Tôi khóc vì mình không giải quyết được vấn đề của các em. Tôi ước ao có ai đó kinh nghiệm giúp đở giùm tôi cái khó khăn ban đầu của chức vụ? Bối rối, lo âu … tôi ngồi phịt xuống ghế mà khóc. Nhưng kỳ diệu thay, khi các em thấy tôi khóc, chúng nó hõang hồn  … rồi nhìn tôi đầy ngạc nhiên và tức khắc nín khóc. Chúng nó không cải nhau nữa… Tất cả chúng tôi yên lặng trong chốt lát. Thế  rồi một em đứng lên khoanh tay  xin lỗi tôi,  và em còn lại cũng làm như vậy. Tôi mừng quá, đáng lẽ phải cười vui vì thoát nạn (!), nhưng tôi đã đứng lên cầu nguyện cho các em trong nước mắt hạnh phúc vơ cùng. Cảm ơn Chúa đã giúp đở sự thiếu kinh nghiệm của tôi.  

Truyền Đạo Sinh Nguyễn văn Ðại.

 

GIAI DIEU THAN HOC

 

Mạn Đàm Tác Phẩm:  

NHỮNG CHỦ ĐỀ TRONG THẦN HỌC CỰU ƯỚC

 

 

 

 

I

 

 TỔNG QUÁT:

            Tác phẩm Những Chủ Đề Thần Học Cựu Ước, nguyên tác  Themes in Old Testtament Theology của Giáo sư William Dyrness. Sách do Nhà Xuất bản Inter-Vasity Press ấn hành năm 1979 tại Downers Grova, Illinois, Hoa kỳ. Được chuyển dịch sang Việt ngữ bởi Union University of California tháng Giêng năm 2004.

  Tác giả William Dyrness là giáo sư Thần Học Cựu Ước, ông đã giảng dạy nhiều năm tại Chủng Viện Thần Học Châu Á tại Manila, Philippin. Tác phẩm được viết trong lúc ông giảng dạy tại đây. Với kinh nghiệm của một giáo sư thấu đáo bối cảnh văn hóa Á Châu, ông soạn thảo một tác phẩm thần học “hợp thời và thỏa đáng”, đáp ứng nhu cầu xây dựng một nền thần học hiện đại cho người Châu Á. Vì thế nó cũng thật gần gủi với Người Việt chúng ta.

II. TÓM TẮC SÁCH

Dẫn nhập: William Dyrness viết: “Tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ đốc Nhân.”

Chương 1 và 2:  Đức Chúa Trời tự mặc khải chính Ngài (self-reveletion) cho Dân sự. Mặc khải về thân vị và bản tánh Ngài chính là tiền đề giải thích cho mục đích mặc khải. Chúa không chỉ mặc khải bằng lời tuyên phán, mà thông qua những biến cố Ngài dùng các tiên tri để giải thích ý chỉ Ngài cho chúng ta.

Có những trường hợp đặc biệt như trong những sự kiện Ngài hiện ra, kêu gọi và sử dụng cuộc đời Áp-ra-ham, Môi-se và Tuyển Dân Y-sơ-ra-ên của Ngài. Đặc điểm mặc khải là vấn đề làm sao trong những lần hiện ra cho con người tội lỗi mà Chúa vẫn giữ được tính siêu việt để tồn tại trong thân vị vượt khỏi giới hạn của thế gian.

Đức Chúa Trời dùng một vài nhân vật trung gian làm phương tiện mặc khải bản tánh Ngài, như thiên sứ, sự vinh quang hoặc nhân hình hóa (anthropomorphism). Về bản tánh Đức Chúa Trời qua Cựu ước, con người có thể hiểu Đức Chúa Trời có thân vị, chân thần, duy nhất. Về bản tánh và công việc của Đức Chúa Trời được diễn giải rõ ràng về 4 thuộc tánh: Quyền Năng, Sự Thánh khiết, Sự Công chính, Lòng nhân từ và yêu thương.

Chương 3: Tương phản những ký thuật về thời kỳ sơ khai của các nền văn hóa khác, như Ai cập, Babylôn…suy đoán về nguồn gốc Đức Chúa Trời, Sự sáng tạo vũ trụ trong Cựu ước thật đơn giãn và rõ ràng. Mục đích tối hậu của công cuộc sáng tạo là tôn vinh Đức Chúa Trời. Giải luận và so sánh giữa Những Thần thoại (Myth) và Lịch sử Sáng tạo (History). Đức Chúa Trời hoàn tất công trình sáng tạo, không phải rồi thôi! Mà tiếp tục quan phòng, chăm sóc qua ba cấp độ khác nhau trên tạo vật của Ngài.

Chương 4 và 5: Đức Chúa Trời dựng nên người nam và người nữ là một tạo vật thượng đẳng của công trình sáng tạo. Bản tính con người được phân tích: Hồn, Linh, Xác thịt, Lòng, Huyết và Các chi thể. Bản tính được tạo dựng đó không có biểu hiện nào cản trở trong mối tương giao với Đức Chúa Trời “Nó thật tốt lành” –(Sáng 1:31), nhưng con người vượt qua ranh giới của sự tương giao và gây ra đỗ vỡ, đó là sự sa ngã. Từ ngữ “Tội lỗi” được thích nghĩa: Sự sai lệch (deviation) Tội phạm (guilt) sự phản loạn (rebellion). Đặc tính tội lỗi liên quan đến thần học (sai trật chủ đích thánh khiết của ĐCT), tính khách quan, hay ý thức cá nhân, tính phổ quát của tội lỗi trong hết thảy mọi người và đặc biệt là tính cố định của tội lỗi như là một phần của trật tự tạo vật sa ngã: Không thể tự thay đổi được. Đưa đến hậu quả là sự trừng phạt con người tội lỗi.

Chương 6: Giao ước là lời hứa giữa Đức Chúa Trời và Dân sự của Ngài. Giao ước không chỉ có tại Núi Si-nai nhưng trãi dài từ công cuộc sáng tạo, thời Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi se, Đa vít,  đến thời các tiên tri. Giao ước giúp Y-sơ-ra-ên hiểu được mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời, chính là khía cạnh thần học của Giao ước “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi và các ngươi sẽ làm dân ta” (Lêvi 26:12).

Chương 7: Luật pháp được ban cho Y-so-ra-ên nhằm thể hiện sự yêu thương trong giao ước, để ứng dụng trong đời sống, qua chính sách và những thủ tục cho cộng đồng.Với đặc tính bao quát, nhưng luôn hướng đến cá nhân. Luật pháp (trong Cưụ ước) chứa đựng sức mạnh vô điều kiện vì được đặt trên nền tảng sự thánh khiết Đức Chúa Trời: “Ta là thánh, các ngươi phải nên thánh”(Lev 11:44).

Chương 8:Sự thờ phượng trong Cựu ước không chỉ là lễ nghi tôn giáo mà là hành động cụ thể hóa đức tin. Như là biểu tượng (symbolic) minh chứng mối tương giao thuộc linh;và làm hình bóng (typical) mang tính dự báo những biến cố xãy đến trong tương lai. Địa điểm thờ phượng  là nơi con người bước vào sự hiện diện của Chúa. Vài nơi đặc biệt như Bê-tên, Núi Si-nai, Ca-đe, đền tạm hay hội mạc. Ngoài sự đề cập về thời điểm mùa màng và nghi thức dâng tế lễ, yếu tố thần học về thờ phượng thật quan trọng, vì tất cả nghi thức và sinh tế đều là ẫn dụ về sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời. Ý niệm trọng tâm chính là sự chuộc tội được thực hiện bởi ân huệ nhờ sự trã giá xứng hợp của sinh tế. Sinh tế cao trọng nhất là Đấng Mê-si-a mà Ê-sai nói đến, hình bóng của sự chuộc tội trong Christ Jêsus.

Chương 9 và 10: Lòng tin kính là sự đáp ứng tích cực đối với sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, đức tin nơi Đức Chúa Trời và tỏ ra lòng yêu mến Ngài được thể hiện trong đời sống chúng ta. Những thể hiện đặc trưng gồm: Ca tụng, cầu nguyện và tôn vinh Đức Chúa Trời. Ca tụng khác với tôn vinh, bởi vì ca tụng là ý thức và nhớ lại sự thiện hảo của Đức Chúa Trời mang đến cảm xúc vui mừng, hân hoan đến nổi thốt lên, nói ra lời chứng về sự cao trọng ấy; còn sự ngợi khen là sự rao truyền, biểu tỏ, phản chiếu lại vinh quang của Đấng mà chúng ta chiêm ngưỡng khi thờ phượng Ngài.

Đạo đức và lòng tin kính trong Cựu ước đi đôi với nhau như Đức tin và việc làm trong Tân Ước. Bản tánh Đức Chúa Trời là đạo đức nên nền đạo đức học Cựu ước đặt nền tảng trên sự kiện loài người được dựng nên theo ảnh tượng của Ngài. Cựu ước triển khai các nguyên tắc đạo đức qua những mạng lịnh, lời dạy dỗ và các định chế cho Dân Y-sơ-ra-ên. Đặc biệt trong Mười Điều Răn.

Chương 11: Ý niệm khôn ngoan là một thể loại văn chương phổ cập của khu vực Cận Đông cổ đại, được đề cập trong Cựu ước qua các sách Châm ngôn (những câu ngắn), sách Truyền Đạo (những triết lý) và sách Gióp (những vấn nạn đời sống). Sự khôn ngoan nằm trong tấm lòng, là trung tâm cho những quyết định tri thức và đạo đức. Chúng ta phải học sự khôn ngoan, vì sự khôn ngoan đến từ Đức Chúa Trời và phổ quát cho tất cả mọi người. Nó như hai nẻo đường mà người đi theo nó mang tên là khôn ngoan hay ngu muội. Người ngu muội là người sống không mục đích, như Von Rad nói: “người thiếu mất nguyên tắc từ trong căn bản, khiến họ khinh thường sự chỉ dạy”.

Chương 12: Thánh Linh của Đức Chúa Trời xuất hiện trong những phần đầu Cựu ước, từ giai đoạn nguyên thủy trong Sáng 1:2 “Thần Đức Giê-hô-va vận hành”, đến Sáng 2:7 “hơi thở” và 6:3 “Thần Ta”; được đổ đầy trên từng cá nhân bằng những ân tứ, như Giô-sép, Bết-sa-lê-ên, Môi-se, Ba-la-am, với những chức năng và tình huống khác nhau.Thần Đức Giê-hô-va cũng ở trên Các Quan xét, các Vua và các vị Tiên tri.Chính Đức Thánh Linh sẽ hoàn tất sự nối kết giữa Đức Chúa Trời và nhân loại.

Chương 13:Tác giả diễn giải về Lời Tiên Tri trong Cựu ước rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng yếu tố quen thuộc của thế giới Cận Đông, rồi lắp đầy bằng nội dung mới mẻ và dùng nó để thực hiện các chủ đích cứu chuộc của Ngài. Môi-se được xem là tiên tri đầu tiên và chính Môi-se nói về dòng dỏi tiên tri lẫn Đấng Mê-si-a sẽ đến để làm ứng nghiệm tất cả những gì đã được Đức Chúa Trời khởi sự, bằng việc dấy lên những tiên tri trong Cựu ước. Tất cả sứ điệp tiên tri của họ đã được thành toàn (ứng nghiệm) trong Đấng mà Tân Ước giới thiệu là Đấng Christ.

Chương 14: Khải tượng về Vương quốc Đức Chúa Trời  có hai luồng tư tưởng: Một là tư tưởng táo bạo bởi Đức Chúa Trời chinh chiến để thiết lập cho họ một vương quốc; luồng tư tưởng thứ hai là một vương quốc toàn hảo sẽ xuất hiện bằng phương tiện hòa bình, như đã từng phản phất trong giao ước. Vương quốc ấy sẽ đến do ý chỉ Đức Chúa Trời, đó là sự sáng tạo mới đạt đến tột đỉnh vinh quang (Êsai 9 và 11). Đức Chúa Trời sử dụng một Đấng Trung Bảo, gọi là “Người Đầy tớ Đức Chúa Trời”, “Đấng Mết-sia” – Niềm Hy vọng của Y-sơ-ra-ên và nhân loại, để qua đó trật tự mới được thực hiện.

“Buổi sáng đến, đêm cũng đến” (Êsai 21:12), chính lúc Dân của Giao ước hưởng sự cứu chuộc huy hoàng, thì cũng là đêm tối triền miên trong sự phán xét. Thần học Cựu ước phần lớn sử dụng từ “phán xét” trong thì tương lai chưa hoàn thành, ngày tương lai ấy sẽ thành toàn ý chỉ của Chúa. Sự Bất Tử dành cho Tập thể (Tuyển Dân) rồi mới đến cá nhân (Người Ý thức là Tuyển dân). Sự chết vừa là biểu tượng của sự hủy diệt tội lỗi, vừa là một phần của chính sự hủy diệt. Âm phủ (Sheol) là chổ ở của người chết, và sự phục sinh thân thể là hy vọng sự sống đời đời là những chủ đề dẫn đến giáo lý về sự sống lại trong Tân ước. Tạo nền tảng thần học (Đức Chúa Trời là Nguồn sự sống), nền tảng đạo đức (Báo trã thiện ác), và nền tảng lịch sử (qua lịch sử tuyển dân đã, hiện nay và sẽ được dẫn dắt đến ngày chung kết). Hiểu được điều ấy,  chính là đạt được niềm hy vọng mà Cựu ước tạo tiền đề để hoàn tất trong Tân Ước qua Đấng Mết-sia – Đấng phải đến.

III. NHAN DINH:

*Mat manh:  Như trong Phần Dẫn nhập: Mục sư Arthur Glasser, Giáo sĩ Truyền giáo tại Trung Hoa đã nhận định: “Lổ hổng đích thực của phong trào truyền giáo chính là việc không sử dụng đầy đủ Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta chỉ chú trọng vào Tân Ước, tập trung vào những cá nhân trước mặt Chúa, thì Cựu ước nhấn mạnh đến sự hiệp nhất của mối liên hệ gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia.” Sau trích dẫn này của phần dẫn nhập, William Dyrness viết: “Như vậy, tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ đốc Nhân.” Tác phẩm cung ứng một cách nhìn mới về Cựu ước trong bối cảnh Phúc Âm hội nhập Văn Hóa Châu Á mà tác giả được thai nghén tác phẩm này trong những ngày dạy tại Philippin.

*Mặt Yếu: 1) Khi luận về Bản Tính Nhân Loại, tác giả phân tích qua 6 phần:[1] Hồn [2]Linh [3]Xác thịt [4]Lòng [5] Huyết [6] Các chi thể. Xin mạo mụi nhận định, tác giả trưng nhiều số liệu các từ ngữ được sử dụng  trong Cựu ước rất thuyết phục, ông trưng nhiều câu kinh thánh Tân ước dẫn chứng “lấy thánh kinh giải nghĩa thánh kinh” thật tốt. Nhưng, không biết tại sao câu kinh thánh quan trọng về con người trong I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23 gồm có “tâm linh, tâm hồn và thân thể”, hoặc Hê-bơ-rơ 4:12 “ hồn, linh, xương tủy”  thì tác giả không đề cập!? Phải chi tác giả đưa phần luận về Lòng, Huyết và Các chi thể vào trong ba phần: hồn, linh và xác thịt thì gọn hơn và đở rườm rà (theo hệ thống thần học).

2)Tác giả đem một số truyền thoại, thần thoại Ba by lôn và  La Hi để so sánh khi giải luận (SGK 78,126-128). Tuy nhiên, đối tượng sinh viên tại Viện Thần Học Manila, Philippin có lẻ phần đông đến từ Châu Á, nhưng không hiểu tại sao không thấy tác giả đề cập đến bối cảnh tôn giáo, thần học và triết học Đông Phương. Nếu có, chắc chắn giá trị tác phẩm sẽ càng được nâng cao, vì sẽ đáp ứng khối lượng đọc giả và nghiên cứu sinh Châu Á nhiều hơn.

IV. Y MOI HUU ICH NIEM TIN :

Khi học về Thuộc tánh Đức Chúa Trời được mặc khải trong Cựu ước, có một phát hiện khá thú vị đối với chính tôi. Mặc dù đã giảng và dạy nhiều về Bản tánh quyền năng, thánh khiết, công nghĩa và sự yêu thương của Đức Chúa Trời; nhưng trong phần 4 này (SGK trang 64-68) tác giả luận Lòng nhân từ và yêu thương là thuộc tánh và công việc của Đức Chúa Trời thật đặc sắc.

Như tác giả nhận định:  “Chúng ta thường nỗ lực định nghĩa trùng lắp lên nhau. Những điểm cần phân biệt thì mù mờ, các ý nghĩa lại lấn sang ý niệm tương quan. Đó là nan đề khi giải luận về Đức Chúa Trời, việc làm ấy như những chiếc bình, chúng ta đem đến để múc nước trong một thùng lớn đã không chứa hết nước trong đó. Nhưng điều thường xãy ra là gì, giống như bình dầu của bà góa nọ không hề bị cạn, Chúa sử dụng những lời lẻ đơn sơ của chúng ta, nhân rộng, đưa nó vượt xa ý nghĩa nguyên thủy của mình.”(SGK 65)

Khi giải luận về tình yêu thương, tác giả khẳng định: “Trong các sách tiên tri, nhất là Ô-sê, tình yêu thương đạt đến mức độ diễn tả cao nhất. Tại đó, tình yêu thương thể hiện như một năng lực lựa chọn vượt trên lý trí (suprarational) nằm bên dưới để nâng đỡ giao ước giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa trời (Ô-sê 11:1-4).

Thú thật, khi đọc đến phần này, tôi đã phải dừng lại và suy nghĩ thật nhiều với nhiều câu hỏi: Tại sao tình yêu thương được diễn tả trong tiên tri Ô-sê là cao nhất? Tại sao là năng lực lựa chọn vượt trên lý trí, và nằm bên dưới để nâng đỡ giao ước, có nghĩa gì? Cám ơn Chúa, lời giải đáp đã đến khi tôi dụng công đọc lại sách Ô-sê, như vừa để củng cố vốn kiến thức đã có và tìm kiếm thêm những chi tiết hữu ích cho vấn đề này:

Trong đời sống, ngoài mối liên hệ huyết thống trong tình thương cha mẹ và con cái, ông bà và con cháu, thì tình thương cao nhất giữa hai cá thể, đó là tình thương vợ chồng. Giá trị của nó trong tiếng Việt diễn tả là Tình Yêu, Tình thương, tình nghĩa Vợ Chồng.Cái đáng yêu, thương và nghĩa của tình yêu vợ chồng là sự chung thủy. Thế mà, Chúa muốn tiên tri Ô-sê cưới một người vợ gian dâm, ngoại tình, có nghĩa là người phản bội tình yêu (Ô-sê 3:1-5).Chỉ có thể giải thích Hành động lựa chọn đó phát xuất từ một năng lực vượt trên lý trí, đó là tình yêu. Giống như Áp-ra-ham cầm dao, toan tra tay trên chính con ruột của mình là Y-sác, hành động theo nghi thức dâng hiến đó, là một việc ác không thể chấp nhận được trên phương diện đạo đức, nhưng lại được kể là đức tin, ông được xưng là tổ phụ đức tin. Đức tin vượt trên lý trí. Tại sao Áp-ra-ham có đức tin và hành động như vậy? Vì ông kính mến và tin cậy Đức Chúa Trời, ông yêu thương Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Tình yêu thương nằm bên dưới vấn đề, nằm bên trong sự kiện, để nâng đỡ giao ước chính là năng lực cho Áp-ra-ham hy sinh con trai Ysác. Bởi vì giao ước của Chúa là dòng dỏi ông sẽ đông như sao trên trời (Sáng 15:5). Cũng một thể ấy, theo lý trí, sự ngoại tình, gian dâm là một hành động không thể chấp nhận được trên phương diện đạo đức, nhưng tình yêu mặc dầu (agape love) là nền tảng căn bản (nằm bên dưới) để kiến tạo một tình yêu vượt trên thường tình của con người: Yêu thương một người vợ tội lỗi ngoại tình.

Đó là sự mặc khải về ơn cứu chuộc rộng lượng của Đức Chúa Trời trong Cựu ước. Thứ nhất, đối với dân Y-sơ-ra-ên, Tuyển dân của Ngài. Mặc dầu họ phản bội tình yêu của Chúa mà thờ lạy tà thần, hình tượng của Bái Vật Giáo, khác nào người vợ gian dâm, nhưng Chúa vẫn yêu bằng tình yêu rộng lượng, vượt lên cả lý trí. Thứ hai, là đối với nhân loại nói chung và chúng ta nói riêng. Tôi và chúng ta, những người đã chống lại Chúa trong thời điểm nào đó của quá khứ; dù đôi lần bội nghịch, phạm thượng trong cuộc đời, chúng ta đã phạm tội cùng Chúa, nhưng Ngài vẫn cứ yêu, yêu bằng tình yêu vô điều kiện thật kỳ diệu mà Tân Ước đã minh giải trọn vẹn trong Đấng Yêu thương, Chúa Jêsus là Con Độc sanh của Đức Chúa Trời, Chúa chúng ta (IGiăng 4:9-10).

V. KET LUAN:

Cám ơn Chúa, Ủy Ban Tu Thư của Viện Thần Học đã chọn tác phẩm này chuyển dịch, làm tài liệu giáo khoa. Sách đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thần học Cựu ước, điền khuyết khoảng thiếu hụt tài liệu thần học trong công trường thuộc linh và truyền giáo hiện nay, như Arthur Glasser, nhà truyền giáo tại Trung Hoa đã nói: “Lổ hổng đích thực của công cuộc truyền giáo chính là việc sử dụng không đầy đủ lời của Đức Chúa Trời, chỉ chú trọng vào Tân ước và sách Thi thiên.  Trong khi Tân Ước tập trung phần lớn vào từng cá nhân thì phần lớn Cựu ước nhấn mạnh đến mối liên hệ hợp nhất liên hệ đến gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia.” Có thể nói mục đich của William Dyrness, tác giả sách, đã thành công khi khai mở Cựu ước cho các sinh viên tại Manila Philippin và các Cơ đốc nhân, độc giả của mình. Tuy nhiên, theo thiển ý chúng tôi, ước mong một ngày không xa, nền Thần học Việt nam sẽ được khai sáng và bầu trời Thần Học Việt sẽ xuất hiện những vì sao sáng chói, để khai minh cho chính Dân Tộc Việt, để mang Phúc âm Hội nhập Văn Hóa và cuộc sống Dân tộc chúng ta./-

Mục sư Nguyễn Văn Đại.

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/08/2010

Con Dao

 NGỤ NGÔN HIỆN ĐẠI

 

 

 

 

Con Dao

 

Chuyện xảy ra trong Nhà Bếp. Các vật dụng họp hội nghị và diễn giả hôm nay là Anh Dao, nổi tiếng với biệt danh Dao Inox. Tiếng nắp soon xèng xèng vang lên báo hiệu giờ khai mạc. Anh Dao bước lên chiếc thớt gổ, cắm mủi xuống thớt nghe cái bụp, thân mình lắc lư, cái cán dao đưa qua đưa lại theo sức bật, còn lưỡi dao liếc qua liếc lại chói lọi ánh thép dưới bóng điện ne-on sáng giới. Anh ta dõng dạt nói:

-Kính thưa Quý vị, trong tập thể Nhà Bếp chúng ta đây, có thể nói Nhà Dao chúng tôi là hữu dụng nhất. Có thể tự hào là chúng tôi làm được nhiều chuyện nhất để giúp đỡ Gia chủ chúng ta. Nào là cắt thịt cá, gọt trái cây, bào khoai củ nè! (Vỗ tay); nặng nhọc hơn thì đốn cây, chẻ củi nữa nè! (Vỗ tay). Cứ xét các động từ có chữ C trong Tự điển Việt Nam thì Nhà Dao chúng tôi đa dụng nhất. Tỷ như: Cắt nè, cứa, cưa, cắm, cặm, châm, chích, chọt, chặt, chém. . . ôi thôi nhiều biết bao nhiêu mà kể! (lại vỗ tay). Ngay cả trong văn chương hay cổ tích cũng còn nêu cao gương “Mài dao dạy vợ” nữa là! (lại vỗ tay). Còn về phục vụ thì tôi rất đại chúng, từ người lớn đến thiếu nhi, từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, ai ai cũng cần dùng đến tôi cả! (Vổ hoài mỏi tay).

 

 

Sau những tràng pháo tay bất tận, Anh Dao Inox nhà ta trầm giọng xuống thật tình cảm, anh than thân trách phận: Tuy nhiên, có một điều làm tôi đau đớn lắm! (Cả hội nghị im lặng một cách đáng sợ) Tôi đa năng đa dụng như vậy mà không hiểu tại sao ai ai cũng sợ tôi, lánh xa tôi chứ!? Tại sao? Tại sao? (Câu hỏi của Anh Dao được chuyển từ giọng buồn chuyển giọng thật mạnh mẽ).

Cả hội nghị im phăng phắt.

Bổng có một tiếng nói nho nhỏ, từ xó bếp vang lên:

-“Tại vì cái lưỡi của anh bén quá! Và hể bất kể làm gì thì anh cũng chỉa cái mũi vào chuyện người ta. Ai mà không sợ!” 

Mọi người thấm ý.

Hết ý.

Hội nghị liền bế mạc.   

   

Đăng bởi: nguoichanbay | 17/08/2010

ÐIỀU RĂN MỚI

Bài Giảng Dưỡng Linh    

 ÐIỀU RĂN MỚI    

 Kinh Thánh:               Mathiơ 22:34-40
Câu nền tảng:              Giăng 13:34-35
    

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

   

“Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.”  

   

 Kính thưa Hội thánh và Các Bạn Thanh Tráng Niên,
 Tôi xin mạn phép bắt đầu bài giảng (tâm tình) hôm nay bằng một câu đố:  Trong Kinh Thánh có bao nhiêu Ðiều Răn? (* để trã lời).
   

   

 – Câu trã lời có thể là 10 Ðiều Răn trong Cựu Ước, 2 Ðiều Răn trong Tân ước hoặc 12 Ðiều Răn trong tòan Kinh Thánh…  Tuy nhiên, “Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Ðức Chúa Trời ngươi. Aáy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra”.
Ðặc biệt trong Giăng 13: 34-35 “Chúa Giê-su phán:
“Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.”
 Chúa Giê-su ban cho môn đồ khi xưa và chúng ta ngày nay một Ðiều Răn Mới, có thể nói vui là Ðiều Răn Thứ Mười Một (nhưng vì Kinh Thánh không có đề cập), nên tôi thích dùng từ ngữ mà Chúa Giê-su đã dùng, đó là Ðiều Răn Mới. Ðiều Răn Mới chính là thực hiện tình yêu thương như Chúa phán “Các Con phải yêu thương nhau” (Giăng 13:34-35).
   

  

 
 Chủ đề Họp Bạn  hôm nay là:Những Ân tứ phục vụ Chúa trong Hội Thánh và ngòai Xã Hội. Ðây là một chủ đề lớn, quan trọng và thiết thực. Tuy nhiên, Hệ thống Thần Học cho biết Kinh Thánh đề cập khỏan 19 ân tứ khác nhau và 4 ân tứ đặc biệt. Tôi nhận biết không thể nào chia sẻ đầy đủ trong một thì giờ ngắn ngủi, quý báu này. Vì lẽ đó, sau khi cầu nguyện, tôi xin được đề cập đến ân tứ căn bản nhất, quan trọng nhất, để làm nền tảng thực hiện các ân tứ khác, đó là Tình Yêu thương. 
Sứ đồ Phao lô dạy rằng : “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng. Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.” (I Côrinhtô 13:1-3) 
    

  I. Ý NGHĨA CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG. (Mathiơ 22:34-40).
 Theo văn mạch của khúc kinh thánh này, chúng ta nhận thấy: Sau khi dạy về sự kính mến Ðức Chúa Trời là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết (22:38), thì Ðức Chúa Giêsu đã phán: “Ðiều răn thứ hai đây, cũng như vậy: ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình”(22:39) Bản Diễn ý chép: “Ðiều răn thứ nhì cũng giống như thế, phải yêu thương người đồng loại như chính bản thân.”
Từ ngữ “Yêu thương người lân cận” mà Chúa Giêsu đã sử dụng ở đây cũng giống từ ngữ  Chúa đã dùng trong câu “ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu  mến Chúa, là Ðức Chúa Trời ngươi” (22:37).
 Trong nguyên văn Hy lạp, từ ngữ này là “Agape”.
 Trong Hy văn có bốn từ ngữ “yêu thương”:
1) Stoge [stwge] chỉ về tình yêu trong gia đình, giữa cha mẹ và con cái.
2) Eros [erws] chỉ về luyến ái nam nữ, tình dục. Chữ này không có trong kinh thánh.
3) Philos [filws]chỉ về tình yêu nồng nàn, sự âu yếm hay nụ hôn .
4) Agape [agape] chỉ về tình yêu chân thành, đầy thiện chí, không có gì thắng nổi, ngăn cản được. Có hàm ý là tình yêu “mặc dầu”. Ðây chính là từ ngữ mà Ðức Chúa Giêsu đã dùng dạy dỗ chúng ta.
Khi Ðức Chúa Giêsu  dạy chúng ta “yêu mến Ðức Chúa Trời” bằng tình yêu Agape , có nghĩa là chúng ta yêu kính  Ðức Chúa Trời một cách chân thành, đầy thiện chí, không có gì lay chuyễn nổi. Vì thế, khi tôi yêu thương Chúa, mặc dầu có những điều về Ngài thật tình tôi chưa hiểu rõ, chưa tường tận về Ngài,  nhưng tôi vẫn cứ thương yêu Ngài bằng tất cả tấm lòng, linh hồn và trí óc của tôi.
    

 Tiếp theo, trong câu 22:39 Chúa Giêsu phán: “Ðiều răn thứ hai đây, cũng như vậy, ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình”. Bản Diễn ý: “Cũng giống như thế”. Như vậy, Chúa muốn dạy chúng ta phải yêu thương người lân cận bằng tất cả tấm lòng, linh hồn và trí óc, giống như yêu Chúa vậy. Yêu bằng tình yêu Agape, có nghĩa là bằng tình yêu chân thành, đầy thiện chí, không có gì ngăn cản được.  Cho nên, Vâng theo mạng lịnh Chúa, tôi cứ yêu thương mặc dầu người lân cận tôi có lúc không đáng yêu chút nào ( Ðôi khi sao thấy khó thương quá!) nhưng tôi vẫn cứ yêu thương, vì đó là điều răn là mạng lịnh của Chúa.    

II. ÐỐI TƯỢNG CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG?
Người lân cận tôi là ai?
Từ xưa, khi Ðức Chúa Giêxu giảng đạo, có một thầy dạy luật Do-thái đã nêu ra câu hỏi: Ai là người lân cận tôi? (Luca 10:25-37) Ðó là một câu hỏi đơn sơ nhưng không đơn giãn.
Câu hỏi này mang tính triết lý khi gợi lên trong thể nghi vấn, và mang lại nhiều quan điểm khác nhau trong lời giải đáp. Khi đặt vấn đề “tôi và người lân cận”  là chúng ta đề cập đến mối tương quan  đến cộng đồng và xã hội. Tôi là một chủ thể và tha nhân là một khách thể. Tha nhân là ai tuỳ thuộc vào nhân sinh quan của người đặt vấn đề, đặt câu hỏi; nhưng câu trả lời lúc nào cũng phát xuất từ nhận thức, tùy thuộc tấm lòng nhiệt thành hay hời hợt trong mối quan tâm của một người đối với người khác.  
     

 Chúng ta thường nghĩ rằng:
A/- “Người lân cận” là Người láng giềng của tôi, người lối xóm, người cùng chung cư, người cùng làng, người đồng hương với chúng ta. Nhưng đặc biệt, với cái nhìn sâu xa hơn, Mục sư  Tiến sĩ Lê Hoàng Phu, trong bản Kinh Thánh Diễn Ýù  đã dịch là “ yêu thương người đồng loại.”
Tại sao không dịch là “đồng bào”?  Theo thiển ý của chúng tôi, có lẽ thế giới quan của những dịch giả (MsTs Lê Hòang Phu) đã có, là từ bối cảnh xã hội đa văn hoá trong thời gian soạn dịch  Bản Kinh thánh Diễn ý là tại Hoa Kỳ, nên đã dùng từ ngữ này để bày tỏ mối quan tâm đối với đồng loại lân cận. Trong xã hội Hoa kỳ, cho dù đó là  người Mỹ da trắng hay da đen, hoặc người Mễ, người Châu Á hay châu Phi hiện diện trong Cộng Ðồng Ða Quốc gia, đa chủng tộc của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ, thì chúng ta vẫn thương yêu người đồng loại, vì là mạng lịnh của Chúa. Trong cộng đồng Dân tộc Việt nam, mặc dù có 54 Sắc tộc,  người Kinh miền xuôi hay người sắc tộc miền cao, cho dù trong xã hội có nhiều dân tộc khác như Người Trung hoa, người Khmer sống gần bên, thì chúng ta vẫn cứ yêu thương vì đây là mạng lịnh của Chúa: Hãy yêu thương người đồng loại như mình.
Chúng ta phải nhớ rằng, tình thương Chúa ban cho mọi người, cho mọi dân tộc (Giăng 3:16), nếu một ngày kia trên thiên đàng vinh hiển, mọi người từ các quốc gia, các chủng tộc được cứu sẽ sống chung với nhau đời đời (Khải 5:9-10; 21:24) thì tại sao hôm nay chúng ta đang chung sống trong một cộng đồng, một xã hội mà không yêu thương nhau!?
Thực tế cho thấy: “vì có những người không dễ thương nên thương không dễ”. Tuy nhiên, CÐN không được kỳ thị chủng tộc. Các bạn sẽ không thành công trong xã hội khi các bạn mang tinh thần phân biệt đối xử trong cộng đồng. Nguyện xin Chúa yêu thương giúp đở chúng ta thực thi mạng lịnh yêu thương đồng lọai lân cận như mình.
Nhưng bây giờ tôi xin được đề cập đến những đối tượng quan trọng nhất của chúng ta.
    

      

  

   

   

   

   

   

 B/- Người Lân Cận  gần gủi nhất, chính là Chồng , là Vợ và là Con Cái của chúng ta trong gia đình.
1. Tình Yêu Vợ Chồng:
 Bản Kinh Thánh Diễn Ý của Mục sư Tiến sĩ Lê Hoàng Phu dịch là Hãy yêu thương người lân cận như chính bản thân.
 Từ ngữ “như mình” hay “như chính bản thân” là từ ngữ Kinh thánh Tân ước đã dùng rất nhiều cho hôn nhân, cho bổn phận vợ chồng Cơ đốc. Chắc chúng ta còn nhớ lời dạy dỗ trong Lễ Hôn phối của mình? Mục sư thường nhắc nhở: “Chồng phải yêu vợ như chính thân mình”(Êphêsô 5:28,33). Chúng ta có còn nhớ đến lời hứa quan trọng đó không? Chúng ta có cẫn thận làm theo lời mình đã hứa trước Chúa và Hội thánh không?
 Trong thực tế cuộc sống, Tình chồng nghĩa vợ theo năm tháng dễ dàng bị phôi pha. Vì hoàn cảnh, vì cuộc sống thực tế chi phối nên chúng ta không còn yêu nhau như tình yêu ban đầu nữa. Như một nhà tâm lý đã diễn tả tình yêu và thời gian như sau:
Năm thứ nhất:  “Anh nói cho em nghe, em nói cho anh nghe.”
Năm thứ nhì: “Anh nói anh nghe, em nói em nghe.”
Năm thứ ba: “Cả hai ta cùng nói cho lối xóm nghe.”
 Người theo văn hóa tây phương, quan niệm “Lady first” nên một số phụ nữ xem thường chồng theo thứ tự ưu tiên : “Quý Bà, Con Chó, Quý Ông”. Dường như họ quên câu “Chồng đầu, vợ thân”, hay cũng nhớ mà sửa lại một chút: “Chồng là cái đầu, vợ là cái cổ. cho ne6n Cổ quẹo đâu thì đầu theo đó”.
Nhưng một số Quý Ông bảo thủ, theo văn hóa đông phương thì sống theo quan niệm: “Chồng Chúa, Vợ tôi”. Như một vài bạn trẻ hay nói: “Hồi chưa cưới, em là nữ hòang của đời anh. Cưới em rồi, em là nữ tỳ của đời anh!”
Những người này đã quên lời thề hứa trong hôn lễ. Chính vì vậy mà Chúa Giêsu đã nhắc nhở chúng ta “Hãy yêu thương người lân cận, là chồng, là vợ, như chính bản thân mình”.
Chúng ta sẽ không thành công trong đời sống, một khi ngọn lửa tình yêu vợ chồng đang tàn lụng. Khi mất tình yêu, gia đình chúng ta có nguy cơ tan rã. Hãy xét lại trong thời gian qua, bạn có ăn ở khắc nghiệt, đối xử bạc đãi với người phối ngẩu của mình không? Hãy ăn năn và sửa lại. Nếu tình yêu của bạn có phôi phai, hãy củng cố và xây dựng lại bằng Ðiều Răn của Chúa: “Yêu như chính bản thân mình” và “Hãy kính sợ Chúa Cứu Thế mà vâng phục nhau” (Eâphêsô 5:21).
    * Khalin Gibrand, một nhà văn Li Ban đã viết trong tác phẩm Uyên Ương Gãy Cánh: Theo truyền thọai của Người Ðông Phương kể rằng có Ðôi Chim, một con tên Uyên một con tên Ương, đặc biệt là mổi con đều gảy một cánh, tự nó không thể bay được. Và, đôi chim ấy tìm đến nhau, chấp cánh cho nhau để sống, để bay. Vì lẽ đó, nên con này chăm sóc cho con kia hơn bản thân nó. Vì nó ý thức rằng, nếu có mệnh hệ nào cho con chim kia, thì con còn lại đành xếp cánh, lạc lòai nơi bầu trời xanh thẳm. Người ta gọi Vợ Chồng là Ðôi Uyên Ương với ý nghĩa thâm thúy như vậy. Là Cơ đốc nhân chúng ta sẽ yêu thương người phối ngẩu của chúng ta hơn bản thân mình.
 
  

  2/-Tình Thương Con Cái:
 Ðối tượng lân cận thứ hai trong gia đình chúng ta chính là Con Cái. Trong thực tế, ai trong chúng ta cũng đã và đang yêu con cái của mình, vì vậy Có phải bằng thừa khi đề cập mạng lịnh của Chúa Hãy Yêu Người lân cận chúng ta là con cái?
Xin hỏi: Bạn yêu và đã làm gì cho con bạn? Nhu cầu của con bạn là gì?- Aên uống, học hành, chơi đùa và ngủ nghỉ. Rất đúng! Ðó là nhu cầu đời sống của Trẻ, nhưng nhu cầu tâm lý của trẻ là gì? Là sự chấp nhận, là bạn bè, là sự khen thưởng và sự giải tỏa nội tâm. Chúng ta ít nhiều cũng đã thực hiện những điều đó. Tuy nhiên, theo Sư phạm Cơ Ðốc Giáo dục thì nhu cầu lớn nhất của trẻ là cần Ðược Thương Yêu.
  

 Theo thống kê Tội Phạm Học, thì hầu hết Kẻ Sát Nhân mang án tử hình đều xuất thân từ những gia đình không có tình thương yêu. Cha mẹ hụt hặc, ly thân, hoặc ly dị. Ðó là những Ðứa Trẻ sống trong gia đình có cha mẹ say sưa, cờ bạc, nghiện ngập và hay đánh đập con cái vô cớ. Một số Trẻ bỏ nhà đi hoang vì nhìn thấy gia đình như Ðịa Ngục. Một khi trẻ đi hoang, sống trên hè phố thì chúng hay đánh nhau. Chúng Nó sống theo Luật Giang hồ, làm tay anh chị hoặc sống với phương châm “Ma cũ ăn hiếp ma mới”. Khi được hỏi tại sao đánh nhau? Chúng nó trã lời: “Tại thấy ghét thì đánh!”. Nhưng trên phương diện tâm lý học, thì hiện tượng này được các nhà tâm lý xã hội cho rằng: Khi Trẻ đánh nhau (lớn đánh nhỏ, mạnh đánh yếu) là để trả mối thù năm xưa do cha mẹ đánh nó vô cớ. Nó giải tỏa ức chế tâm lý tuổi thơ. Khi nó trả thù thì nó làm hơn cha mẹ nó nữa, ấy là sau khi đánh máu me thương tích xong, thì nó an ủi, chăm sóc, nhận làm đàn em rồi bảo bọc. . . bởi vì ngày xưa nó từng bị oan ức hay đau đớn mà không ai an ủi bảo vệ nó.
 

Sự tác động của gia đình trong tuổi thơ của một đời người thật quan trọng, mối liên hệ bằng tình thương của cha mẹ trên con cái rất quan trọng, nên Chúa dạy chúng ta phải yêu thương con cái , là người lân cận như chính bản thân mình.
Thương yêu con cái là quý trọng nó như Cơ Nghiệp Chúa ban cho chúng ta. “Kìa con cái là cơ nghiệp bởi ÐGHV mà ra”. “ Con trai. . . như mủi tên nơi tay dõng sĩ. Phước cho người nào dắt nó đầy gùi mình” (Thi 127:3, 4, 5) (Có lẽ vừa đủ thôi chớ nhiều thì nặng lắm!!!
  
*Trong giờ giải lao của công ty. Một công nhân than thở cùng giám đốc 
– Ông biết không? Tôi thật chật vật, khó khăn lo cho bốn đứa con. Hai đứa đi học, ôi tốn kém quá chừng! Hai đứa còn nhỏ, ở nhà quậy phá kinh khủng. Quần áo mới mua thì đã cũ, chúng nó đùa giỡn, chà lếch  làm sờn rách tùm lum. . . Tôi khổ tâm quá!
Vừa nghe xong, mặt giám đốc buồn thiu. Ông nói:
-Anh ơi! Đáng lý ra anh phải vui mừng mới đúng. Tôi ước gì con tôi vui đùa nghịch ngợm như con anh vậy. Tôi mua nhiều quần áo thật đẹp cho nó, mong nó chà lếch cho cũ để mua cái khác, và tôi cũng mong nó đi học như chúng bạn. . . nhưng nó nào có được những điều đó đâu!
-!?
-Con của tôi bị sốt tê liệt đã ba năm rồi. 

   

 Thật vậy, chúng ta phải nhận thức rằng con cái chính là niềm vui, là tương lai và niềm hảnh diện của gia đình chúng ta. Ðầu tư vào con cái là phương án hữu hiệu nhất cho tương lai của gia đình. Ðào tạo nhân tài cho Hội Thánh và Xã hội ngày mai.
Quảng Trọng, một nhà chính trị Trung quốc thời xưa đã nói: “Vì lợi ích một năm – Trồng lúa. Vì lợi ích mười năm – Trồng Cây. Vì lợi ích trăm năm – Trồng Người.” Trồng người là “Thụ Nhân”, chính là phải giáo dục cho con em chúng ta có được một nhân cách tốt, một đức tin vững vàng trong đời sống, như lời Chúa dạy: “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, Dầu khi nó trở về gia cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm 22:6).
  
  

C/- YÊU THƯƠNG ANH CHỊ EM TRONG HỘI THÁNH.
Ðối tượng cuối mà Chúa muốn chúng ta yêu thương, chính là anh chị em trong Hội thánh của chúng ta. Ðây là điều hiển nhiên, nhưng chúng ta nên bình tâm suy nghĩ một chút. Thực tế trong Hội thánh, chúng ta thường yêu thương những người yêu thương hay kính trọng chúng ta. Chúng ta gần gủi thương yêu theo nhóm tương đồng trong nghề nghiệp, trình độ hoặc địa vị xã hội, có khi lại là phẩm trật trong Hội thánh nữa. Nói chung, chúng ta thương những người thương mình, kính mình, ủng hộ mình, hợp “gu” với mình, hợp nhãn mình, cùng băng tần với mình. Tuy nhiên, mạng lịnh của Chúa ở đây là Chúa muốn chúng ta yêu nhau bằng tình yêu Agape, có nghĩa là có khi anh chị em chúng ta không đáng thương chút nào, “không dễ thương nên thương không dễ!” thì chúng ta vẫn cứ thương như Chúa đã yêu thương chúng ta. 
 
  

  


* Khi phục vụ Chúa tại Việt nam, tôi phụ trách Thanh Thiếu Nhi trong Tổng Liên Hội – HT TLVN.MN. Tôi có gặp một nữ  sinh viên nhà giàu từ tỉnh lên thành phố Sàigòn học đại học. Cô ăn mặc rất đẹp, quý phái và sang trọng. Nhưng, sau một thời gian, tôi gặp lại thiếu nữ này, trông rất khác lạ. Cô vẫn đẹp nhưng ăn mặc giản dị hơn xưa. Vòng vàng, dây chuyền, lắc xích… không còn thấy đeo nữa. Tôi hỏi, cô ấy cười, và các bạn cô nói: Nó yêu rồi Ông mục sư ơi!  Thì ra, cô đã yêu một anh sinh viên từ miền Trung vào Sàigòn học. Anh ấy nghèo (Không phải anh này lấy hết nữ trang của cổ đâu nha!). Khi yêu, cô sinh viên tự nguyện cất đi trang sức vàng bạc giàu có, để san bằng mọi ngăn cách giữa hai người.
    

 Tình yêu thương thật trong Hội thánh sẽ san bằng mọi chênh lệch, xóa tan mọi phân biệt, để thực hiện mạng lịnh của Chúa là yêu thương lẫn nhau.    

 A/- Thực hiện tình yêu thương trong Hội thánh là chia sẻ gánh nặng cho nhau.
Như Hội thánh Ðầu tiên chăm sóc Tín Hữu già yếu, cô đơn, người góa bụa, trẻ mồ côi. Chăm sóc tinh thần và chu cấp vật chất cho họ nữa (Công vụ 6:1-7).
Sứ đồ Giăng dạy dỗ mạnh mẽ rằng: “Hỡi các con bé mọn, chúng ta đừng yêu thương chỉ bằng lời nói và nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng hãy yêu thương bằng hành động và chân thật” (I Giăng 3:18). Ông nói thêm: “Ví có ai nói rằng: Ta yêu Ðức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh chị em mình thấy, thì không thể yêu Ðức Chúa Trời mình chẳng thấy được” (I Giăng 4:20).
Phao lô dạy Hội Thánh Galati “Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau” (Gal 6:2). Và Ông dạy Hội Thánh Philíp chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng chăm về lợi kẻ khác” (2:1-4).
 
   

B/-Thực hiện Tình Yêu Thương Người Lân Cận trong Hội Thánh là Yêu Thương Người Lãnh Ðạo mình.
 I Têsalônica 5:12-13, dạy chúng ta 3 điều: (1)Xin anh em kính trọng kẻ có công khó trong vòng anh em, là kẻ tuân theo Chúa mà chỉ dẫn và dạy bảo anh em. (2)Hãy lấy lòng yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm. (3)Hãy ở cho hòa thuận với nhau.
 
   

 1/-Tín hữu tôn trọng người lảnh đạo vì đó là một chức vụ thuộc linh, do Chúa kêu gọi và lựa chọn (Giăng 15:16).
2)Chúng ta lấy lòng yêu thương cư xữ với người lãnh đạo, bởi vì, Các Tôi tớ Chúa cũng chỉ là một con người có cảm xúc vui, buồn như chúng ta, hơn nữa, mục vụ của Hội thánh và sự cứu vớt linh hồn tội nhân là một gánh nặng của người phục vụ Chúa hết lòng.
 
  

  * Chuyện xãy ra trong một nông trại. Người chủ nhờ một thanh niên khoẻ mạnh chất lại một đống cây to cho ngay ngắn. Anh ta làm rất hăng hái, vừa làm vừa hát. Sau đó, người chủ nhờ anh này sắp lại đống gạch lớn dùng xây cất nhà kho mới, anh ta vừa làm vừa huýt sáo. Buổi trưa, người chủ nói: “Trời nắng quá, ta cho con làm trong mát”, rồi ông dẫn thanh niên này vào nhà kho, chỉ vào đống khoai tây, và nói “Nhờ con lựa dùm ta đống khoai này ra ba loại: Lớn, vừa và nhỏ, việc rất nhẹ nhàng và ở trong nơi mát.” Nói rồi, người chủ đi. Khoảng chừng một giờ đồng hồ sau, người chủ trở lại. Oâng thấy chàng thanh niên mặt mày bơ phờ, mồ hôi tươm ra như tắm, dáng vẻ mệt mõi lắm! Oâng chủ hỏi: “Việc gì xãy ra cho con? Tại sao con mệt dữ vậy?”- “Dạ! Tại con phải suy nghĩ và quyết định liên tục! Cầm lên mổi củ khoai con phải nhận xét nó lớn, vừa hay nhỏ; rồi quyết định để riêng ra đống lớn, vừa, hay nhỏ. Con không được làm sai. . . ôi! Mệt quá! Oâng chủ cho con làm cái gì cũng được mà đừng bắt con phải suy nghĩ và quyết định liên tục”. Câu chuyện này nói lên sự khác biệt của “lao động chân tay” và “lao động trí óc”.
   

Có người nói: “Làm Mục sư sướng quá! Mổi Chúa nhật giảng một bài. Mổi tháng giảng bốn bài. . . rồi lảnh lương!” Người nói như thế là không cảm thông người phục vụ Chúa. Ða phần người lãnh đạo Hội thánh phải làm việc bằng trí óc như  là soạn bài và giảng dạy, chứng đạo, tiếp xúc, thăm viếng, an ủi khuyên lơn. . .phải suy nghĩ  để hiểu và đáp ứng đúng nhu cầu tín hữu hoặc thân hữu, phải đưa ra những lời khuyên chính xác, đồng thời phải đối phó nan đề trong Hội thánh và giải quyết những rắc rối “nội bộ”. Thật là một công việc vất vã, nặng nhọc! Vì thế, chúng ta nên yêu thương và cảm thông gánh nặng trách nhiệm của người lãnh đạo.
 
 
  

3) Phao-lô dạy chúng ta nên tôn trọng, yêu thương và hoà thuận với người lảnh đạo. Là con người ai ai cũng “bất toàn”. Mục sư cũng là con người như chúng ta. Hơn nữa,  đôi khi vì sự khuyên nhủ, bẻ trách và sữa trị, đụng đến nhược điểm, khiến cho một vài người không vui, thay vì phải vâng phục Lời Chúa và hiểu đó là vì trách nhiệm giảng dạy của Mục sư, thì họ làm ngược lại (II Ti-mô-thê 4:2). Có vài người thay vì nhờ ơn Chúa sữa chữa lỗi lầm để tốt hơn, được phước hơn, thì lại sanh lòng bất mãn, chống đối. 
Lòng tôn trọng và sống hoà thuận của chúng ta được tỏ ra như : từ chối chỉ trích, không nói xấu, không bêu khuyết điểm người lãnh đạo; trái lại, hãy nâng đở họ bằng cách giúp cho người khác thấy ưu điểm và tâm chí của họ, để cùng hiệp tác phục vụ Chúa.
 Khi chúng ta tôn trọng, yêu thương và hoà thuận với người lãnh đạo, đó chính là bí quyết làm cho Hội thánh vững mạnh. 
 

   

 Trong trận chiến A-ma-lét xưa kia, dân Y-sơ-ra-ên thua vì tay Môi-se mỏi, xụi xuống. Nhờ sự nâng đở của A-rôn và Hu-rơ, tay Môi-se đưa cao lên, và Dân Y-sơ-ra-ên được toàn thắng (Xuất 17:8-16). Chúng ta hãy làm như vậy với mục sư của mình. Nên nhớ, hãy yêu thương bằng tình yêu agape, tình yêu thương mặc dầu.   

  

 Kính thưa Hội thánh.
Tôi xin kết thúc bài giảng hôm nay bằng một câu đố: “Trong muôn lòai vật, con gì hung dữ nhất?” (Hung dử, chớ không phải hun – hôn- nhiều nhất, dữ dội nhất, như cuộc thi Kỷ Lục Guiness có 2 anh chị kia đã đọat giải vì đã hôn nhau gần hai ngày!?! Khỏang 38 tiếng đồng hồ. Hun dữ thiệt!). Xin anh chị em trã lời.
 Ðúng rồi! CON NGƯỜI. Chỉ con người là giết đồng lọai nhiều nhất. Chúng ta nhìn biết qua những cuộc chiến tranh, người ta giết nhau hàng lọat, càng nhiều càng tốt. Tại sao? Vì con người biết suy nghĩ và biết yêu thương nhau. Nhưng khi không có, không còn tình yêu thương nữa thì con người giết nhau bằng đủ cách. Từ man rợ đến tinh vi.
Chúng ta tôn thờ Chúa Yêu Thương và Ngài muốn chúng ta thể hiện tình yêu thương đó cho mọi người, Ngài ban cho chúng ta Ðiều Răn Mới và mong ước chúng ta thực hiện ngay hôm nay. Chân lý ấy thật quan trọng, vì Chúa phán: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta”. Tình yêu thương là dấu hiệu để người khác nhận biết Người Thánh, Gia đình Thánh và Hội rất Thánh của Chúa.
 
 
   

 * Có một con khỉ bị trúng tên, vết thương nhỏ thôi nhưng chảy máu. Nó đau đớn kêu chí chóe. Mấy con khỉ khác thấy tội đến rờ vào vết thương. Rồi lần lượt các con khác trong bầy cũng bắt chước rờ vào, khều vào, móc vào vết thương. . . Chỉ thóang một phút sau, vết thương lở lóet “tầy hoầy”. Con khỉ bị “thương nhẹ”, nhưng chết vì bị “thương nặng!”  

  Tình yêu thương của anh chị em trong Hội thánh có thể hiện cách nhẹ nhàng không? Chúng ta đã xoa dịu vết thương lòng hay là làm thêm đau đớn? Chúng ta có chia sẻ gánh nặng anh em trong hòan cảnh khốn khó không? Chúng ta đã nâng đở chức vụ Ðầy tớ Chúa hay chẳng cảm thông và thêm lời chỉ trích, bêu xấu người lãnh đạo mình?
  Tình yêu thương trong gia đình chúng ta hiện nay ra sao? Chúng ta có chung thũy hay đang sống cay nghiệt, quên mất lời hứa xưa, mà làm đau lòng người phối ngẫu của mình? Trong sự hiện diện của Chúa, tôi nhân danh Chúa kêu gọi mọi người hãy ăn năn ngay giờ này.
    

  Chúng ta có yêu thương và yêu thương đủ đối với con cái mình không? Chúng ta đã hy sinh, thức khuya dậy sớm, tảo tần lo cho con, nhưng nhu cầu của con cái không chỉ là vật chất, tiền bạc thực phẫm; mà chính là tình yêu thương mà chúng ta phải thể hiện hàng ngày cho chúng, nuôi chúng không phải bằng tiền, bằng vật chất mà bằng tình thương của chúng ta. Phải chăng con cái trở nên ngang ngược, bất phục tùng và làm cho chúng ta đau đớn? Ðã có những xung đột giữa cha con, mẹ con trong gia đình. Va,ø chúng ta đã dại dột tăng thêm kỷ luật và quản lý cay nghiệt với con mình? Mối liên hệ dường như đã gãy đổ, chúng ta đã rơi vào tuyệt vọng, cô đơn.
  

 Chúa phán với HT Eâphêsô ngày xưa rằng: “Nhưng, điều ta trách con, vì con đã mất tình yêu thương ban đầu. Vậy, hãy nhớ lại con đã vấp ngã từ đâu, hãy ăn năn và làm lại công việc ban đầu.” (Khải 2:4-5). Lời đó cũng chính là sứ điệp Chúa đang phán với anh chị em ngay hôm nay?
Hãy đến với Chúa Yêu Thương ngay giờ này. Tình yêu của Ngài sẽ rịt lành vết thương lòng anh chị em, hàn gắn lại những đỗ vỡ trong gia đình và Hội Thánh chúng ta. Amen.
  

Xin chúng ta biệt riêng thì giờ cầu nguyện.   

Mục sư Nguyễn Văn Ðại.      

       

       

      

      

      

      

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 12/08/2010

CHỈ LÀ MỘT LỜI KHUYÊN

 
 

   

 

 

 

 

 

MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG  

Trong bất cứ huyền thoại nào cũng có những mảnh vụn của sự thật       

 

CHỈ LÀ MỘT LỜI KHUYÊN

 

Sau hơn mười năm xa cách, tôi gặp lại Thầy Ngọc một cách bất ngờ như trong mơ. Thầy đến Hoa Kỳ thăm hai đứa con đang du học. Không hiểu bằng cách nào mà thầy đã kiếm được số điện thoại của tôi và gọi đến thăm. Mừng quá! nên tôi mời Thầy ăn tối để “hàn huyên tâm sự” sau bao ngày xa cách. . . Trên đường lái xe đến điểm hẹn, biết bao kỷ niệm đã ồ ạt kéo về trong tâm trí tôi. . .   

Nhớ biết bao nhiêu là nhớ về những ngày đầy khó khăn của Quê Hương thời hậu chiến. Nhớ da diết, xót xa làm sao những gian truân của gia đình sĩ quan trong một hoàn cảnh mới. Thương Ba tôi từng ngày lao khổ trong trại, thương mẹ tôi suy sụp, niềm đau đớn tác động nên bệnh tật triền miên, thương biết bao khi các em tôi ngẫn ngơ vì còn nhỏ dại! Tôi làm con trưởng nên phải gánh vác trách nhiệm hết sức nặng nề! Tôi đã hầu như đuối sức và đôi lần tưởng chừng như đã phải ngã quỵ trước gánh nặng của gia đình tôi. Tuyệt vọng hơn! Cho dù tôi có khả năng và bằng cấp kế toán, nhưng tôi không thể xin được việc làm trong các cơ quan, với lý do đơn giãn là “lý lịch” của mình! 

  Như một phép mầu kỳ diệu, Ơn Trên dẫn dắt cho tôi gặp Thầy Ngọc. Thầy trọng dụng tôi vào làm trong Ban Lãnh đạo công ty. Rồi hai đứa em gái tôi cũng được tuyển làm nhân viên. Thế là từ dạo đó gia đình tôi tương đối ổn định. . . chờ ngày ba tôi trở về sum họp gia đình. 

  Tạ Ơn Trên đã cho ba tôi trỡ về nguyên vẹn trong khi biết bao người bị mất mát quá nhiều. Tuy nhiên, hoàn cảnh mới không phù hợp nên gia đình chúng tôi đã phải ra đi. Tôi chia tay Thầy Ngọc từ dạo ấy. Thỉnh thoảng gặp vài người bạn cũ thăm hỏi thì nghe đâu Thầy Ngọc đã bị tù đày. . . 

  

Đèn giao lộ từ đỏ đã sang màu xanh. Tiếng còi xe phía sau vang lên phàn nàn . . . tôi giật mình trỡ về với hiện tại. Tôi cho xe rẽ vào bãi đậu của Nhà hàng. May quá! Thầy Ngọc và Ba Mẹ tôi cũng vừa đến. Chiều nay, tôi cũng có mời Ba Mẹ tôi cùng dùng bữa như muốn nói lên lời cảm ơn Thầy trong những lúc đã cưu mang giúp đỡ chúng tôi. 

  Bữa cơm diễn ra trong thân mật. Chúng tôi cười vui như pháo Tết khi nhắc lại chuyện xưa. Mắt Mẹ tôi mấy lần ngấn lệ. Những giọt nước mắt của người già tinh khiết biết bao, vì nó là tinh túy là sự chắc lọc từ những gian khổ tích lũy của cuộc đời. Chúng tôi vui và thật cảm động khi được gặp lại nhau. 

  Bữa tiệc kết thúc, khi nhân viên nhà hàng mang tờ hóa đơn tính tiền ra, thì bất ngờ Ba tôi lại dành trã. Ngạc nhiên quá! Tôi nói: 

-Ba ơi! Hôm nay con mời Thầy và Ba Mẹ mà! Xin Ba để con trã! 

  Nhưng với một giọng rất cứng của Người sĩ quan, Ba tôi nghiêm nghị nói rằng: 

-Nhưng hôm nay Ba phải trã mới được! Có một điều mà các con chưa bao giờ được biết về ơn nghĩa của Thầy Ngọc đối với Ba. Ba không chỉ cám ơn Thầy đã giúp đỡ các con và gia đình mình trong lúc khó khăn mà thôi, mà còn một câu chuyện thầm kín cho riêng ba nữa!  

Rồi giọng Ba chùng xuống, với đôi mắt hướng về cõi xa xăm . . . ba nói: 

-Trong tâm trạng hụt hẫn sau ngày ra khỏi trại, sự ghẻ lạnh của những người chung quanh và sự bạc đãi của xã hội đối với một người như tôi, lúc đó tôi vô cùng khổ tâm. Nhưng Thầy đã mời tôi một bữa cơm với tấm lòng trân trọng.Tôi cảm kích lắm! Nhưng chưa phải là điều tôi muốn nói. Thầy có nhớ câu chuyện Con Chim Ưng của Giáo sư Anger không? Thầy kể chuyện có duyên lắm! Tôi nhớ hoài câu chuyện ấy và nhớ câu kết luận của Thầy “Chúng ta là chim ưng, chớ không phải là gà! Cuộc sống chúng ta là không gian rộng lớn trên trời cao, chứ không phải cứ chui rút, bươi lượm những rác rưỡi trong đời!” Câu nói đó, thật ra lời dạy đó, đã giúp tôi một cái nhìn mới, một cách sống mạnh mẽ để vươn lên trong từ trong sự suy sụp tinh thần và hụt hẫn của cuộc sống lúc ấy. . .  Nhờ đó, chúng tôi có được ngày nay. Tôi xin thay mặt gia đình chân thành cảm ơn Thầy rất nhiều . . . 

  

Có những thầm kín trong đời ít khi được nói ra. Nhưng giá trị những điều ấy còn lớn hơn châu báu, cho dù đôi khi chỉ là một lời khuyên, nhưng lời ấy đã thay đổi được quan niệm sống của một con người.

Đăng bởi: nguoichanbay | 12/08/2010

ĂN SÁNG VỚI CHÚA

 

  

  

 

 MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG  

 Trong bất cứ huyền thoại nào cũng có những mảnh vụn của sự thật     

ĂN SÁNG VỚI CHÚA

Trong tuổi thơ, tôi đã có nhiều ước mơ, đôi khi những mơ ước nầy dù nhỏ nhoi nhưng không thể thực hiện được. Đơn giãn như tôi thèm khát mua một món đồ dùng mà không được, hay muốn một chiếc bánh mà tôi không có đủ tiền mua. Có một lần, tôi muốn mua một hộp bánh trung thu mang về cho ba má tôi, nhưng không đủ tiền. Tôi đếm đi đếm lại số tiền mình có, cuối cùng chỉ mua được hai cái bánh trung thu thôi, thế mà tôi vui vô cùng. Chỉ có ngần ấy cũng  đủ khiến lòng tôi vui cả ngày hôm ấy vì đã thực hiện được đều lòng mình ước ao cho cha mẹ.

Sau nầy, được sự dạy dỗ của Lời Chúa (Ga-la-ti 6:10), tôi học tập quan tâm đến những nhu cầu của những người thân, tìm hiểu những ao ước của người xung quanh, để rồi có thể thực hiện những ước mơ ấy trong khả năng nhỏ bé của mình.

Sáng nay, hai vợ chồng tôi cùng đi ăn sáng. Chúng tôi bước vào Cửa hàng Wendy bán thức ăn tự chọn. Cửa hàng nầy rất quen thuộc vì gần nơi chúng tôi sinh sống. Những nhân viên ở đây thật dễ thương. Nhà tôi xếp hàng mua thức ăn, còn tôi thì chọn bàn để ngồi và đi lấy muổng nĩa, khăn giấy chuẩn bị cho bửa ăn. Bất chợt, tôi để ý thấy một người đàn ông Mỹ ăn mặc đơn giãn đứng bên cánh cửa ra vào, tóc râu để dài không chải chuốt. Ông ta gượng cười một mình nhưng thấp thoáng một nỗi buồn tiềm ẫn trên gương mặt, trong khi những ngón của bàn tay phải thì nhúc nhích liên tục, những âm thanh phát ra từ bàn tay nhúc nhích cho tôi biết đó là tiếng ma sát của những đồng xu. Không biết ông ấy đã đứng đó bao lâu, nhưng rõ ràng là ông ấy không tiến đến nơi chờ đợi để xếp hàng mua thức ăn.

Có một động lực nào đó thúc đẩy trong lòng tôi. Tôi gật đầu chào và tiến đến bên người đàn ông ấy:

– Chào ông! Ông ăn điểm tâm chứ?

-Vâng! Nhưng. . . tôi không có đủ tiền. Ông ấy chào tôi và chân thành trã lời.

-Ông đừng lo! Tôi xin mời ông ăn sáng hôm nay.

Tôi vừa nói vừa bắt tay ông ấy, và mời ông ấy ngồi vào một chiếc bàn gần bên cánh cửa. Rồi tôi bước tới nhờ Nhà tôi mua thêm một phần ăn nữa. Sau đó, chúng tôi cùng ăn và chuyện trò với nhau thật vui vẽ.  Khi chúng tôi chia tay nhau, ông ấy nói:

 -Cám ơn Chúa, vì Ngài đã dùng anh đãi tôi hôm nay.

-Cám ơn Chúa, vì Ngài đã cảm động tôi làm điều đó cho anh. Tôi nói thật khẻ và cảm nhận một niềm vui rạt rào trong tâm hồn mình.

Khi tôi bước ra cửa, mọi người nhìn chúng tôi trong ánh mắt đầy thiện cảm. Ông bà cụ ngồi gần bàn chúng tôi mĩm cười và ông cụ khen ngợi tôi bằng cách đưa nắm tay ra với ngón cái bên trên. Còn người thanh niên ngồi bàn đối diện thì nói: Hi! Good  job,  man!

Tuy nhiên, điều tôi vui nhất chính là lời khích lệ của Nhà tôi:

-Cảm ơn Chúa đã ban cho mình có điều kiện để chia sẻ cho người khác.

Rồi bằng một nụ cười thật tươi và giọng nói dí dỡm, nhà tôi nói tiếp:

 

-Hôm nay vợ chồng mình ăn sáng với Chúa thật vui!  Em nghĩ: Anh đã đãi Chúa một bửa ăn sáng đó anh! Vì Chúa Giê-su phán: Hễ ai làm điều đó cho một người trong anhchị em ta, ấy là làm cho chính ta vậy (Math 25:40)./ 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 14/07/2010

Gío Và Mây Ðen

 

NGỤ NGÔN HIỆN ĐẠI

______________________________________

 

Chiều tắt nắng. Chị Gió nhanh chân bỏ chạy, theo sau là anh Mây Ðen, mặt hầm hầm gọi với theo:
– Ê, ê! Cùng họ nhà Vũ với nhau, sao mà gặp nhau lại chạy dữ vậy?
– Thì anh nhìn lại anh xem!? Chị Gió nhẹ nhàng trã lời bằng cách hỏi lại.
– Tôi à! Tại tính tôi làm gì cũng rầm rộ, hoạt động như vũ bão, xuất hiện ở đâu thì sấm sét vang rền đến đó. Oai phong lẫn liệt chưa? Tôi khác xa cái tính nhẹ nhàng ẻo lả của chị.
– Quả chẳng sai, nhưng còn thiếu một điều. Mỗi khi anh xuất hiện thì che khuất cả ánh vinh quang của Bác Mặt Trời, làm tối tăm cả vùng trời, nên thấy anh, ai mà không chạy mau chứ?!?

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 29/04/2010

ƯỚC MƠ CỦA MẸ

BÀI GIẢNG

LỄ MẪU THÂN

  

  

 

 

 

Kinh Thánh: I Sa-mu-ên 1:1-28; 2:18-21.

Câu Nền Tảng: I Sa-mu-ên 1:27-28.
“Aáy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Ðức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài.  28 Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Ðức Giê-hô-va; tôi cho Ðức Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Ðoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Ðức Giê-hô-va.”

 

Lễ Mẫu Thân là mợt ngày lễ đặc biệt để vinh danh những Người Mẹ. Chúng ta suy ngẫm về đời sớng, gương hy sinh và tấm lòng của những Bà Mẹ gương mẫu. Cao quý hơn hết, trong dịp nầy chúng ta nhớ đến cơng ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ của mỡi chúng ta.

Văn Hóa Việt Nam từ ngàn xưa đã dạy:
“Thân thể phát phu thọ ư Phụ Mẫu,
bất cảm hủy thương. Hiếu ư thủy giả. ”  tạm dịch là

“Đầu tóc vóc da do nơi cha mẹ mà có,
khơng được để bị thương tích. Đó là đầu chữ hiếu.”

Cho nên Người Việt Nam luơn cẩn thận giữ thân, cũng có nghĩa là giữ lòng hiếu thảo đới với bậc sinh thành. Ca dao có câu:

“Cơng Cha như núi Thái sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguờn chảy ra.
Mợt lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Đặc biệt, Văn hóa Việt nam ca ngợi về Tình Mẹ rất nhiều, như những câu ca dao sau đây:

“Mẹ già như chuới Ba Hương,
như xơi nếp mợt, như đường mía lao”.

Đơn cữ trong Ca dao Việt Nam so sánh mợt cách ví von về thân phận và sự hy sinh của Người Phụ Nữ giớng như thân Cò gian nan cực khở:

“Cái cị lặn lội bờ sơng (2)
Nàng về nuơi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non cùng người
Cho kịp chân ngựa chân voi
Cho kịp mọi người kẻo trễ việc quan” 

Còn trong Âm nhạc Việt Nam thì đã có khơng biết bao nhiêu bài hát ca ngợi về Mẹ. Đơn cữ nhạc phẩm “Lòng Mẹ” của Nhạc sĩ Y Vân đã đi vào lòng người qua bao năm tháng. Ngày nay, cứ mỡi lần bài hát này vang lên cũng làm cho chúng ta ít nhiều xúc đợng, nhất là những cuợc đời khơng còn mẹ trong cỏi đời nầy.
Ca khúc Lịng mẹ của Y Vân đã trở thành bất hủ vì cĩ sức lan tỏa từ thành thị cho đến thơn quê. Giai điệu thật nhẹ nhàng, dễ hát. Ca từ giản dị nhưng giàu hình ảnh, truyền cảm… Nhiều bà mẹ đã ngân nga bài hát này để vừa ru con ngủ, vừa thể hiện tình cảm dạt dào của mình đối với đứa con yêu.
. . .
Lịng Mẹ thương con như vầng trăng trịn mùa thu.
Tình Mẹ yêu mến như làn giĩ đùa mặt hồ.
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ.
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ.

Thương con thao thức bao đêm trường,
Con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng biết bao.
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuơi con tới ngày lớn khơn.

Dù cho mưa giĩ khơng quản thân gầy mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền.
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm.
Tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên.

II.

Thương con, mẹ hát câu êm đềm,
Run lịng thơ ấu quản gì khi thức trắng đêm.
Bao năm nước mắt như suối nguồn.
Chảy vào tim con mái tĩc chĩt đành đẫm sương.

Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa giĩ tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lịng thương chẳng lạt màu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bĩng mẹ yêu.
Nhà Văn Hà Đình Nguyên đã viết về bới cảnh của tác phẩm Lòng Mẹ thật cảm đợng, như sau:

Vào cuối thập niên 1950, có mợt nhạc cơng chơi đại hồ cầm cho Ban nhạc trong các nhà hàng ở Sài Gịn để kiếm tiền nuơi mẹ và 2 em. Người ấy là nhạc sĩ Y Vân.  Mỗi đêm khi anh đi đàn thì mẹ anh ở nhà mang thau quần áo của anh ra giặt ở máy nước cơng cộng. Cĩ một đêm, bà cụ giặt đến 2 giờ sáng thì bị cảnh sát bắt vì vi phạm lệnh giới nghiêm. Sáng ra, khi biết chuyện, Y Vân đã vừa khĩc vừa viết bài “Lịng mẹ”:
“…Thương con thao thức bao đêm dài, con đà yên giấc mẹ hiền vui sướng biết bao. Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo, mái tĩc trĩt đành đẫm sương…”.
Viết xong, anh hát cho mẹ nghe. Lần này thì cả hai mẹ con đều khĩc…
Nhạc sĩ Y Vân mất ngày 28.11.1992 trong khi bà mẹ vẫn tại thế. Bà Minh Lâm (vợ nhạc sĩ Y Vân) kể: “Đứng trước quan tài, mẹ chồng tơi đã khơng hề khĩc một tiếng. Cĩ lẽ tất cả nước mắt để khĩc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tơi nghe cụ nĩi: Người đời thường bảo: con “đi” trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm trịn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài Lịng mẹ…”.
Là Người Việt nam, chúng ta thật cảm đợng và biết ơn tiền nhân trong Kho Tàng Văn Chương Việt Nam đã vinh danh biết bao Người Mẹ. Là mợt Tín Nhân, chúng ta được dạy dỡ càng phải thực hiện sự hiếu kính cha mẹ theo mạng lịnh của Chúa, vì sự hiếu kính cha mẹ là mợt bởn phận đứng đầu trong mới quan hệ giữa con người với con người; mạng lịnh đó có kèm theo mợt lời hứa ban thưởng sự trường thọ “Hãy hiếu kính cha mẹ con, hầu cho con được sớng lâu trên đất mà Đức Chúa Trời con ban cho” (Xuất 20:12).

Thánh Kinh – Kim Chỉ Nam linh hướng cho những Gia đình Cơ-đớc đạt được hạnh phúc, đã có đề cập rất nhiều về Tình Mẫu Tử. Hơm nay, chúng ta cùng suy ngẫm về đời sớng và tấm lòng của mợt Người Mẹ. Bà có tên là An-ne – Mẹ của Tiên tri Sa-mu-ên trong thời Cựu Ước. Với chủ đề là “Ước Mơ của Mẹ”.

I.ĐỨA CON LÀ ƯỚC MƠ CỦA MẸ. (I Sa-mu-ên 1:10-12a)

Con cái là bơng trái hạnh phúc của hơn nhân. Đứa Con là niềm vui cho vợ chờng. Đứa con cũng là sợi dây vơ hình thiêng liêng ràng buợc tình nghĩa vợ chờng càng keo sơn hơn trong cuợc sớng. Vì thế, khi lập gia đình thì con cái chính là niềm ước mơ của Người Vợ. Khi có con cái, người phụ nữ sẽ rất tự hào và hãnh diện về chức năng làm mẹ của mình.

Mợt khi, vì hoàn cảnh hay bệnh tật mà người vợ bị son sẻ, khơng thể sinh con, thì đó là mợt nỡi đau khở cho người phụ nữ. Bà An-ne là mợt người phụ nữ gặp hoàn cảnh như vậy (I Sam 1:2).

Tuy nhiên, trong nỡi niềm đau khở ấy, Bà An-ne đã nhờ cậy Chúa. Bà đã đi đến đền thờ mà cầu nguyện. Kinh thánh chép: “An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Ðức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn giọt lệ” (I Sam 1:10).

Với đức tin mạnh mẽ, Bà An-ne tin rằng Chúa sẽ nhậm lời, nên: “Nàng hứa nguyện rằng: Oâi, Ðức Giê-hô-va của vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của con đòi Ngài, nhớ lại nó chẳng quên, và ban cho con đòi Ngài một đứa trai, thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Ðức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó.”(I Sam 1:11).

Đức Chúa Trời luơn nhậm lời những người mẹ tớt. Bà An-ne được Chúa ban cho điều nàng ước mơ là mợt người con trai “Qua ngày sau vợ chồng dậy sớm, thờ lạy trước mặt Ðức Giê-hô-va, đoạn trở về nhà mình tại Ra-ma. Eân-ca-na ăn ở cùng An-ne, là vợ mình; Ðức Giê-hô-va bèn nhớ đến nàng.  20 Ðang trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Ðức Giê-hô-va” (I Sam 1:19-20).
II.ƯỚC MƠ CỦA MẸ LÀ CON ĐƯỢC THÀNH NHÂN (I Sa-mu-ên 1:28; 21-22)

Thi thiên 127:3-4 chép rằng: “Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Ðức Giê-hô-va mà ra; Bông trái của tử cung là phần thưởng.  4 Con trai sanh trong buổi đang thì, Khác nào mũi tên nơi tay dõng sĩ.  5 Phước cho người nào vắt nó đầy gùi mình! Người sẽ không hổ thẹn, Khi nói năng với kẻ thù nghịch mình tại cửa thành”. Khơng có mợt định nghĩa hay mợt diễn đạt nào hay hơn về Con Cái bằng những câu Kinh Thánh vừa nêu.

Con cái là mợt cơ nghiệp cho cha mẹ. Cơ nghiệp đó bởi Đức Chúa Trời mà ra, nghĩa là con cái do Ngài ban cho; như vậy, cha mẹ phải vun đấp cho sự nghiệp ấy được tớt đẹp, được phát triển và tăng trưởng theo năm tháng. Có lẽ mợt sớ người trong chúng ta cho rằng trong thực tế cha mẹ ăn ở với nhau sinh ra con cái, chớ nào phải Đức Chúa Trời ban cho!? Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nhìn nhận rằng, cha mẹ ăn ở với nhau sinh ra con cái, nhưng quyết định về giới tính và cá tính thuợc về sự thẩm quyền của Chúa chớ con người làm sao làm được! Có người muớn sanh con trai, nhưng chỉ sanh toàn là gái, đến “Ngũ Long Cơng Chúa”; lại cũng có người muớn sanh con gái, nhưng vợ chỉ sanh toàn con trai “Ngũ Hở Bình Tây”. Quyền tạo dựng thai nhi do Chúa và từ Chúa, như Tác Giả Thi Thiên đã nói: “Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.  14 Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng. Công việc Chúa thật lạ lùng, lòng tôi biết rõ lắm.  15 Khi tôi được dựng nên trong nơi kín, Chịu nắn nên cách xảo lại nơi thấp của đất, Thì các xương cốt tôi không giấu được Chúa”(Thi 139:13-15).

Bà An-ne đã vun đấp ước mơ của mình bằng cách nuơi nấng, dạy dỡ Sa-mu-ên: “Eân-ca-na, chồng nàng, và cả nhà người đi lên đặng dâng cho Ðức Giê-hô-va của lễ hằng năm và làm xong sự hứa nguyện mình.  22 Nhưng An-ne không đi lên, vì nói cùng chồng nàng rằng: Khi đứa trẻ dứt sữa, tôi sẽ dẫn nó lên, để nó ra mắt Ðức Giê-hô-va, và ở đó luôn luôn.  23 Eân-ca-na, chồng nàng, đáp rằng: Hãy làm theo ý nàng cho là phải, ở lại đây cho đến chừng nàng dứt sữa nó. Chỉn nguyện Ðức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài! Vậy, nàng ở lại nhà, cho con bú đến lúc dứt sữa.  24 Vừa khi dứt sữa, nàng bèn dẫn nó theo mình đến đền của Ðức Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò đực, một Ê-pha bột mì, và một bầu rượu. Ðứa trẻ hãy còn nhỏ lắm (I Sam 1:21-24).

Bà An-ne đã vun đấp ước mơ của mình bằng cách dâng hiến nó cho Đức Chúa Trời sử dụng:
“Aáy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Ðức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài.  28 Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Ðức Giê-hô-va; tôi cho Ðức Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Ðoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Ðức Giê-hô-va (I Samuel 1:27 – 28). 

Bà An-ne đã hết lòng nuơi con mình từ khi lọt lòng đến khi dứt sữa.
Ngày nay, các bà mẹ thường cho con dứt sửa vào dịp “thơi nơi”, nghĩa là khoảng 1 tuởi. Người Việt xưa thì trể hơn, có thể 3-4 tuởi. Người Do thái thể nào thì khơng rõ, nhưng khi Sa-mu-ên dứt sữa thì mẹ dẫn lên đền thờ. Lúc ấy, cậu bé Sa-mu-ên có thể làm việc trong đền thờ như một nhân sự hẳn hoi.“Eân-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục sự Ðức Giê-hô-va trước mặt Hê-li, thầy tế lễ” ,  “Còn Sa-mu-ên phục sự trước mặt Ðức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai”  (I Sam 2:11, 18).

Như vậy, Sa-mu-ên được mẹ giáo dục thời gian ngắn, mợt cách kỷ lưởng trong nhà (Gia đình) trước khi đưa đến đền thờ ở với Thầy Tế Lễ Hê-li. Sự giáo dục đó hình thành mợt nhân cách sau nầy khi đứa trẻ lớn lên. Mặc dù sự giáo dục Xã Hợi (như Đền thờ, trong Học Đường hay Hợi Thánh) đóng vai trò khá quan trọng cho mợt con người; nhưng khi nghiên cứu về Tâm lý Giáo Dục, tơi cho rằng sự Giáo dục Xã hợi nghiêng về trang bị kiến thức nhiều hơn (như Sa-mu-ên học cách phục vụ Chúa qua Hê-li, để sau nầy thi hành chức vụ của mợt Thầy Tế lễ và Tiên tri, nếu học về tư cách đạo đức với ơng thầy nầy thì “hỏng bét!”).

Giáo sư Xavier – Nhà Giáo dục Do Thái, nói rằng: “Hãy trao cho tơi dạy dỡ mợt đứa trẻ, từ mợt đến bảy tuởi. Tơi sẽ quyết định con người ấy sau nầy thể nào!”
Giáo dục trong Gia đình chính là yếu tớ để hình thành mợt con người đầy đủ nhân cách “Sa-mu-ên trở nên khôn lớn, Ðức Giê-hô-va ở cùng người: Ngài chẳng để một lời nào của người ra hư” (I Sam 3:19).
 
Ngày nay, Đức Chúa Trời giao trọng trách giáo dục cho các bậc Cha Mẹ. “Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa mà nuôi nấng chúng nó” (Êph 6:4). Trong Cựu ước, Chúa truyền mạng lịnh cho Cha Mẹ:  “Khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chổi dậy.  8 Khá buộc nó trên tay mình như một dấu, và nó sẽ ở giữa hai con mắt ngươi như ấn chí;  9 cũng phải viết các lời đó trên cột nhà, và trên cửa ngươi” (Phục 6:7-9).

Quyết định của Bà An-ne phát xuất từ mong ước con mình được nên người. Hành đợng đó cũng chính là nguyên tắc của nền Cơ Đớc Giáo Dục hiện hành trong Hợi Thánh. Chúa truyền mạng lịnh cho Phụ Huynh rằng: “Hãy dạy cho Trẻ Thơ con đường nó phải theo. Dầu khi nó trở về già cũng khơng hề lìa khỏi đó” (Châm ngơn 22:6). Con đường đó là gì? Có thể Phụ Huynh nghĩ rằng: Đó là con đường học vấn, hoặc là con đường cơng danh sự nghiệp, hay là con đường đạo đức. Đó là những mục tiêu giáo dục bở ích, nhưng là Tín Nhân của Chúa, chúng ta có mợt mục tiêu cao cả hơn. Con Đường mà con cái chúng ta phải noi theo đó là Chúa Giê-su, vì Ngài có phán rằng: “Ta là đường đi (Đạo), chân lý và sự sớng.” (Giăng 14:6).
Quảng Trọng – mợt Danh Nhân Trung Quớc, nói rằng: “Vì lợi ích 1 năm: Trờng lúa. Vì lợi ích 10 năm: Trờng cây. Vì lợi ích 100 năm: Trờng Người”. Ơng dùng từ ngữ “Thụ Nhân” để nói lên ý nầy. Chúng ta phải đầu tư giáo dục vào con cái Chúng ta, đó là kế hoạch lâu dài và kết quả nhiều hơn hết.

Ngày nay, trong cuợc sớng gặp nhiều vất vả để mưu sinh, nhiều cha mẹ cảm thấy con cái là gánh nặng cưu mang. Đơi người vì quá khở mà than vãn rằng “Con là Nợ, vợ là oan gia!”

Giờ giải lao của cơng ty. Một chị nữ cơng nhân than thở cùng Bà Giám đốc:
– Bà biết khơng? Tơi thật chật vật, khĩ khăn lo cho bốn đứa con. Hai đứa đi học, ơi tốn kém quá chừng! Hai đứa cịn nhỏ, ở nhà quậy phá kinh khủng! Quần áo mới mua thì đã cũ, chúng nĩ đùa giỡn, chà lếch,  làm sờn rách tùm lum. . . Tơi khổ tâm quá!
Vừa nghe xong, mặt Bà Giám đốc buồn thiu. Bà nĩi:
-Chị ơi! Đáng lý ra chị  phải vui mừng mới đúng. Tơi ước gì con tơi vui đùa nghịch ngợm như con của chị vậy. Tơi mua nhiều quần áo thật đẹp cho nĩ, mong nĩ chà lếch cho cũ để mua cái khác, và tơi cũng mong nĩ đi học như chúng bạn. . . nhưng nĩ nào cĩ được những điều đĩ đâu!
-Tại sao vậy!?
-Tại vì Con của tơi bị sốt tê liệt đã ba năm rồi!

Khi chúng ta nhận biết rằng Con Cái là cơ nghiệp từ Đức Chúa Trời ban cho, thì chúng ta sẽ hết lòng đầu tư giáo dục. Chúng ta sẽ vượt qua những gian khở trước mặt vì tình yêu thương con cái. Được làm Cha mẹ là mợt thiên chức. Đó là thiên chức của cả mợt đời người.

Mặc dù, Bà An-ne đã đem con mình lên đền thờ, dâng cho Chúa. Bà gởi con ở lại cùng Thầy Tế lễ Hê-li để được dạy dỡ, nhưng Bà vẫn tiếp tục quan tâm theo dõi, chăm sóc cho con mình trong cuợc sớng “Mỗi năm, mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm” (I Sam 2:19). Đó cũng chính là điều Phụ Huynh cần làm sau khi làm lễ Dâng Con cho Chúa. Chúng ta phải xem con như bửu vật Chúa giao và tiếp tục nuơi nấng, chăm sóc nó trong đường lới của Chúa.
III.SỰ THÀNH CƠNG CỦA CON LÀ PHẦN THƯỞNG CHO CHA MẸ (I Sa-mu-ên 3:19-21).

Nhờ tình thương yêu của Cha Mẹ mà nhiều người con đã thành tài. Kể cả những người con nuơi, như:
-Randy TRAVIS, từ mợt cậu bé ăn cắp xe hơi, đã trở thành Siêu sao Ca Nhạc Đờng Quê của Hoa-Kỳ.
-Mike TYSON, từ mợt đứa trẻ phạm pháp khi mới 12 tuởi. Được cha mẹ nuơi bảo lảnh từ Trại Cải Huấn, thấy năng khiếu và cho học nghề đấu võ đài, sau nầy trở nên Nhà Vơ Địch.
-Rabindranath Tagore (1861-1941) mợt thiếu nhi nghèo của Ấn Đợ, đã trở thành Nhà Thơ Vĩ Đại của Ấn đợ và cũng là Đại Văn Hào của Nhân loại, do sự giáo dục của Cha mình là Ơng Maharshi Tagore.

Chúng ta hãy xem Kinh Thánh nói về sự thành cơng của cậu bé Sa-mu-ên trở thành Tiên Tri:
“ Sa-mu-ên trở nên khôn lớn, Ðức Giê-hô-va ở cùng người: Ngài chẳng để một lời nào của người ra hư.  20 Từ Ðan cho đến Bê-e-sê-ba, cả Y-sơ-ra-ên đều biết rằng Sa-mu-ên được lập làm tiên tri của Ðức Giê-hô-va.  21 Ðức Giê-hô-va cứ hiện ra tại Si-lô, vì ấy tại Si-lô mà Ðức Giê-hô-va hiện ra cùng Sa-mu-ên, khiến cho người biết lời của Ngài” (I Sam 3:19-21). 

Chắc chắn sự thành cơng của Sa-mu-ên đã làm cho Bà An-ne và Ên-ca-na, chờng bà thỏa lòng. Nhưng có mợt điều đặc biệt, chúng ta nên đề cập đến. Đó là, khi Bà An-ne dâng Đứa Con Cầu Tự của mình cho Chúa, Ngài khơng đề cho ơng bà thiệt thòi. Ngài đã ban cho họ thêm những người con khác nữa:  “Hê-li chúc phước cho Eân-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Ðức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Ðức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình.  21 Ðức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Ðức Giê-hô-va” (I Sam 2:18-21).

 

IV.BỞN PHẬN LÀM CON ĐỚI VỚI CHA MẸ (Ê-phê-sơ 6:1-3)

Chúng ta đã dành nhiều thì giờ suy ngẫm về Ước Mơ của Mẹ, thiết tưởng cũng cần nhắc đến sự dạy dỡ của Chúa về bởn phận Con Cái đới với Cha Mẹ của mình. Kinh thánh chép: “ Hỡi kẻ làm con cái, hãy vâng phục cha mẹ mình trong Chúa, vì điều đó là phải lắm.  2 Hãy tôn kính cha mẹ ngươi (ấy là điều răn thứ nhất, có một lời hứa nối theo),  3 hầu cho ngươi được phước và sống lâu trên đất” (Êph 6:1-3).

Qua mạng lịnh nầy, có ba điều cần lưu ý:
Thứ nhất, Chúa muớn người làm con phải vâng phục cha mẹ, khi chúng ta là mợt Tín Nhân thì điều đó thật cần thiết.

Thứ hai, người con vâng phục từ tấm lòng tơn kính cha mẹ. Bởi vì, Người làm cơng có thể vâng phục chủ, vì cần tiền, nhưng có thể họ khơng tơn kính chủ. Còn con cái thì Chúa khuyên phải vâng phục từ tấm lòng tơn kính cha mẹ: “Hỡi con, hãy nghe lời khuyên dạy của cha; chớ bỏ phép tắc của mẹ con!” (Châm ngơn 1:8).

Thứ ba, sự hiếu thảo của con cái đới với Cha Mẹ chẳng những vì bởn phận (Điều Răn Thứ 5 – đầu tiên trong mới quan hệ của con người với con người), mà còn có mợt phần thưởng cặp theo, đó là sự trường thọ. Phần thưởng của Đức Chúa Trời cho những người con hiếu thảo.

Cầu xin Chúa giúp đỡ cho các bạn trẻ thực hiện được điều nầy, và sẽ hưởng phước theo lời hứa của Chúa.

KẾT

 

Kính thưa Hợi thánh và Quý Thân Hữu,
Trong lời mở đầu, tơi có đề cập đến Tác Phẩm bất hủ của Nhạc sĩ Y Vân – “Lòng Mẹ”. Giờ đây, để kết thúc bài nói chuyện nầy, tơi cũng xin đề cập đến Một ca khúc về mẹ rất đặc sắc nữa, đĩ là bài “Mẹ tơi” của Nhạc sĩ Nhị Hà:
” Mẹ tơi tóc xanh nhuợm bạc tháng ngày. Mẹ tơi đau buờn nặng trĩu đơi vai. Bao năm nuơi đàn trẻ thơ nhỏ dại. Cầu mong con mình có mợt ngày mai. Mẹ tơi nắng mưa chẳng ngại nhọc nhằn. Mẹ tơi mỉm cười nhìn bĩng con ngoan. Khơng than, khơng phiền dù lâm hoạn nạn. Lịng tin con mình xứng thành người dân… Chiều chiều, bên liếp lều tranh. Mẹ tơi đứng đợi đàn con. Trước giĩ tĩc trắng lịa xịa. Đơi mắt dịu hiền như bể tình thương… Lòng người mong ước ngày sau, đàn con sớm thành người dân, nhưng nay con đã nên người thì nay còn đau bà mẹ hiền xưa…”.
Đoạn kết của bài hát với hình ảnh “Chiều nay đốt hương tưởng niệm trước mồ. Nhìn khĩi đau lịng tưởng nhớ năm xưa. Cơng ơn sinh thành ngày nao đền trã? Mẹ ơi! Con nguyện nhớ lời mẹ khuyên”.  Với những ca từ giàu hình ảnh nầy, khiến ai khi nghe hát mà chẳng ngậm ngùi!
Đã có bao cuợc đời thành cơng, muớn báo hiếu, nhưng đâu còn cha hay mẹ để mà thực hiện lòng hiếu thảo, đâu còn có dịp đền đáp cơng ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ cha!? Như tác giả Nhị Hà đã viết “Nhưng nay con đã nên người, thì nay còn đâu Bà Mẹ Hiền xưa!?”
Các Bạn Trẻ sẽ thực hiện điều gì ngay hơm nay để đáp lại ước mơ từ sự hy sinh của Mẹ? Bạn làm gì để đền đáp cơng ơn trời biển của Cha? Bạn sẽ sớng như thế nào để được đẹp lòng Chúa?
Lòng hiếu thảo có phải chỉ là Mợt Đóa Hờng đỏ thắm cho Mẹ? Hay những món quà gói ghém chút tấm lòng của mợt người con? Sự hiếu thảo đã được thể hiện mợt ngày trong năm, có đủ khơng?
Xin Lời Chúa được rao giảng hơm nay sẽ trở nên hành trang của bạn, mợt chiếc gùi trên lưng bạn đầy hoa rực rỡ, để bạn có thể trao tặng Cha Mẹ từ lòng tơn kính những đóa hoa hiếu thảo, khơng chỉ trong Ngày Lễ Mẫu Thân, mà trong suớt cả cuợc đời nầy. Amen.

Mục sư Nguyễn Văn Đại.

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/04/2010

MƯA ĐÊM

MỘT GÓC ĐỜI THƯỜNG 

 Trong bất cứ huyền thoại nào cũng có những mãnh vụn của sự thật.

 

 

 

MƯA ĐÊM

 

Đêm khuya khoắc.

Những tia chớp lóe sáng trên bầu trời đêm, rồi một tiếng sấm nổ thật lớn. Lớn đến nỗi tiếng vang của nó khiến cho đứa con bé bỏng của tôi giật mình, khóc ré lên. Tôi lòm còm ngồi dậy, với tay qua vành nôi đong đưa để ru ngủ cho đứa con của mình. Bé vẫn khóc trong nỗi sợ hãi. Tôi chồm người qua chiếc nôi, bồng bé lên, rồi ôm vào lòng mình. Đứa bé xoay mặt vào lòng ngực tôi, dúi dúi đầu để tìm bầu sửa mẹ. Tiếng khóc dịu xuống, vài cái nấc tức tưởi, rồi bé không còn sợ hãi nữa.

 

Đứa bé hoàn toàn nín khóc khi nút lấy dòng sửa mẹ. Nó thật yên bình bên lòng mẹ, nơi mà trước đây nó đã hình thành nên một con người. Nó ngủ êm đềm trong hơi ấm của vòng tay tôi, và bất chợt cái hơi ấm loang tõa từ thân thể bé nhỏ cũng làm cho tôi cảm thấy ấm áp. Một làn hương loan tỏa trong hồn tôi. Bên ngoài cơn mưa đã bắt đầu nặng hạt.

 

 

 

 

 

 

 

Mưa đổ xuống ào ào trên mái tôn. Mưa đang phủ trên con xóm nhỏ ven đô lầy lội. Mưa cũng vây phủ tâm hồn tôi, vì ngay giờ nầy, nơi quê nghèo xa xôi, mẹ tôi đang đơn chiếc vì xa cháu xa con. Như lo sợ một cái gì phân ly, sợ xa cách giữa tình mẹ con thiêng liêng, tôi ôm con mình rồi ghì chặc nó vào lòng. Tôi bậc khóc trong lòng ngực vô hình của mẹ và khẻ nói trong tiếng mưa: Mẹ ơi! Bao giờ con mới được về bên mẹ!?

Tiếng sấm vang trong xa xăm. Ngoài kia con hẻm nhỏ rĩ rã mưa.

Đêm vẫn còn khuya khoắc.

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/04/2010

Mẹ Già

Vượt biên. Anh bươn chảy kiếm tiền lo cho cha mẹ ở quê nhà.

Ba mẹ khuyên anh cưới vợ và xây dựng mái ấm gia đình. Nổ lực nào rồi cũng được đáp đền. Anh có nghề nghiệp, nhà cửa, vợ con hẳn hoi. . . nhưng cha già không còn nữa. Thương mẹ tận tụy một đời. Anh rước mẹ qua sống với mình. Ngày đoàn tụ cả nhà mừng mừng, tủi tủi.

Anh chị đi làm suốt ngày, các cháu vào trường nên mẹ ở nhà một mình. Xa lạ xứ người. Mẹ buồn vì mọi điều lạ lẫm, mẹ buồn vì xa cội nhớ nguồn. Thương mẹ, anh sắm một ti vi và một dàn máy riêng, để mẹ xem cải lương cho đở nhớ quê nhà. Mắt yếu, hình ảnh lờ mờ không thấy rỏ, mẹ cười cười cho con vui, rồi tắt máy đi nằm. Tiếng vọng cổ làm cho người nghe thêm não ruột!

 Chiều nay, Anh chị cố gắng mua thêm một máy Ipod để mẹ nghe nhạc Việt. Anh kiên nhẫn cầm tay mẹ chỉ cách mở máy để nghe, như ngày xưa  mẹ cầm tay con nắn nót,  tập viết những con chữ đầu đời. Tay mẹ run run,  loay hoay mở trật lên, trật xuống, vì hàng điện tử khó xài. Mẹ nói mẹ bị nặng tai, nghe tiếng đặng tiếng được, nên chẳng thích nghe đâu. Mẹ muốn con cho cháu.

Ngồi nhìn mẹ già hao gầy,  anh nghẹn ngào, nghe đau lói lồng ngực rồi tự dưng nước mắt tuôn tràn trên đôi má . . .

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/04/2010

THAI GIÁO

DẪN NHẬP
  

Người Việt có câu: “Tre tàn, măng mọc” để định hướng cho giáo dục trong cột mốc giao thoa thế hệ.  Người đi trước chuẩn bị và dọn đường cho lớp con em tiếp nối bước chân mình theo dòng lịch sử. Ðầu tư trong Giáo dục là kế hoạch khôn ngoan , như  một danh nhân Trung quốc là  Quảng Trọng đã  nói : “Vì lợi ích một năm thì trồng lúa, vì lợi ích mười năm thì trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì trồng người.” Kế hoạch Trờng Người là Thụ nhân. Giáo dục là thụ nhân, tức là trồng người.  Ca dao Việt nam có câu : “Dạy con từ thuở còn thơ,…” nhắc nhở bổn phận cha mẹ phải giáo dục con em mình từ khi còn thơ ấu.   

Nhưng tuyệt vời hơn nữa, Lời của Ðức Chúa Trời truyền mạng lịnh cho chúng ta :   

“Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó.”   

(Châm ngôn 22:6).  


 Tín nhân tại Việt Nam đã đáp ứng mạng lịnh Ðức Chúa Trời và thực hiện giáo dục con em mình khá chu đáo. Quan tâm và đầu tư giáo dục cho thế hệ trẻ được đưa lên hàng đầu trong Hội Thánh Việt Nam hiện nay.  Trong chiều kích vĩ mô của Cơ Ðốc Giáo Dục thế giới, Hội Thánh đã hình thành hệ thống Cơ Ðốc Giáo Dục khá hoàn chỉnh.  Trong lĩnh vực Thanh Thiếu Nhi, mô hình Trường Chúa Nhật đã góp phần đào tạo giáo lý cho các lớp Thanh niên, Thiếu niên, Thiếu nhi, Nhi đồng và Ấu nhi.  Bên cạnh đó, chương trình Hội thánh Thiếu nhi trong các Hội thánh phát triển đã cơ cấu thành hệ thống khá chuẩn.  Gần đây, một số Hội thánh đã thực hiện chương trình Nhà trẻ cho các cháu từ một đến ba tuổi.  Thật ra, chương trình này nhằm mục đích giữ trẻ cho các phụ huynh an tâm thờ phượng trong các buổi lễ. Nói chung là Các lứa tuổi trong Hội thánh  từ 1 tuổi đến 18 tuổi đã và đang được Hội thánh quan tâm nhiều hơn trước.
Tuy nhiên, nền Cơ Ðốc Giáo Dục của Hội thánh Việt Nam nghiêng hẳn về hoạt động trong khuôn viên nhà thờ.  Và vì thế, bức tranh toàn cảnh Cơ Ðốc Giáo Dục của Hội thánh Việt Nam lại chịu hụt mất một mảng rất lớn  là Cơ Ðốc Giáo Dục trong Gia đình tín nhân.  Trong bối cảnh đó,  Hội thánh cung cấp tài liệu hướng dẫn hoặc huấn luyện phụ huynh chỉ  gói ghém trong một số  bài giảng hoặc văn phẩm Cơ Ðốc mang tính cách dưỡng linh như Sống Với Thánh Kinh, Lời Sống Hằng Ngày, và một số ấn phẩm giải nghĩa Kinh Thánh.  Cho nên,  Gia đình Cơ Ðốc không có tài liệu căn bản nào để hướng dẫn phụ huynh dạy dỗ con em tại nhà riêng, ngoại trừ quyển Kinh thánh.  

Tài liệu giáo lý trong những năm gần đây đã được cung ứng với số lượng  theo lứa tuổi khá đáng kể. Tuy nhiên về Cơ đốc Giáo dục Gia đình thì  có cố gắng lắm mới tìm được một số bài giảng của các Mục sư tâm huyết với Tuổi Trẻ và họa hoằn lắm mới tìm thấy đôi ba tài liệu hướng dẫn Tâm lý Cơ Ðốc Giáo Dục Gia đình trong các tạp chí của Hội thánh xưa và nay.  Thế mà, chúng lại nằm tản mác chớ không chuyên đề và chưa được hệ thống như đáng phải có. 

Vì lẽ đó, với tất cả cưu mang và khát khao trong nhiều năm qua, chúng tôi mạo muội làm cuộc khảo cứu Cơ Ðốc Giáo Dục Gia Ðình qua đề tài “Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi trong Hệ Thống Cơ Ðốc Giáo Dục Việt Nam.”  Mong ước bài viết này sẽ điền khuyết vào mảng thiếu trong bức tranh toàn cảnh của nền Cơ Ðốc Giáo Dục tại Việt Nam. 

Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là phương pháp hướng dẫn cha mẹ của thai nhi biết cách dạy con mình từ lúc con còn trong lòng mẹ theo ý muốn của Chúa.  Qua sự dạy dỗ của Thánh Kinh, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi chuẩn bị cho sự chào đời của thai nhi trở thành những con người trong gia đình Cơ Ðốc đúng nghĩa.  Ðây chính là tiền đề cho giáo dục toàn diện một tín nhân từ thơ ấu đến trưởng thành (Châm Ngôn 22:6).
 Bài viết tham khảo các tài liệu về Giáo Dục Thai Nhi đang được xã hội và giáo dục Việt Nam quan tâm, nghiên cứu, và dịch thuật.  Các nguồn tài liệu từ Trung Quốc, Nhật Bản đại diện cho quan niệm Thai giáo Ðông phương.  Các nguồn tài liệu từ Hoa Kỳ, Anh Quốc đại diện cho quan niệm Thai giáo Tây phương.  Qua đó, đây sẽ là những tiêu biểu cho các trường phái giáo dục Thai giáo trên thế giới.  Ðặc biệt, truyền thống và văn hoá Việt Nam đã đề cập đến thai giáo từ nhiều thế hệ trước mà nay tưởng chừng như quên lãng. Như chúng ta đã biết Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá làng xã, xây dựng trên nền tảng gia đình mang tính cộng đồng đa dạng.  Cho nên, điều căn bản trong giáo dục cộng đồng của Người Việt từ xưa đã bắt đầu từ trong gia đình. Do đó, Cơ đốc  Giáo Dục Thai Nhi ngoài chức năng giáo dưỡng thai nhi,  đã quan tâm đến từng thành viên của gia đình học biết trách nhiệm bổn phận trong thiên chức làm cha làm mẹ đối với con mình.  Giáo Dục Thai Nhi trình bày phương pháp nuôi dạy con cái trong thời gian đầu của tiến trình hình thành nhân dạng của một thai nhi cho đến khi chào đời, làm nền tảng xây dựng một  con người trọn vẹn nhân cách sau này.
 Hơn nữa, trong bài này chúng tôi cố gắng giải đáp những ưu tư trong niềm tin của các Tín nhân ngày nay quan tâm đến các vấn đề xung quanh Thai giáo trong  cộng đồng Tin lành Việt Nam.  Nổi bật nhất là vấn đề Cơ đốc nhân có nên phá thai không? Còn Ngừa thai có nên không? Bằng cách nào xứng hợp dạy dỗ của Thánh Kinh?
Chúng tôi sẽ bàn đến Vấn đề quái thai và hạn chế sinh sản.  Song song vấn đề phá thai, là vấn đề trợ tử cũng cần nói đến, vì nó là một vấn đề đương đại được xã hội và thế giới đề cập rất nhiều.  Tín Nhân Việt Nam có quan điểm thần học như thế nào trong những vấn đề nầy, cũng đặt một dấu hỏi lớn cần giải đáp cho niềm tin Cơ Ðốc.  Bên cạnh  đó, việc mang thai hộ hay “sinh sản thế” (Ðẻ thế, đẻ mướn) luôn là vấn đề nhức nhối trong nhận thức về thần học của các gia đình Cơ Ðốc mà chưa được giải đáp thoả đáng.  Ngoài ra, vấn đề thần học về thai dựng, đầu thai, và thọ thai cũng là những đề tài gây nhiều suy nghĩ. Hội thánh có nên áp dụng ưu sinh học và ứng dụng  gene để sinh con theo ý muốn. 

Các vấn đề nêu trên bấy lâu nay chỉ được giải đáp theo từng đề tài hay chỉ được đề cập thoáng qua trong các phần giảng luận của các mục sư có lòng  quan tâm đến Cơ đốc giáo dục.  Trong bài này, người viết sẽ cố gắng đề cập đến phần Ðạo Ðức Giáo Dục Thai Nhi như là một gợi ý về Ðạo Ðức Học giải quyết những xung đột trong tiến trình sống Ðạo của Gia đình Cơ Ðốc.
 Cuối cùng, bài khảo cứu này nhằm mục tiêu góp phần xây dựng công cuộc Truyền giáo Thiếu nhi tại Việt Nam.  Tâm huyết của chúng tôi là khảo luận nầy sẽ trở thành đề cương giáo dục, làm tài liệu hướng ý cho Uỷ Ban Cơ Ðốc Giáo Dục để áp dụng trong các Hội thánh Tin Lành.  Ðối tượng của Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi đầu tiên là giới Thanh Tráng niên.  Họ là những người vừa lập gia đình, cần được trang bị phương pháp và ý thức thuộc linh trong thiên chức làm cha làm mẹ.  Cùng theo đó, bài nghiên cứu cũng quan tâm đến các bạn Thanh niên nam nữ trong các khoá dự bị hôn nhân được trang bị kiến thức,  có cái nhìn đúng đắn và lý thú về nhiệm vụ sinh sản con cái theo quan niệm Cơ đốc, theo Mạng Lịnh của Ðức Chúa Trời, Ðấng Sáng Tạo Vũ Trụ và Nhân Loại “Ðức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. (Sáng thế ký 1:28a).   

Trên nền tảng Lời Chúa, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi kiến tạo Hội Thánh tương lai qua những gia đình Cơ Ðốc “một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva” (Thi Thiên 102:18).  Chúng tôi cũng mong ước các cấp lãnh đạo xem xét và các bậc phụ huynh nghiên cứu và góp ý để xây dựng nền Cơ Ðốc Giáo Dục mỗi ngày một tốt hơn.
Văn Hóa Việt Nam do kinh nghiệm những tiền nhân dạy rằng: “Dạy con từ thưở còn thơ”, nhưng Hội Thánh Ðức Chúa Trời cần những con người “được giáo dục từ trong trứng nước.” Như Thánh Kinh đã dạy:
  

“Từ trong tử cung tôi đã được giao cho Chúa.
Chúa là Ðức Chúa Trời tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.”   Thi Thiên 22:10
Như Chúa phán với tiên tri Giêrêmi rằng:
 “Trước khi tạo nên ngươi trong lòng mẹ,Ta đã biết ngươi rồi;
 Trước khi ngươi sinh ra,  ta đã biệt riêng ngươi,
lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước.”
  (Giêrêmi 1:4b-5)
  

Ðức Chúa Trời chuẩn bị những đời sống phục vụ cho công việc của Ngài trên đất thật Lạ lùng kỳ diệu.  Ngài biệt riêng những cuộc đời cho Ngài khi chỉ là thai nhi trong lòng mẹ và đặt ý chỉ Ngài trên những cuộc đời ấy. Chúng ta – Hội Thánh của Ðức Chúa Trời vâng theo mạng lịnh của Ngài mà đào tạo một thế hệ tương lai qua con em chúng  ta trở thành một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva”(Thi Thiên 102:18). Muốn thật hết lòng./  


Mục sư Nguyễn Văn Ðại,
Master of Arts in Ministry
  

« Newer Posts - Older Posts »

Chuyên mục