Đăng bởi: nguoichanbay | 26/04/2010

Mẹ Già

Vượt biên. Anh bươn chảy kiếm tiền lo cho cha mẹ ở quê nhà.

Ba mẹ khuyên anh cưới vợ và xây dựng mái ấm gia đình. Nổ lực nào rồi cũng được đáp đền. Anh có nghề nghiệp, nhà cửa, vợ con hẳn hoi. . . nhưng cha già không còn nữa. Thương mẹ tận tụy một đời. Anh rước mẹ qua sống với mình. Ngày đoàn tụ cả nhà mừng mừng, tủi tủi.

Anh chị đi làm suốt ngày, các cháu vào trường nên mẹ ở nhà một mình. Xa lạ xứ người. Mẹ buồn vì mọi điều lạ lẫm, mẹ buồn vì xa cội nhớ nguồn. Thương mẹ, anh sắm một ti vi và một dàn máy riêng, để mẹ xem cải lương cho đở nhớ quê nhà. Mắt yếu, hình ảnh lờ mờ không thấy rỏ, mẹ cười cười cho con vui, rồi tắt máy đi nằm. Tiếng vọng cổ làm cho người nghe thêm não ruột!

 Chiều nay, Anh chị cố gắng mua thêm một máy Ipod để mẹ nghe nhạc Việt. Anh kiên nhẫn cầm tay mẹ chỉ cách mở máy để nghe, như ngày xưa  mẹ cầm tay con nắn nót,  tập viết những con chữ đầu đời. Tay mẹ run run,  loay hoay mở trật lên, trật xuống, vì hàng điện tử khó xài. Mẹ nói mẹ bị nặng tai, nghe tiếng đặng tiếng được, nên chẳng thích nghe đâu. Mẹ muốn con cho cháu.

Ngồi nhìn mẹ già hao gầy,  anh nghẹn ngào, nghe đau lói lồng ngực rồi tự dưng nước mắt tuôn tràn trên đôi má . . .

Đăng bởi: nguoichanbay | 18/04/2010

THAI GIÁO

DẪN NHẬP
  

Người Việt có câu: “Tre tàn, măng mọc” để định hướng cho giáo dục trong cột mốc giao thoa thế hệ.  Người đi trước chuẩn bị và dọn đường cho lớp con em tiếp nối bước chân mình theo dòng lịch sử. Ðầu tư trong Giáo dục là kế hoạch khôn ngoan , như  một danh nhân Trung quốc là  Quảng Trọng đã  nói : “Vì lợi ích một năm thì trồng lúa, vì lợi ích mười năm thì trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì trồng người.” Kế hoạch Trờng Người là Thụ nhân. Giáo dục là thụ nhân, tức là trồng người.  Ca dao Việt nam có câu : “Dạy con từ thuở còn thơ,…” nhắc nhở bổn phận cha mẹ phải giáo dục con em mình từ khi còn thơ ấu.   

Nhưng tuyệt vời hơn nữa, Lời của Ðức Chúa Trời truyền mạng lịnh cho chúng ta :   

“Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó.”   

(Châm ngôn 22:6).  


 Tín nhân tại Việt Nam đã đáp ứng mạng lịnh Ðức Chúa Trời và thực hiện giáo dục con em mình khá chu đáo. Quan tâm và đầu tư giáo dục cho thế hệ trẻ được đưa lên hàng đầu trong Hội Thánh Việt Nam hiện nay.  Trong chiều kích vĩ mô của Cơ Ðốc Giáo Dục thế giới, Hội Thánh đã hình thành hệ thống Cơ Ðốc Giáo Dục khá hoàn chỉnh.  Trong lĩnh vực Thanh Thiếu Nhi, mô hình Trường Chúa Nhật đã góp phần đào tạo giáo lý cho các lớp Thanh niên, Thiếu niên, Thiếu nhi, Nhi đồng và Ấu nhi.  Bên cạnh đó, chương trình Hội thánh Thiếu nhi trong các Hội thánh phát triển đã cơ cấu thành hệ thống khá chuẩn.  Gần đây, một số Hội thánh đã thực hiện chương trình Nhà trẻ cho các cháu từ một đến ba tuổi.  Thật ra, chương trình này nhằm mục đích giữ trẻ cho các phụ huynh an tâm thờ phượng trong các buổi lễ. Nói chung là Các lứa tuổi trong Hội thánh  từ 1 tuổi đến 18 tuổi đã và đang được Hội thánh quan tâm nhiều hơn trước.
Tuy nhiên, nền Cơ Ðốc Giáo Dục của Hội thánh Việt Nam nghiêng hẳn về hoạt động trong khuôn viên nhà thờ.  Và vì thế, bức tranh toàn cảnh Cơ Ðốc Giáo Dục của Hội thánh Việt Nam lại chịu hụt mất một mảng rất lớn  là Cơ Ðốc Giáo Dục trong Gia đình tín nhân.  Trong bối cảnh đó,  Hội thánh cung cấp tài liệu hướng dẫn hoặc huấn luyện phụ huynh chỉ  gói ghém trong một số  bài giảng hoặc văn phẩm Cơ Ðốc mang tính cách dưỡng linh như Sống Với Thánh Kinh, Lời Sống Hằng Ngày, và một số ấn phẩm giải nghĩa Kinh Thánh.  Cho nên,  Gia đình Cơ Ðốc không có tài liệu căn bản nào để hướng dẫn phụ huynh dạy dỗ con em tại nhà riêng, ngoại trừ quyển Kinh thánh.  

Tài liệu giáo lý trong những năm gần đây đã được cung ứng với số lượng  theo lứa tuổi khá đáng kể. Tuy nhiên về Cơ đốc Giáo dục Gia đình thì  có cố gắng lắm mới tìm được một số bài giảng của các Mục sư tâm huyết với Tuổi Trẻ và họa hoằn lắm mới tìm thấy đôi ba tài liệu hướng dẫn Tâm lý Cơ Ðốc Giáo Dục Gia đình trong các tạp chí của Hội thánh xưa và nay.  Thế mà, chúng lại nằm tản mác chớ không chuyên đề và chưa được hệ thống như đáng phải có. 

Vì lẽ đó, với tất cả cưu mang và khát khao trong nhiều năm qua, chúng tôi mạo muội làm cuộc khảo cứu Cơ Ðốc Giáo Dục Gia Ðình qua đề tài “Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi trong Hệ Thống Cơ Ðốc Giáo Dục Việt Nam.”  Mong ước bài viết này sẽ điền khuyết vào mảng thiếu trong bức tranh toàn cảnh của nền Cơ Ðốc Giáo Dục tại Việt Nam. 

Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi là phương pháp hướng dẫn cha mẹ của thai nhi biết cách dạy con mình từ lúc con còn trong lòng mẹ theo ý muốn của Chúa.  Qua sự dạy dỗ của Thánh Kinh, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi chuẩn bị cho sự chào đời của thai nhi trở thành những con người trong gia đình Cơ Ðốc đúng nghĩa.  Ðây chính là tiền đề cho giáo dục toàn diện một tín nhân từ thơ ấu đến trưởng thành (Châm Ngôn 22:6).
 Bài viết tham khảo các tài liệu về Giáo Dục Thai Nhi đang được xã hội và giáo dục Việt Nam quan tâm, nghiên cứu, và dịch thuật.  Các nguồn tài liệu từ Trung Quốc, Nhật Bản đại diện cho quan niệm Thai giáo Ðông phương.  Các nguồn tài liệu từ Hoa Kỳ, Anh Quốc đại diện cho quan niệm Thai giáo Tây phương.  Qua đó, đây sẽ là những tiêu biểu cho các trường phái giáo dục Thai giáo trên thế giới.  Ðặc biệt, truyền thống và văn hoá Việt Nam đã đề cập đến thai giáo từ nhiều thế hệ trước mà nay tưởng chừng như quên lãng. Như chúng ta đã biết Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá làng xã, xây dựng trên nền tảng gia đình mang tính cộng đồng đa dạng.  Cho nên, điều căn bản trong giáo dục cộng đồng của Người Việt từ xưa đã bắt đầu từ trong gia đình. Do đó, Cơ đốc  Giáo Dục Thai Nhi ngoài chức năng giáo dưỡng thai nhi,  đã quan tâm đến từng thành viên của gia đình học biết trách nhiệm bổn phận trong thiên chức làm cha làm mẹ đối với con mình.  Giáo Dục Thai Nhi trình bày phương pháp nuôi dạy con cái trong thời gian đầu của tiến trình hình thành nhân dạng của một thai nhi cho đến khi chào đời, làm nền tảng xây dựng một  con người trọn vẹn nhân cách sau này.
 Hơn nữa, trong bài này chúng tôi cố gắng giải đáp những ưu tư trong niềm tin của các Tín nhân ngày nay quan tâm đến các vấn đề xung quanh Thai giáo trong  cộng đồng Tin lành Việt Nam.  Nổi bật nhất là vấn đề Cơ đốc nhân có nên phá thai không? Còn Ngừa thai có nên không? Bằng cách nào xứng hợp dạy dỗ của Thánh Kinh?
Chúng tôi sẽ bàn đến Vấn đề quái thai và hạn chế sinh sản.  Song song vấn đề phá thai, là vấn đề trợ tử cũng cần nói đến, vì nó là một vấn đề đương đại được xã hội và thế giới đề cập rất nhiều.  Tín Nhân Việt Nam có quan điểm thần học như thế nào trong những vấn đề nầy, cũng đặt một dấu hỏi lớn cần giải đáp cho niềm tin Cơ Ðốc.  Bên cạnh  đó, việc mang thai hộ hay “sinh sản thế” (Ðẻ thế, đẻ mướn) luôn là vấn đề nhức nhối trong nhận thức về thần học của các gia đình Cơ Ðốc mà chưa được giải đáp thoả đáng.  Ngoài ra, vấn đề thần học về thai dựng, đầu thai, và thọ thai cũng là những đề tài gây nhiều suy nghĩ. Hội thánh có nên áp dụng ưu sinh học và ứng dụng  gene để sinh con theo ý muốn. 

Các vấn đề nêu trên bấy lâu nay chỉ được giải đáp theo từng đề tài hay chỉ được đề cập thoáng qua trong các phần giảng luận của các mục sư có lòng  quan tâm đến Cơ đốc giáo dục.  Trong bài này, người viết sẽ cố gắng đề cập đến phần Ðạo Ðức Giáo Dục Thai Nhi như là một gợi ý về Ðạo Ðức Học giải quyết những xung đột trong tiến trình sống Ðạo của Gia đình Cơ Ðốc.
 Cuối cùng, bài khảo cứu này nhằm mục tiêu góp phần xây dựng công cuộc Truyền giáo Thiếu nhi tại Việt Nam.  Tâm huyết của chúng tôi là khảo luận nầy sẽ trở thành đề cương giáo dục, làm tài liệu hướng ý cho Uỷ Ban Cơ Ðốc Giáo Dục để áp dụng trong các Hội thánh Tin Lành.  Ðối tượng của Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi đầu tiên là giới Thanh Tráng niên.  Họ là những người vừa lập gia đình, cần được trang bị phương pháp và ý thức thuộc linh trong thiên chức làm cha làm mẹ.  Cùng theo đó, bài nghiên cứu cũng quan tâm đến các bạn Thanh niên nam nữ trong các khoá dự bị hôn nhân được trang bị kiến thức,  có cái nhìn đúng đắn và lý thú về nhiệm vụ sinh sản con cái theo quan niệm Cơ đốc, theo Mạng Lịnh của Ðức Chúa Trời, Ðấng Sáng Tạo Vũ Trụ và Nhân Loại “Ðức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán rằng: Hãy sanh sản, thêm nhiều, làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất. (Sáng thế ký 1:28a).   

Trên nền tảng Lời Chúa, Cơ Ðốc Giáo Dục Thai Nhi kiến tạo Hội Thánh tương lai qua những gia đình Cơ Ðốc “một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva” (Thi Thiên 102:18).  Chúng tôi cũng mong ước các cấp lãnh đạo xem xét và các bậc phụ huynh nghiên cứu và góp ý để xây dựng nền Cơ Ðốc Giáo Dục mỗi ngày một tốt hơn.
Văn Hóa Việt Nam do kinh nghiệm những tiền nhân dạy rằng: “Dạy con từ thưở còn thơ”, nhưng Hội Thánh Ðức Chúa Trời cần những con người “được giáo dục từ trong trứng nước.” Như Thánh Kinh đã dạy:
  

“Từ trong tử cung tôi đã được giao cho Chúa.
Chúa là Ðức Chúa Trời tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.”   Thi Thiên 22:10
Như Chúa phán với tiên tri Giêrêmi rằng:
 “Trước khi tạo nên ngươi trong lòng mẹ,Ta đã biết ngươi rồi;
 Trước khi ngươi sinh ra,  ta đã biệt riêng ngươi,
lập ngươi làm kẻ tiên tri cho các nước.”
  (Giêrêmi 1:4b-5)
  

Ðức Chúa Trời chuẩn bị những đời sống phục vụ cho công việc của Ngài trên đất thật Lạ lùng kỳ diệu.  Ngài biệt riêng những cuộc đời cho Ngài khi chỉ là thai nhi trong lòng mẹ và đặt ý chỉ Ngài trên những cuộc đời ấy. Chúng ta – Hội Thánh của Ðức Chúa Trời vâng theo mạng lịnh của Ngài mà đào tạo một thế hệ tương lai qua con em chúng  ta trở thành một dân sự được dựng nên về sau sẽ ngợi khen Ðức Giêhôva”(Thi Thiên 102:18). Muốn thật hết lòng./  


Mục sư Nguyễn Văn Ðại,
Master of Arts in Ministry
  

Đăng bởi: nguoichanbay | 16/04/2010

KIÊN ĐỊNH ĐỨC TIN

    

  
  
Kinh thánh: II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-17
Câu Chìa Khoá:
“Hỡi anh em, vậy thì hãy đứng vững, hãy vâng giữ những điều dạy dỗ mà chúng tôi đã truyền cho anh em, hoặc bằng lời nói, hoặc bằng thơ từ của chúng tôi”.
II Tê-sa-lô-ni-ca 2:15

     

Ban Doc Than Men,   

 “Chúa Giê-su đã tái lâm và Nước Trời đã được thành lập trên đất. Vào năm 1914. Trời Mới vốn được chờ đợi từ lâu đã xuất hiện. Nước Ðấng Mê-Si đã ra đời vào năm đó, được sự cai trị từ trời và được Ðức Giê-hô-va ban cho thẩm quyền trên toàn mặt đất. Chính Phủ Nước Trời, gồm Ðấng Christ và 144.000 Vua Phó. . .” Ðó là giáo lý Chúa Tái lâm do Giáo Phái Giê-Hô-Va Chứng Nhân chủ trương.
 
Thoạt nghe chúng ta tưởng chừng như là sự thật, nhưng đó chính là một trong những sai trật của sự giảng dạy hiện nay về  Lẽ Ðạo Chúa Tái Lâm.
   

Xa hơn một chút, có Emanuel Swedenborg chủ trương Chúa tái lâm năm 1745.  Còn William Miller thì xác định ngày Chúa tái lâm là 22/11/1844. Charles Taze Rassell  cho rằng Chúa Tái lâm vào năm 1874. Gần đây thì có Sun Myung Moon  của Ðại Hàn  vào năm 1917. Rudolf Steiner  vào  năm 1930. Herbert W. Armstrong chủ trương Chúa tái lâm vào khoảng năm 1940-1975. Harold Camping – 1994. Nostradamus – 1999.     

Paul Sides chủ trương gần nhất, vào ngày 13/07/2007 vừa qua Chúa đã Tái Lâm.   

Còn những chủ trương Ngày Chúa Tái Lâm sắp đến thì có:    

Jack Van Impe chủ trương vào năm 2012,  và Joseph Nathan Smith lại cho rằng vào năm 2034 Chúa mới tái lâm. Và còn  nhiều người khác nữa.   

Tuy nhiên, Chúa Jêsus  trước khi thăng thiên đã phán về thì giờ trở lại của Ngài rằng: “Kỳ hạn và ngày giờ mà Cha đã tự quyền định lấy, ấy là việc các ngươi chẳng nên biết”(Công vụ 1:7). “Vả, Ðức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ,  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì”  (I Ti-mô-thê  4:1- 2) .   

Chúng ta đang sống trong thời đại mà luồng sóng tà giáo đang tràn vào Hội thánh. Có lẽ  Sự tái lâm của Ðức Chúa Giê-su Christ là một lẽ đạo được đề cập và tấn công nhiều nhất. Khi nghiên cứu về Thần Ðạo Lai Thế Học, thì khiến cho một số người ngã lòng vì sự phức tạp và khó hiểu, một số người khác phân vân trước sự khác biệt của tín lý này giữa các Hệ Phái Tin Lành với nhau. Lại có người cho rằng sự tái lâm của Chúa chẳng bao giờ xảy ra, nên họ cứ sống cuộc đời vô tín. Vì thế, Tín Nhân trưởng thành phải là người nắm vững chân lý căn bản của Kinh Thánh về Sự Tái Lâm của Ðức Chúa Giê-su Christ. Phao-lô muốn Tín nhân Tê-sa-lô-ni-ca hiểu rỏ lẽ đạo này, hầu cho họ vững vàng, không chao-đảo trước luồng sóng tà giáo.   

  

  

I.Khước Từ Tín Lý Lạ:  

(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:1-4)


Vì không muốn những Tín Nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca  bị lừa gạt hoặc bối rối, Phao-lô thúc đẩy họ nên khước từ  bất cứ sự dạy dỗ nào cho rằng Chúa Giê-su đã tái lâm rồi. Trong câu 2, ông nêu ra ba hình thức làm bối rối và khủng hoảng niềm tin chúng ta:
(1) “Thần cảm giả mạo”, đó là những việc dường như thiêng liêng mà thật sự không thuộc linh, mạo danh Thánh Linh mà thật ra đến từ  Tà linh.
(2) “Bởi Lời Nói”, đó là sự giảng dạy công khai hoặc tiếp xúc riêng tư,  trong hình thức học kinh thánh, chia sẻ, làm chứng, tâm tình.
(3)  “Bởi bức thơ nào tựa như chúng tôi đã gởi” có xác định rằng ngày Chúa gần đến hay đã đến rồi (2:2). Ðây là những ấn phẩm xuất bản trong hình thức văn chương Cơ-Ðốc hoặc Thần học Tân Phái. Phao-lô dạy rằng “Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình”(2:3)
   


Phao-lô cho biết,  trước khi Chúa Tái Lâm sẽ có sự bội đạo xảy ra và Người Tội Ac xuất hiện (2:3-4) Còn gọi là Antichrist , tức là Kẻ Ðịch lại Ðấng Christ (I Giăng 2:18,22). 
Trong câu 4, Phao-lô giúp chúng ta nhận biết Antichrist- Kẻ địch lại Ðấng Christ qua các dấu hiệu:
(1) Kiêu ngạo “tôn mình lên trên mọi sự”
(2) Ðược tôn sùng “người ta xưng là Ðức Chúa Trời và thờ lạy” 
(3) Có địa vị và uy quyền “ngồi trong đền Ðức Chúa Trời”
(4) Phạm thượng “chính mình tự xưng là Ðức Chúa Trời”.  

  

Chúng ta không ngạc nhiên, vì Ðức Chúa Giê-su đã dạy rằng: Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi. Vì nhiều người sẽ mạo danh ta đến mà nói rằng: Ta là Ðấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người. Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ. Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu.(Ma-thi-ơ 24:4-5, 11-13).  

  

Cho dù Người Tội Ac xuất hiện và sự bội đạo tấn công chúng ta bằng nhiều hình thức, Chúa Giê-su dạy “Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi” và Phao-lô khuyên “Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình”(2:3) . Chúng ta hãy mạnh dạn từ chối họ và bền lòng tin cậy Chúa, như Chúa Giê-su đã dạy “Kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng thì sẽ được cứu” (Ma-thi-ơ 24:13). Chúng ta bình tỉnh và vững vàng trước sự bội đạo. Khi chúng ta khước từ những lẽ đạo sai trật Thánh Kinh  về sự tái lâm của Chúa Giê-su Christ, thì chúng ta có lý do để luôn bình tỉnh và vững vàng trong niềm tin.   

  

  

II.Ghi Khắc Sự Tái Lâm:  

(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:5-12)


 Trong phân đoạn này, Phao-lô mong muốn Tín Nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca luôn ghi nhớ rằng Chúa Giê-su chắc chắn sẽ trở lại và Ngài đến với tư cách là một người chiến thắng và là một Quan Toà. Cho dù “Kẻ Ðại Ac” dùng quyền lực của Quỷ Sa-tan mà hiện ra, làm đủ  dấu lạ, phép mầu giả dối (c9), dùng mọi cách phỉnh dỗ những kẻ tin điều giả dối (c10, 11); thì Chúa Giê-su sẽ huỹ diệt Antichrist bằng hơi thở từ miệng Ngài, và loại trừ  nó bằng ánh sáng vinh quang của sự tái lâm (c8, 12).
   

 Tuy nhiên, Phao-lô muốn chúng ta luôn nhớ rằng Ðức Chúa Trời là Ðấng cầm quyền tể trị trên mọi sự. Kẻ Ðại Ac vẫn còn bị ngăn trở, có nghĩa là nó chỉ xuất hiện và hoạt động trong kỳ hạn đã định cho nó mà thôi (c6). Như vậy, Phao-lô quả quyết những dấu hiệu mà ông đề cập vẫn chưa xãy ra đầy đủ (c7), cho nên chúng ta vững tâm vì biết rằng khi Chúa Trở Lại thì những sự kiện này phải xãy ra trước.
Trong câu 5, Phao-lô nói  “ Anh em há không nhớ khi tôi còn ở với anh em, thì đã nói về những sự đó sao?”. Cũng vậy, trong bức thư trước Phao-lô cũng đã đề cập đến diễn trình lạ lùng về sự tái lâm của Chúa (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-17).
   

Chúng ta cùng nhắc lại các diễn biến này:
[1] Có tiếng gọi vang ra, tiếng của Thiên sứ trưởng cùng tiếng kèn của Ðức Chúa Trời cất lên, thì chính Chúa từ trời giáng xuống.
[2] Ngay lúc ấy, những người chết trong Chúa sẽ sống lại trước hết.
[3] Kế đến,  chúng ta là những người đang sống mà còn lại, sẽ cùng họ được cất lên trong đám mây, để nghênh tiếp Chúa trên không trung.
[4] Như vậy, chúng ta sẽ ở cùng Chúa mãi mãi.
   

Trong bức thư  gửi cho Ti-mô-thê, Phao-lô dạy rằng: “Hãy giữ lấy sự giao phó đã nấy cho con, tránh những lời hư không phàm tục và những sự cãi lẽ bằng tri thức ngụy xưng là tri thức. Ay vì muốn luyện tập tri thức đó, nên có người bội đạo (I Ti-mô-thê 6:20-21). Ðiều quan trọng chúng ta không cần tranh luận (tri thức) về sự tái lâm, mà chúng ta sống tỉnh thức thuộc linh để được cất lên không trung trong Ngày Chúa Tái Lâm, đó là vấn đề căn bản. Ghi nhớ chắc chắn chân lý về Sự Trở Lại của Chúa, chúng ta sẽ bình tỉnh, vui sống trong niềm tin vững chắc.   

  

  

III.Kiên Ðịnh Ðức Tin:  

(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:11-17)


 Phao-lô dùng từ  “Họ” trong câu 11 để  chỉ về những người được miêu tả trong   câu 9,10,11,12  là những người đã bị lường gạt bởi sự cám dỗ của ma quỷ và họ đã khước từ Tin lành cứu rỗi và lựa chọn cuộc sống tội tỗi. Chúa dùng tội lỗi và sự sai trật của họ mà đoán phạt họ (Hê-bơ-rơ 9:27; Rô-ma 4:12; I Phi-e-rơ 4:5).
   

 Giống như sau khi cho xem bức tranh ảm đạm về số phận của người bội đạo, Phao-lô đã làm vững lòng Tín Nhân Tê-sa-lô-ni-ca bằng cách đưa ra bức tranh tươi sáng về sự cứu rỗi và tương lai của họ. Họ là người yêu của Chúa(c13a), được Chúa chọn (c13b) được cứu rỗi (c13c), được kêu gọi và hưởng sự vinh hiển của Ðức Chúa Giê-su Christ trong sự hiện đến của Ngài (c14).   

 Ðặc biệt, trong câu 15, ông thúc giục họ hãy vâng giữ  những điều mà ông đã dạy dỗ họ. Rồi Phao-lô cầu nguyện xin Chúa an ủi và giúp đở họ bình tỉnh trong mọi hoàn cảnh “khiến anh em được bền vững trong mọi việc lành cùng mọi lời nói lành” (c16-17). Ðức Chúa Giê-su phán rằng “Ai nghe Lời Ngài và làm theo khác nào người khôn ngoan cất nhà mình trên vầng đá, du có mưa sa, có nước chảy, có gió lay xô động nhà ấy, thì nó… không sập. Nhà ấy đứng vững vì được xây dựng trên nền bằng đá vậy” (Math-thi-ơ 7:24-25). Chúng ta hãy xây dựng đức tin mình trên chân lý vững chắc là lời của Ðức Chúa Trời.   

  

Kết:

 Người ta thuật rằng có một thị trấn ở Vùng Cực Bắc Na-uy, người dân tại đây sống nhiều tháng trong năm không có ánh sáng mặt trời. Nhưng có điều đặc biệt, cứ  vào ngày 18 tháng giêng hàng năm thì những người dân leo lên một ngọn đồi cao để chiêm ngưỡng cảnh mặt trời mọc. Trong ngày đầu tiên, người ta chỉ trông thấy một quầng sáng nhỏ vươn lên từ đường chân trời, nhưng  chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm cho mọi người vui mừng khôn xiết. Bởi vì họ biết rằng ngày mai và trong suốt cả những ngày kế tiếp, mặt trời sẽ chiếu sáng với tất cả sức mạnh của nó.
 
Kinh thánh cho biết chúng ta đang sống trong thời kỳ “đêm đã khuya, ngày gần đến”(Rô-ma 13:12). Ghi nhớ Lời Chúa để luôn bình tỉnh đối phó với đêm đen tối tăm tội lỗi hiện nay; đồng thời, vững vàng về lẽ đạo tái lâm của Chúa khác nào như vầng sáng vùng Cực Bắc Na-uy cho tâm linh chúng ta.
   

Một ngày không xa, Tiên tri Ma-la-chi đã nói: Khi “ Mặt Trời Công Bình mọc lên với sức chửa lành trong tia sáng nó, các con sẽ đi ra và vui mừng nhảy nhót như bò tơ được thả khỏi chuồng” (Ma-la-chi 4:2 BDM). Tạ ơn Chúa, ngày Chúa đến thật vui mừng phước hạnh biết bao.   

 Muc Su Nguyen Van Dai. 

  

 

  

Đăng bởi: nguoichanbay | 16/04/2010

BÀN CHẢI ÐÁNH RĂNG

 

Chưa cưới: Thoải mái!
– Chàng vui tính, độc thân, nên cây kem và bàn chải răng thay đổi xoàng xoạt.
– Nàng đãm đang, nhu mì, nên cây kem và bàn chải răng được dùng kỷ lưỡng.

                                                                    

                       

Sau ngày cưới: Thách thức!
– Chàng thức dậy, nặn kem, chải răng, rửa mặt như kiểu còn độc thân. Chuyện nhỏ!
– Nàng không vui vì cây kem “bị” chàng bóp ngang hông. Nàng muốn khi xử dụng phải nặn kem từ đáy lên và giữ cho hình dáng cây kem luôn luôn đẹp!
Thế là hai đứa giận nhau. Nàng làm thinh không nói. Chàng vò đầu, rức tóc, tự hỏi rằng: Sao chuyện bé xé cho to!?

Mấy ngày sau: Tình nờng!
– Chàng hạ mình xin lỗi. Có gì đâu, hy sinh một chút cho êm ấm gia đình!
– Nàng vui như đón tết. Mua cho hai đứa mỗi người một bàn chải xinh.
Chàng màu tím, nàng màu xanh lá cây. Mỗi ngày, nàng nặn kem cho hai đứa.

Ba năm sau: Hạnh phúc!    

Hai bàn chải tím và  xanh  lá bên nhau. Chen chính giữa  một bàn chải  thứ ba nho nhỏ màu hồng.  Nàng nặn kem cho cả ba mỗi   ngay.   .

Mười năm sau: Vất vả!
– Sáu cái bàn chải đủ màu, xếp ngay hàng thẳng lối nơi bàn rửa mặt.

Ba Mươi năm sau: Qui luật!
– Các màu khác ra đi tìm đôi. Chỉ còn lại hai bàn chải màu tím và xanh lá cây bên nhau.

Rồi một ngày trong cuộc đời, khi thức dậy, màu tím hay màu xanh lá, còn ai?

Ai còn để được nặn kem cho ai? 

Đăng bởi: nguoichanbay | 10/04/2010

BÀI TÌNH CA TRONG ĐÊM

 

Chàng, một thầy giáo nghèo phục vụ trong ngôi trường nhỏ miền ven đô.

Nàng, một thiếu nữ thuộc gia đình doanh nhân trong trung tâm thành phố.

Nàng yêu chàng không phải vì tiền tài, cũng không vì chàng điển trai hay ăn nói lịch thiệp.

Hai người yêu nhau là vì cùng chung một lý tưởng phục vụ.

Hai người cưới nhau trong cái nghèo dễ thương của thời hậu chiến: cặp nhẫn cưới, một dây chuyền thập tự và một bữa tiệc trà. Vậy là quá đầy đủ! Và quá vui khi Bà con, họ hàng, bạn bè. . . Ai ai cũng đến chúc mừng cho đôi bạn trẻ.

Hai năm sau, hai người có thêm đứa con bụ bẫm, kháo khỉnh và thật là đáng yêu. Họ sống trong một căn nhà mái ngói âm dương cũ kỷ, nhưng đời sống hôn nhân của họ thì rất hạnh phúc!

Mùa mưa đến, căn nhà cũ mái ngói bị dột lã tã nhiều nơi, ngay bên trên nơi chiếc giường ngủ của hai người cũng dột. Nhiều đêm mưa lớn, các nồi son, thau nhựa, thùng thiếc đều được trưng dụng để hứng nước, bày la liệt giống thế trận của một bàn cờ tướng vĩ đại được bày ra trong nhà.

 Nhưng còn trên giường ngủ thì sao? Cái khó ló cái khôn. Chàng bàn với nàng mua mấy mét ny-lon che trên chiếc mùng của giường ngủ. Thời hậu chiến làm gì có ny-lon chánh phẩm! Người ta nghiền những đồ nhựa gia dụng trước đây thành hạt, rồi đưa vào sản xuất một lần nữa. Những tấm ny-lon nầy được gọi là ny-lon tái sinh. Chàng mua tấm ny-lon màu xanh thật đẹp. Chàng và nàng cùng nhau cột bốn góc, rồi treo phía trên chiếc giường ngủ. Sáng kiến nhỏ nhoi, nhưng mang lại sự an tâm và hạnh phúc biết bao trong những đêm mưa gió! Chàng, nàng và bé có thể ngủ yên giấc, sáng ra thì chỉ việc múc nước đọng lại trên tấm ny-lon thì thật là “đơn giản như đang giởn”.

Nhưng vào một đêm, mưa gió thật nhiều, kéo dài đến gần sáng. Đang say giấc, bổng nghe một tiếng “xà aaaaa!”. Tấm ny-lon bị đứt dây vì nước đọng quá nhiều. Nước trút xuống làm sập mùng, khiến cho cả nhà tỉnh giấc. Đứa bé khóc ré lên. Người vợ ngồi bật dậy, vừa ôm con vào lòng vừa nói: “Con có sao không anh?”. Và cũng cùng lúc đó, người chồng hỏi: “Con có sao không em?” 

Hai vợ chồng cùng chung ý tưởng và nói ra một câu giống nhau như hai ca sĩ đang song ca, nhưng lời của bài ca nầy thì thật là “đặc biệt!” và dư âm bài ca làm rung động trái tim. Cả hai cùng bật “cười trong nước mắt”.

Sau bài tình ca trong đêm,  mưa đã tạnh. Trời sáng.

Đăng bởi: nguoichanbay | 06/04/2010

NHỮNG CON SƯ TỬ ÐÓI

Bé yêu ơi!

Bé có biết con thú hung dử nào được gọi là Chúa Sơn Lâm không?
Phải rồi, đó là con sư tử.

Con sư tử trông giống như con chó, nhưng nó rất mạnh, thật hung dử và to lớn hơn con chó nhiều lần. Dáng đi của nó oai phong với bốn chân to tướng, có mống vuốt cong quắp, nhọn hoắc, còn cái đuôi thì dài và chót đuôi có túm lông giống như cây cọ vẽ của các họa sĩ.  Ðầu nó to và miệng nó thật rộng với hàm răng nanh trắng hếu và nhọn hoắc, có thể cắn nát một con thỏ thật dễ dàng.

Vì vậy, các ông vua ngày xưa thường nuôi sư tử trong những hang động để hình phạt những người không vâng theo mạng lịnh của Vua. Khi một người bị ném vào hang, những con sư tử đói nầy sẽ gầm lên dữ tợn, rồi phóng tới cào cấu trên da thịt người ấy bằng những móng vuốt nhọn, máu phọt ra đỏ ối, trông thật là kinh khiếp! Trước khi ăn thịt, sư tử cắn xé người ấy ra cho đến chết.
Thế mà có một người kia bị ném vào hang sư tử, nhưng những con sư tử đói đã không làm hại được ông, vì ông là một người con của Chúa. Người ấy tên là Ða-ni-ên.

Ông Ða-ni-ên là người tốt và rất yêu mến Chúa. Vì trung tín cầu nguyện với Chúa ba lần mỗi ngày, nên những người không tin Chúa ghét ông. Họ tìm mưu hãm hại và liệng ông vào hang sư tử.

Nhưng trong hang sư tử,  ông Đa-ni-ên vẫn cầu nguyện và Chúa đã bịt mồm sư tử nên nó không làm hại được ông. Qua ngày sau, Đa-ni-ên ra khỏi hang sư tử và được an toàn.


Cũng giống như vậy, khi bé trung tín cầu nguyện, Chúa cũng sẽ gìn giữ bé trong mọi nguy hiểm, vì chúng ta là con của Chúa, như Ông Đa-ni-ên.

Đăng bởi: nguoichanbay | 30/03/2010

SỐNG CHUNG

 

 

  

 

 

 

Tôi đã được nghe kể lại một câu chuyện thật cảm động trong chiến tranh như sau.

 Tiếng chuông điện thoại reo, người phụ nữ nhắc máy và nói: “A lô!”

–        Thưa mẹ, con đây.

–        Ôi! Ryan hả? Con gọi từ Irak hả? Sao mấy tháng rồi con không gọi về?

 Một chút ngập ngừng, xúc động:

–        Dạ! Hôm nay con mới gọi được cho mẹ. Mẹ ơi! con đã được trở về. . .

–        Ba mẹ mừng quá! Chừng nào con về đến nhà?

–        Dạ! Ngày mai. Nhưng mẹ ơi! Con có thể đem một người bạn về ở chung không? Anh ấy là một thương binh. Anh ấy đã hy sinh một chân và một cánh tay trong cuộc chiến . . .

 Người mẹ hoảng hốt ngắt lời:

–        Không được đâu con! Làm sao một người tàn tật như vậy sống chung trong nhà chúng ta được? Anh ấy có thể về chơi một vài ngày . . . Tiếng máy điện thoại đầu dây bên kia gác xuống. Tắc nghẽn!

 Ryan đã không về nhà. Không phải bạn của Ryan nhưng chính anh ấy là thương binh.

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 29/03/2010

THỜI GIAN CHÚA CHỊU CHẾT

 

Phải chăng Các Sách Phúc Âm tường thuật trái ngược nhau về thời gian Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá? Và làm thế nào cho rằng Chúa Giê-su  nằm trong thạch mộ ba ngày đêm, trong khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá vào chiều ngày thứ sáu và sống lại vào sáng sớm ngày Chúa nhật?

1.THỜI GIAN CHÚA BỊ ĐÓNG ĐINH.

Một trong những điểm thường bị xem là trái ngược nhau liên quan đến sự bất đồng giữa sách Phúc Âm Mác và sách Phúc Âm Giăng về thời gian Chúa Giê-su chịu đóng đinh trên thập tự giá.

Mác 15:25 thuật rằng: “Lúc đóng đinh Ngài là giờ thứ ba”, còn ở Giăng 19:14 chúng ta đọc thấy: “Vả, bấy giờ  là ngày sắm sửa về lễ Vượt qua, độ chừng giờ thứ sáu. Phi-lát nói cùng Dân Giu-đa rằng: Vua các ngươi kia kìa!”.

Điều nầy quả thực gây khó khăn, vì Mác kể lại Chúa Giê-su bị đóng đinh trên cây thập tự vào giờ thứ ba theo cách tính của Người Do-thái (hay chín giờ sáng của chúng ta). Còn Giăng thì kể rằng Chúa Giê-su đứng trước Tổng Đốc Phi-lát vào khoảng giờ thứ sáu (hay 12 giờ trưa của chúng ta).

Nhiều người cho rằng sự bất đồng nầy không thể hòa giải được, một số người khác thì bảo rằng sự khác nhau giữa hai tường thuật về thời gian thương khó của Chúa Giê-su là do nhầm lẫn trong quá trình sao chép lại nguyên bản lúc ban đầu. Về hai quan điểm vừa nêu, chúng ta không thể tán thành hay chấp nhận được quan điểm nào cả.

Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu chúng ta có thể chấp nhận hai giải đáp hợp lý sau đây:

Một giải đáp tập trung vào từ ngữ “lối chừng giờ…” ở tường thuật của Giăng về thời gian. Tác giả cho thấy rằng không đích xác là giờ thứ sáu, nhưng chỉ là “lối chừng” thời gian nầy.

Cũng vậy, tường thuật của Mác không bắt buộc chúng ta tin đích xác là 9 giờ sáng khi Chúa bị đóng đinh trên thập tự giá. Nó phải được du di đê hiểu là khoảng. . .  Điều nầy có thể xem xét được nếu ta hiểu cách thức Kinh Thánh Tân Ước tính thời gian.

Đêm được chia làm 4 canh, mỗi canh gồm 3 tiếng đồng hồ (xem Mác 13:35), và ngày được chia thành buổi ở mức độ nào đó cũng tương tự. Nhờ vậy, chúng ta có thể hình dung rằng tường thuật của Mác về “giờ thứ ba” chỉ có nghĩa khi Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá là suốt giờ thứ ba của người Do thái (tức là 9 giờ sáng đến 12 giờ trưa). Còn Giăng thì kể rằng cuộc xử án kết thúc “lối” giờ thứ sáu của Người Do Thái (tức 12 giờ trưa).

Như thế, nếu việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá đã diễn ra giữa 9giờ và 12 giờ trưa, thì có lẽ Mác đã đặt sự việc vào đầu buổi (9giờ) còn Giăng đặt sự việc vào cuối buổi (12 giờ trưa) chứ chẳng có điều gì bất đồng hay mâu thuẩn cả. Nếu sự kiện Chúa chịu đóng đinh trên thập tự giá đã xảy ra vào khoảng giữa 9 giờ và 12 giờ, thì chuyện rất tự nhiên là một người thì nhắc đến lúc 9 giờ, còn người kia thì nhắc đến lúc 12 giờ!

Khi quan sát mặt trời lên cao trên trời, đó là dấu chỉ về thời gian trong ngày, thời điểm nầy cho biết là trước nửa ngày hay sau nửa ngày. Thật ra, chúng ta  nhận biết mặt trời lưng chừng giữa chính ngọ hay sắp lặn ở cuối chân trời thì dễ, nhưng phân biệt rạch ròi về thời gian thì không dễ, nếu không có đồng hồ để xem, để xác định. Vả lại, đồng hồ không phải ở đâu cũng có, nhất là trong thế kỷ đầu tiên làm gì có đồng hồ cho sứ đồ Giăng và  Mác!  (*1)

Một điều khác có thể thấy được là Giăng đã sử dụng một phương pháp tính thời gian khác Mác. Nhờ các sử gia Plutarch, Pliny, Aulus Gellius và Macrobius, chúng ta biết rằng Người La-mã tính ngày kể từ nửa đêm nầy sang nữa đêm kia,  như cách chúng ta tính ngày nay.

Thế thì, giờ thứ sáu của Giăng phải là 6 giờ sáng. Đây hẳn là thời gian của phiên xử cuối cùng của Chúa Giê-su và cũng là thời gian mà Ngài bị tuyên án, thời gian nầy phù hợp những chi tiết dẫn đến việc Chúa bị đóng đinh, mà ở sách Mác thì xảy ra vào 9 giờ sáng hoặc sau đó.

Ta có chứng cứ hiển nhiên rằng Giăng đã sử dụng phép tính thời gian như trên. Trong Thánh Kinh, việc các tác giả khác nhau sử dụng những phương pháp tính thời gian và xác định ngày tháng khác nhau, chẳng phải là điều gì mâu thuẩn hay lạ lùng gì cả!

Trong Cựu ước, các tác giả thường có thói quen ghi những ngày tháng quan trọng theo hệ thống lịch của nước mà họ đang phục vụ vào lúc đó, thời đó. Chẳng hạn, ở Giê-rê-mi 25:1 và 46:2, thời gian được tính theo lịch Palestine, còn ở Đa-ni-ên 1:1, cùng năm đó, ngày tháng được tính theo lịch Ba-by-lôn.

Một ví dụ khác trong Kinh Thánh Tân Ước là Giăng 20:19. Buổi chiều ngày Chúa Giê-su sống lại từ trong kẻ chết, được coi là một phần của ngày hôm ấy. Bên ngoài, xem ra Giăng không tính theo thời gian của người Do Thái. Theo hệ thống tính thời gian của người Do thái, buổi chiều nói đây là phần thời gian của ngày thứ hai, và theo người Do-thái thì đó là ngày thứ nhất trong tuần, vì ngày của người Do-thái bắt đầu lúc mặt trời lặn.

Cùng với nhân tố đã nói trên cho thấy rằng điểm mâu thuẩn của hai đoạn văn nầy không phải là không thể giải quyết được, cũng không phải là không thể giải thích thỏa đáng nếu có thắc mắc nào đặt ra. (*2).

2.THỜI GIAN CHÚA SỐNG LẠI

Bàn về sự kiện từ khi Chúa chịu chết, được chôn trong thạch mộ và sau đó Ngài sống lại, thì thời gian là bao lâu? Có phải là ba ngày không, theo như lời Kinh thánh?

Trước hết, chúng ta nhớ Chúa Giê-su đã nói tiên tri về sự chết của Ngài: “Vì Giô-na đã ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm. Cũng một thể ấy, Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm” (Ma-thi-ơ 12:40).

Các tường thuật về sự chết và sống lại của Chúa Giê-su được ghi trong các sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng cho thấy rằng Chúa Giê-su đã bị đóng đinh trên thập tự giá và đã được chôn trong thạch mộ vào ngày thứ sáu, trước lúc mặt trời lặn, tức là khởi đầu của Ngày kế tiếp đối với Người Do Thái, và đã sống lại vào ngày thứ nhất trong tuần, tức là ngày Chúa nhật của chúng ta, trước lúc mặt trời mọc.

Điều nầy có nghĩa là Chúa Giê-su đã ở trong mồ một phần ngày thứ sáu, cả ngày sa-bát (tức thứ bảy) và một phần ngày thứ nhất trong tuần lễ của Người Do Thái (tức là ngày Chúa nhật của chúng ta). Nói một cách khác, là Ngài đã ở trong thạch mộ hai đêm, một ngày trọn và một phần của hai ngày. Vì lẽ đây chẳng phải là ba ngày tròn, tính theo 24 giờ một ngày, nên chúng ta có vấn đề thắc mắc với lời tiên tri của Chúa Giê-su trong Ma-thi-ơ 12:40.

Trong Mác 8:31 và Ma-thi-ơ 16:21, Chúa Giê-su phán: “Con Người sẽ sống lại sau  ba ngày”, và “Ngài sẽ sống lại ngày thứ ba” – Các đặc ngữ nầy vốn được dùng thay lẫn nhau. Người ta có thể thấy điều nầy từ sự kiện đa số các khúc kinh văn quy chiếu về biến cố phục sinh đều đã nói rằng biến cố nầy đã xảy ra vào ngày thứ ba.

Hơn nữa, trong Ma-thi-ơ 12:40 và Giăng 2:19-22, khi nói về việc Ngài sống lại, Chúa Giê-su cũng tuyên bố rằng Ngài sẽ sống lại trong ba ngày, chứ không phải là ngày thứ tư.

Ma-thi-ơ 27:63 củng cố cho cách dùng đặc ngữ Do thái. Sau khi Người Pha-ri-si nói cho Tổng Đốc Phi-lát biết về lời báo trước của Chúa Giê-su: “Sau ba ngày ta sẽ sống lại”, họ xin lính gác để bảo vệ mộ an toàn cho đến ngày thứ ba.

Nếu cụm từ “sau ba ngày” không thể hoán chuyển với “ngày thứ ba”, thì người Pha-ri-si hẳn đã xin lính canh mộ đến ngày thứ tư.

Thuật ngữ “một ngày và một đêm” là một đặc ngữ được Người Do-thái dùng để chỉ một ngày, thậm chí đôi khi người ta chỉ nói đến một phần của ngày mà thôi. Thuật ngữ nầy có thể tìm thấy trong Kinh Thánh Cựu Ước.

Chẳng hạn, I Sa-mu-ên 30:12-13 “Vì trong ba ngày đêm, người không ăn không uống chi hết”, và trong câu tiếp theo “Chủ tôi bỏ tôi đã ba ngày rồi”.

Sách Sáng thế Ký 42:17 cũng cho thấy cách dùng đặc ngữ nầy khá rõ: “Giô-sép truyền đem giam họ trong ngục ba ngày” ; ở câu 18 “Ngày thứ ba” Giô-sép nói chuyện với họ và thả họ ra.

Các cụm từ “sau ba ngày” và “ngày thứ ba” không trái nghịch nhau hoặc trái nghịch với Ma-thi-ơ 12:40, mà chỉ là những đặc ngữ có thể hoán chuyển cho nhau được, nên các tác giả Phúc Âm đã sử dụng trong tác phẩm của mình. Đây là một lối nói khá phổ biến rộng rãi trong văn hóa người Do-thái vậy.(*3).

Tham khảo:

 

(*1)  W.Robertson Nicoll, “The Expositor’s Greek Testarment” , Eerdman, 1951.

(*2)  W.F.Arnt, “Does the Bible Contradict  Itsell?”  Concordia Press, 5th Ed.revised,  1955.

(*3)  Harold Hoehner, “Chronological Aspects of the life of  Christ” , Zondervan, 1977.

Đăng bởi: nguoichanbay | 27/03/2010

VỮNG TÂM KHI CHỊU KHỔ

Kinh Thánh :
 II Tê-sa-lô-ni-ca 1:1-12
  
Câu Chìa Khoá:  
“Vả, theo sự công bình Ðức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em, và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi.”     
II Tê-sa-lô-ni-ca 1:6-7a

      

Trên một chuyến tàu hoả, trong một buồng nhỏ của toa hành khách có hai người ngồi nói chuyện cùng nhau. Người lớn tuổi là  mục sư và người trẻ tuổi là một tín hữu. Họ mới gặp nhau lần đầu và làm quen sau vài câu chuyện xã giao. Rồi người thanh niên tâm sự  về đời sống nhiều khó khăn và hoạn nạn của mình. Anh ấy chán nãn và nói rằng anh ta không thể nào giữ cho đời sống mình đứng vững trong đức tin quá một tuần. Nghe vậy, Vị mục sư lấy trong cặp mình ra một quyển Kinh thánh và một con dao xếp dùng để rọc giấy và nói:
– “Anh hãy xem đây, mặc dù xe lửa đang bị lúc lắc, tôi sẽ làm cho con dao xếp này đứng thẳng vững vàng trên bìa của quyển kinh thánh.” Anh thanh niên nghĩ rằng đây là một trò ảo thuật hay một mánh lới nào đó nên chú tâm một cách thích thú , anh nói:
-“Em nghĩ rằng điều này không dễ dàng chút nào!” Mục sư cầm con dao thẳng đứng trong tay,  vừa đặt trên bìa quyển kinh thánh, vừa nói:“Nhưng mà, tôi đang làm đây!”
 Chàng thanh niên thất vọng nói: “Ồ! Tại vì mục sư giữ nó trong tay mà!”.
 “Dĩ nhiên rồi, anh có thấy con dao nào tự nó đứng khơi-khơi một mình, nếu không được cầm giữ trong khi xe lửa lúc lắc đâu!?”, rồi  Mục sư nói tiếp “và chúng ta trong cuộc đời này cũng giống như cũng vậy.”
    

 Cách ứng xữ của mổi người trước hoạn nạn cho thấy niềm tin của họ như thế nào. Cay đắng và đau đớn trong thử thách, khiến con người không tin cậy Ðức Chúa Trời là Ðấng sáng tạo và bảo tồn muôn vật. Khi quá hay thất vọng và buồn thảm trước sự mất mát, bất công trong cuộc sống, người ta nói “Không có Ðức Chúa Trời, nếu có tại sao có sự bất công và người làm ác tồn tại và thạnh vượng!?” Là Tín nhân, chúng ta phải luôn tin cậy rằng “Ðức Chúa Trời luôn nắm giữ tương lai tôi”, cho dù có thử thách, hoạn nạn, sóng gió trong đời. Từ nền tảng đó, trước những sự việc không hiểu rõ được, dường như bất công, thiệt thòi xãy ra, thì Tín nhân cứ vững tâm vì tin rằng  Ðức Chúa Trời là Ðấng Công Minh, Ngài sẽ đối xữ công bằng cho chúng ta.
Làm thế nào để chúng ta vững tâm trong nghịch cảnh? Phao-lô đã trang bị cho Tín nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca những bí quyết để giúp họ tăng trưởng đức tin. Có ba điều chúng ta cần phải nhận biết:
    

I.Chúa Ðang Hành Động Trong Tôi. (II Tê-sa-lô-ni-ca  1:1-4) 
 

 Ngoài lời giới thiệu và chúc phước đầu thư,  như cách viết thường thấy trong  thế kỷ đầu tiên, Sứ đồ Phao-lô tiếp tục bức thư thứ hai gửi cho Tín nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca bằng lời cầu nguyện thật chân thành (c1-2).
  Ông khích lệ họ rằng: Ðối với Chúa, ông luôn cảm tạ Chúa vì đức tin tăng trưởng và tình yêu thương của họ đã được gia tăng thực hiện trong đời sống (c3). Ðối với Hội thánh của Chúa ở khắp nơi, thì ông hãnh diện vì lòng kiên trì và đức tin chịu đựng  hoạn nạn,  trong sự bắt bớ  mà họ đã trãi qua và đang gánh chịu (c4).
    

Khi đưa ra những lời này, Phao-lô muốn họ nhìn lại diễn biến trong  quá khứ, để nhận biết Chúa đã và đang hành động trong đời sống của họ. Tại sao trong bắt bớ hoạn nạn họ không ngã lòng, thối chí? Làm thế nào họ đứng vững, kiên trì trong đức tin trước những bất công, mất mát hay đau khổ? Ðộng lực nào giúp họ thể hiện tình thương trong nghịch cảnh?  Phao-lô đã gọi họ là “Hội thánh Tê-sa-lô-ni-ca, là Hội thánh ở trong  Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta , và ở trong Ðức Chúa Jêsus Christ, là Chúa”(c1)  Lời giải đáp chính là “chúng ta ở trong Chúa”. Chúa Jêsus từng phán: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh. Ai cứ ở trong ta và ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài ta, các ngươi chẳng làm chi được.” (Giăng 15:5). Ở trong Chúa giống như chúng ta đang sống trong bầu khí quyển, và Chúa ở trong ta giống như ta đang hít không khí trong lành vào buồng phổi của ta. Ðiều đó mang lại sự số và sức sống mới. Ðời sống thuộc linh cũng như vậy. Ý thức Chúa đang hiện diện và hành động trong đời sống, chúng ta sẽ có được sức sống thuộc linh  mạnh mẽ và an tâm trước nghịch cảnh.    

II.Chúa Sẽ Doan Xet Cong Minh Cho Tôi trong Tuong Lai  (II Tês 1:5-10)
  

Ðiều thứ hai mà Phao-lô muốn chúng ta nhận biết, ấy là, trong khi sống giữa hoàn cảnh tăm tối hiện tại chúng ta nhận biết Chúa sẽ làm điều gì cho chúng ta trong tương lai? Phao-lô bày tỏ:  
  
1) Theo sự công minh của Chúa, sự hoạn nạn hiện nay là bằng chứng vững chắc để chúng ta nhận phước hạnh trong Vương quốc Ðức Chúa Trời trong tương lai(c5), được bước vào sự nghỉ ngơi phước hạnh khi Chúa “hiện đến”, trong sự tái lâm (c7).
 
“Ðó đủ chứng cớ về sự đoán xét công bình của Ðức Chúa Trời, Ngài muốn khiến anh em nên xứng đáng cho nước Ngài, là vì nước đó mà anh em chịu khổ.  6 Vả, theo sự công bình Ðức Chúa Trời, thì ắt là Ngài lấy điều khổ báo cho những kẻ làm khổ anh em,  7 và cho anh em, là kẻ chịu khổ, được nghỉ ngơi với chúng tôi, trong khi Ðức Chúa Jêsus từ trời hiện đến với các thiên sứ của quyền phép Ngài, giữa ngọn lửa hừng,  8 báo thù những kẻ chẳng hề nhận biết Ðức Chúa Trời, và không vâng phục Tin Lành của Ðức Chúa Jêsus Christ chúng ta.  9 Họ sẽ bị hình phạt hư mất đời đời, xa cách mặt Chúa và sự vinh hiển của quyền phép Ngài”
 (II Tês 1:5-9)  
Phao-lô cũng từng nói với Tín nhân tại thành Rô-ma về ý này (Rô-ma 8:17-18). Nhận biết sự đau đớn hiện nay chúng ta đồng chịu với Chúa, chính là bằng chứng cho chúng ta đồng được vinh hiển với Chúa trong tương lai.
  
2) Theo sự công minh của Chúa, Chúa sẽ lấy hoạn nạn báo trả những kẻ gây hoạn nạn cho Con Dân của Chúa (c6), Họ sẽ bị huỷ diệt đời đời (c9) bằng hình phạt trong ngọn lửa  hừng (c7b). Ðôi khi, vì bị đau đớn hoặc tổn thương quá nhiều, chúng ta muốn trả thù, nhưng Chúa không cho phép chúng ta làm điều đó. Chúng ta phải nhận biết rằng “sự báo trã” thuộc về Chúa, Ngài sẽ thực hiện theo bản tánh Công Minh của Ngài ( Thi thiên 54:5; 94:1; Rô-ma 12:19).
  
Người xưa có nói: “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” nghĩa là “Ðiều thiện, điều ác cũng có ngày báo trã” (Minh Tâm Bửu Giám, Thiên Kế Thiện). Chúa dạy chúng ta chớ trã thù (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:15). Nhận biết Chúa là Ðấng Chí Công, Ngài sẽ báo trả cho chúng ta trong ngày phán xét, thì chúng ta an tâm trước những thử thách hiện nay.
  
3) Theo sự công minh của Chúa, những người không chịu tin nhận Ðức Chúa Trời, những kẻ không vâng phục Tin lành cứu rỗi, họ sẽ bị hình phạt, bị huỷ diệt đời đời, bị phân cách khỏi sự hiện diện và quyền năng vinh quang của Chúa mãi mãi (c9).
  
Mạnh Tử nói rằng “Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” có nghĩa là “Thuận theo Trời thì còn, trái với trời thì mất”. Khi nhận biết trong ngày phán xét, những người từ chối Tin lành và không tin nhận Chúa Cứu Thế Jêsus sẽ bị hư mất đời đời , thì chúng ta sẽ an tâm và trung tín phục vụ Chúa trong mọi hoàn cảnh. Vì phần thưởng của người trung tín là mão triều thiên của sự sống đời đời (Gia-cơ 1:12)
  
III.Chúa Muốn Thuc Hien Ðiều Gì Qua Tôi (II Tês 1:11-12)

Tạ ơn Chúa, vì Chúa đang hành động trong tôi hiện nay, Chúa sẽ làm những điều công bằng cho tôi trong tương lai, vậy Chúa muốn tôi làm điều gì cho Chúa bây giờ? Ðó là điều mà Phao-lô cầu nguyện và nêu ra ở phân đoạn Kinh thánh này. “Cho nên chúng tôi luôn luôn cầu nguyện cho anh chị em để Ðức Chúa Trời của chúng ta làm cho anh chị em được xứng đáng với ơn kêu gọi của Ngài, và nhờ năng lực Ngài:
(1) hoàn tất mọi ước vọng tốt lành, cũng như
 (2)  hoàn tất công việc xuất phát từ đức tin.”(c11.BDM).
 
Phao-lô mong ước Chúa sẽ làm qua Tín nhân Tê-sa-lô-ni-ca nhiều hơn nữa để Danh Ngài được vinh hiển (c12). Bí quyết thành công một lần nữa được đề cập trong câu 12:  Năng lực phục vụ là “…Chúa trong anh em, và anh em trong Ngài”. Một thanh sắt thô không làm được gì! Nhưng khi bỏ sắt vào lửa một thời gian, người ta mang ra khỏi lò thì nó là một thanh sắt nóng và rực lửa. Nó có thể làm cháy bất cứ vật gì xung quanh. Tại sao? Tại vì lửa đã ở trong sắt. Chúng ta ở trong Chúa và Chúa ở trong chúng ta cũng giống như thế. Ngoài Chúa chúng ta vô dụng, nhưng chúng ta có được năng lực hầu việc Chúa là nhờ Chúa ở cùng chúng ta. Phao-lô từng nói với Hội thánh tại thành Phi-líp rằng “Tôi làm được mọi sự, nhờ Chúa ban thêm sức cho tôi” (Phi-líp 4:13).

  

 

 Sau hết, chúng ta đọc câu 10 (là câu dường như đã bị bỏ qua trong các phần trên). Ðây là câu quan trọng vô cùng. Phao-lô nói: “ Vào ngày ấy, khi Ngài đến để được tôn vinh giữa các thánh và được chiêm ngưỡng giữa mọi người đã tin; mà anh chị em là những người trong số đó, vì anh chị em đã tin lời chứng của chúng tôi” (c10.BDM).  
“Ngày ấy” là ngày tái lâm của Chúa. Chúa đã đến thế gian này lần thứ nhất để thực hiện nhiệm mạng Cứu Chúa, thi hành sự cứu chuộc cho chúng ta; ngày kia, Chúa sẽ trở lại thế gian này lần thứ hai để trực tiếp đón rước chúng ta vào Vương Quốc của Ngài. Ðó là ngày vinh quang của sự tái lâm. Chúa được tôn vinh giữa các thánh đồ và được chiêm ngưỡng giữa mọi người tin, mà chúng ta là những người trong số đó. Ha-lê-lu-gia! Cảm tạ ơn Chúa.  
 
Có một Mục sư được mời đi giảng tại một thành phố khá xa nơi ông đang sinh sống. Theo hẹn trước, ông đến một trạm dừng xe, đứng ở đó với một chiếc va-ly chờ người đến đón. Một chiếc xe hơi chạy đến và người tài xế hỏi:
– “Ong  có phải là Mục sư Nguyen không?”, “Ðúng,” Mục sư đáp lại. Ngay sau đó, hành lý của ông được đưa vào xe và ngay lập tức chiếc xe chạy đi. Ông mục sư đứng ở trạm, bối rối, tự hỏi không biết phải làm gì đây. . . thì một chiếc xe hơi thật đẹp chạy đến và ngừng lại bên cạnh ông.
 – “Có phải ông là Mục sư Hà không?”  Ông Chấp sự vui cười hỏi.
 – “Ðúng, nhưng có một người khác vừa hỏi tôi điều đó và đã chạy mất cùng với hành lý của tôi”.
– “Ồ! Mục sư an tâm, anh ấy là người giúp việc của tôi. Tôi sai anh ấy đến sớm để mang giúp mục sư hành lý, nhưng đích thân tôi phải đến để đón mục sư về.”
   
Bạn thân mến, không phải Thiên sứ được sai phái, nhưng chính Chúa Giê-su sẽ đích thân đến đón tiếp chúng ta vào Vương quốc của Ngài. Ðó là ngày Chúa được tôn vinh giữa các thánh và được chiêm ngưỡng giữa những người Tín nhân. Sứ đồ Phao-lô khẳng định “ và anh chị em là những người trong số đó. Khi ý thức được điều kỳ diệu mà Kinh thánh đã bày tỏ cho chúng ta, chúng ta vững  tâm trong nghịch cảnh, chờ đợi sự báo trả công minh của Chúa và “nhờ năng lực Ngài  quyết tâm  hoàn tất mọi ước vọng tốt lành, cũng như công việc xuất phát từ đức tin, . . để được xứng đáng với ơn kêu gọi của Ngài (c11). Amen.  

Mục sư Nguyễn Văn Ðại.   

   

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/03/2010

THOÁT

Một trong những Sự kiện Quốc Tế nổi bật trong năm 2009 đã được báo chí Đông Tây bình luận, đó là Sứ Mạng Nhân Đạo của Cựu Tổng Thống Bill Clinton. Ông đã đến Bắc Triều Tiên vào ngày 5 tháng 8 để thương thảo và giải thoát cho hai nữ phóng viên người Mỹ gốc Hoa, có tên là Laura Ling và Euna Lee.
  
 
 Hai phóng viên nầy bị bắt vào tháng 3/2009 đang khi quay phóng sự ở biên giới Bắc Triều Tiên – Trung Quốc. Họ bị buộc tội xâm nhập lãnh thổ trái phép và lãnh án 12 năm lao động cải tạo. Cuộc thương thảo diễn ra tại Bình Nhưỡng, giữa Cựu Tổng Thống Bill Clinton và Chủ Tịch Kim Jong Il kéo dài 75 phút và sau đó cùng dùng dạ tiệc kéo dài hơn hai tiếng đồng hồ, tổng cộng thời gian họ nói chuyện với nhau là khoảng 3 giờ 15 phút. Kết quả là hai nữ phóng viên được trã tự do, trở về đoàn tụ với gia đình tại Hoa Kỳ.
  
Tổng Thống đương nhiệm Obama đã ngõ lời tại Nhà Trắng một cách nồng nhiệt rằng: “Tôi muốn cảm ơn Cựu Tổng Thống Bill Clinton, tôi đã có dịp trò chuyện với ông về sứ mạng nhân đạo tuyệt vời nầy, sứ mạng đã mang lại tự do cho hai nhà báo.”

 Bạn Đọc thân mến, khi đọc những dòng sự kiện nầy đã khiến tôi liên tưởng đến một Sứ Mệnh Giải Thoát Hi Hữu, vô tiền khoáng hậu và độc nhất vô nhị do Chúa Cứu Thế Giê-su thực hiện cho toàn thể nhân loại. Thánh Kinh-Lời Mặc Khải ghi lại rằng: “Đức Chúa Trời giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm của Sa-tan, chuyển chúng ta qua Nước của Con Yêu Dấu. Chính Con Ngài đã dùng máu mình cứu chuộc chúng ta và tha thứ tội lỗi chúng ta”. (Cô-lô-se 1:13-14)“Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta, cho chúng ta được tự do” (Ga-la-ti 5:1). Sứ mệnh này không chỉ là “Nhân Đạo” mà quan trọng hơn nữa chính là Sứ Mệnh “Thiên Đạo”, bởi chính Thiên Chúa đã hành động để giải cứu nhân loại, trong đó có Bạn và tôi.     

Tại sao nhân loại cần được giải cứu?  

Như Lời Mặc Khải đã bày tỏ “Đức Chúa Trời giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm của Sa-tan”. Chỉ có Thánh Kinh mới nêu ra cho chúng ta lời giải đáp tỏ tường nhất, ấy là con người bị nô lệ dưới quyền lực tối tăm của Sa-tan. Con Người là tạo vật sau cùng và tối linh trong chu trình sáng tạo vũ trụ kỳ diệu nầy. Mục đích của Đức Chúa Trời tạo dựng con người là để quản trị muôn vật. Đức Chúa Trời cũng đã ban cho A-đam và Ê-va – con người đầu tiên trên địa cầu nầy đặc quyền tự do trong cuộc sống. Với quyền tự do đó, con người chịu trách nhiệm trên hành động tự do của mình. Thần học gọi là quyền tự nhiệm. Con người có sự tự do và vui sống. Con người – cười ngon. Làm con người nên được cười ngon, ăn ngon, ngủ ngon trong sự tự do Chúa ban cho mình. A-đam và Ê-va được ban cho quyền tự do ăn các cây trái trong vườn Ê-đen phước hạnh và được quản trị muôn loài vạn vật. Để thử nghiệm quyền tự nhiệm của con người trong sự vâng phục Chúa, Chúa đã truyền mạng lệnh “Con được tự do ăn các cây trái trong vườn, nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai con ăn, chắc sẽ chết”. 

  

Nhưng thực là tiếc, đến nỗi thiệt là tức, vì con người đã đánh mất sự tự do đó bởi đã bất tuân mạng lệnh Đức Chúa Trời. Sa-tan lấy hình ảnh con rắn cám dỗ Con Người phạm tội. Con người đã phạm tội nên không còn cười ngon nữa. Cười ngon – còn ngươi? Còn ngươi, thì sao? A-đam! Ngươi ở đâu? Khi Chúa hỏi thì A-đam trã lời rằng: “Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ quá nên đi trốn”. Cảm giác tội lỗi khiến cho con người sợ hãi. Cũng chính từ đó, con người đầu tiên và cả dòng dõi con người mãi hoài sống trong quyền lực tối tăm của Sa-tan. Thánh Kinh khẳng định“Vì mọi người đều đã phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang của Đức Chúa Trời” , “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” Hậu quả của tội lỗi không chỉ là sự sợ hãi mà thôi, nhưng chính là sợ sự chết. Dưới quyền lực tối tăm của Sa-tan, bóng dáng tử thần và lưỡi hái của sự chết đang chế ngự và hiện hữu khắp cả nhân loại, tự cổ chí kim và trở nên vấn đề sinh tử của nhân loại, của bạn và tôi. 

  

     Mục sư Tiến sĩ Trịnh Văn Khánh có đề cập đến câu chuyện của Văn Hào Somerset Maugham như sau: “Thần chết kể: Có một thương gia ở Baghdad sai đứa đầy tớ đi chợ. Anh ta đi chốc lát bỗng chạy về kinh sợ nói rằng: ‘Thưa ông chủ, con ra chợ bị lấn và khi xoay lại thì gặp thần chết. Thần chết nhìn con ra vẻ hăm doạ. Giờ con xin ông cho con mượn ngựa để chạy tới thành Samarra hầu thoát tử thần.’ Ông thương gia bèn cho mượn ngựa, và đầy tớ vội vã quất ngựa truy phong. Rồi ông thương gia đi ra chợ gặp ta (Than Chet) và hỏi ‘Tại sao thần chết lại ra vẻ hăm dọa đầy tớ tôi sáng nay?’ Thần chết trả lời: ‘Đó không phải là hăm dọa, ta chỉ ngạc nhiên rằng đã gặp anh ta ở Baghdad, vì ta có hẹn với anh ta tối nay tại thành Samarra.” Qua câu chuyện này, Mục sư Tiến sĩ Trịnh Văn Khánh cho rằng tất cả mọi người đều ở dưới sự ảnh hưởng của số mệnh, và không một ai có thể tự mình giải thoát ra khỏi sự chết. Thật đúng như người xưa đã dạy: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” tạm dịch là “Lưới Trời lồng lộng tuy thưa mà chẳng lọt”, ý là không thể thoát được lưới Trời. Lại nữa, có câu “Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, Cao phi viễn tẩu giả nan tàng” tạm dịch là “Điều thiện, điều ác cuối cùng cũng được báo ứng, dù cao bay xa chạy cũng khó mà trốn thoát được. Thánh Kinh chép rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần và chịu phán xét”(Hê-bơ-rơ 9:27).  

Cho nên, Con người đã nỗ lực đi tìm con đường giải thoát.

  

Con người từ xa xưa luôn sợ hãi sự chết và khát khao được giải thoát khỏi quyền lực của sự chết. Vua Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa cho người lên rừng xuống biển, cố tìm phương thuốc“Cải lão hoàn đồng” với mong ước được“trường sinh bất tử”, nhưng rồi Vua Tần cũng phải chết! A-lịch-Sơn Đại Đế của Hi-lạp hỏi Triết Gia Diogenes, khi thấy ông quan sát một bộ xương rất kỷ và được trã lời: “Thưa Đại Đế, Thần không thấy bộ xương của Hoàng Đế Phi-líp, Phụ thân của bệ hạ khác với bộ xương của Người Nô lệ một tí nào”. Từ Vua Chúa, Quan quyền đến Thường nhân, Dân dã, tất cả đều phải chịu dưới quyền lực của tử thần. Các Bậc Thánh nhân, Hiền Triết từ xưa đã chủ trương biết bao phương cách tu trì, ăn chay, tu thân, ép xác. . . mong được giải thoát tâm linh khỏi quyền lực tối tăm của tội lỗi. Nhưng cuối cùng, người xưa đã dạy rằng: “Chung thân hành thiện, thiện do bất túc. Nhất nhật hành ác, ác tự hữu dư”tạm dịch là “Suốt một đời làm điều thiện, điều thiện vẫn không đủ. Một ngày làm điều ác, thì điều ác tự đã dư thừa”. Đúng như Thánh Kinh tuyên phán rằng: “Chẳng có một người công chính, dù chỉ một người thôi. Chẳng có ai hiểu biết Đức Chúa Trời. Không ai tìm kiếm Ngài. Mọi người đều trở mặt, đi vào đường lầm lạc. Chẳng một ai làm lành, dù một người cũng không”  

  

Thật vậy, vì phạm tội với Đức Chúa Trời nên “con người đã trở mặt, đi vào con đường lầm lạc”. Sự lầm lạc nầy không thuộc lãnh vực địa lý mà chính là sự lạc lối tâm linh. Như Triết gia Phạm Công Thiện, người đã dịch tác phẩm “Đường Đi Trong Rừng” của Triết gia Martin Heidegger viết vào năm 1950 về Bản Thể Luận: Tồn tại và Hiện Hữu, đã nói: “Rồi khi gia nhập cuộc chơi, bàng hoàng đi trong gió thổi thu bay, có lúc trong thiên ma bách chiết của miệt mài tư tưởng dằn vặt về tồn sinh bế tắc đã lạc lối ra, người phải ngậm ngùi mà sống mà hoàn tất bổn phận” . Phạm Công Thiện đã nhắc lại thay lời Nietzsche là “lên đường đi đến hố thẳm, một cách rộng lượng và không hy vọng”. Theo quan niệm của Heidegger hay Nietzsche và đặc biệt của Triết Gia Phạm Công Thiện sau nầy, qua tác phẩm “Im Lặng Hố Thẳm”(1967) và “Hố Thẳm của Tư Tưởng” (1967), thì con người đã miệt mài tư tưởng, đã bị dằn dặt về cuộc sống sinh tồn trong đời nầy vì đã lạc lối ra, nên con người phải ngậm ngùi mà sống để hoàn tất bổn phận của một đời người. Nietzsche đã nói Cuộc viễn du nầy như là chuyến lên đường đi đến hố thẳm, một cách rộng lượng và tuyệt vọng. 
  

Thi sĩ Bùi Giáng, một đời thơ ngông cuồng đã viết:  

     Hãy mang tôi đến dặm trường
Cho tôi chết giữa con đường bơ vơ”
  
  

      

Còn Phan Du Mục thì nhìn đời khóc cười trong “Xuân Tím”:
  
Xuân chợt đến, và chợt đi vội vã
Cây cỏ cười, bổng chợt khóc sau lưng
. . .
Áo lụa hoa cà, khăn tang tóc xõa
Tím cuộc đời, ôi tím cả mùa xuân !
    
  

Với cuộc đời đầy dẫy những mâu thuẩn, khác với khóc cười trong Xuân Tím của Phan Du Mục, Bùi Giáng viết về Xuân với Màu Xanh:
“Xuân xanh về khóc giữa dòng
Tuổi già quá cở, tấm lòng quá vui!”
   
  
 

   


Thật là mâu thuẩn, nhưng chỉ khi nào chúng ta sống như Trung Niên Thi sĩ thì tấm lòng mới có thể vui, khi ngộ ra tuổi già quá cở của mình đã vượt qua mùa xuân bi quan, sầu thảm, đầy đau đớn, để khóc cho thân phận của tuổi xuân xanh giữa một dòng đời. Đôi khi được vui hay được khóc thì cũng quá muộn màng!
      

  

Sâu sắc hơn nữa, từ hai ngàn năm về trước, trong sự trãi nghiệm của dằn vặt nội tâm, vì bất năng, không thể tự giải thoát trước sự đau khổ và sự chết trong hồn linh mình, Sứ đồ Phao-lô đã nói rằng: “Tôi biết chẳng có điều gì tốt trong tôi cả – tôi muốn nói về bản tính cũ của tôi. Dù tôi ước muốn làm điều tốt, nhưng không thể nào thực hiện. Tôi chẳng làm điều tốt mình muốn, lại làm điều xấu mình không muốn. Khi tôi làm điều mình không muốn, không phải chính tôi làm nữa, nhưng tội lỗi chủ động trong tôi.” Ông lại tiếp “Thật bất hạnh cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi ách nô lệ của thể xác tội lỗi hư hoại nầy? Tạ ơn Đức Chúa Trời, tôi được giải thoát nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta.” Vậy, qua Thánh Kinh, Sứ đồ Phao-lô thay thế Bạn và Tôi để đặt một câu hỏi lớn “Ai sẽ cứu tôi thoát ?” và Ông đã khẳng định rằng: Chúng ta được giải thoát nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su.        

Tuy nhiên, có quá nhiều giải pháp đương đại của các tôn giáo trong vấn đề giải thoát nầy, thì        

Tại sao tôi phải tin rằng Chúa Cứu Thế Giê-su là giải pháp duy nhất?


Thưa Bạn, Như câu Thánh Kinh nền tảng mà tôi đã trích dẫn phần đầu: “Đức Chúa Trời giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm của Sa-tan, chuyển chúng ta qua Nước của Con Yêu Dấu. Chính Con Ngài đã dùng máu mình cứu chuộc chúng ta và tha thứ tội lỗi chúng ta”. Để giải thoát cho chúng ta được tự do, Chúa Cứu Thế đã “dùng chính máu mình cứu chuộc chúng ta và tha thứ tội lỗi chúng ta”. Chúa Giê-su là Đấng Vô Tội, nhưng chấp nhận khổ hình của tội nhân, Ngài đã chịu tra tấn, hình phạt và chịu đóng đinh trên thập tự giá, dùng máu mình, tức là hy sinh mạng sống của Ngài để chết thay cho sự hình phạt tội lỗi của chúng ta. Cho nên, Thánh Kinh cho biết “Ngai chịu chết để chiến thắng Sa-tan, Vua sự chết. Ngài cũng giải thoát những người vì sợ chết, buộc lòng làm nô lệ suốt đời” (He-bơ-rơ2:14-15). Thánh Kinh khẳng định rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có Danh nào khác ban cho loài người để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu”(Công vụ 4:12).  

  

Giã thử chúng ta đi lạc trong rừng sâu, bị nguy hiểm và sắp chết. Chúng ta cần Người giải cứu, nhưng nguoi ay là Ai? Neu Trên đường đi tìm lối thoát, chúng ta gặp một người chết và một người sống là anh Kiểm Lâm. Chúng ta sẽ nhờ cậy ai để giải thoát? Tất nhiên là anh kiểm lâm chớ không phải người chết. Tại sao? Vì anh kiểm lâm là một người sống và thuộc các lối đi trong rừng; anh ta đang đứng vào chổ lạc đường của bạn để dắt bạn đi ra. Cũng giống như thế, Chúa Giê-su là “Đấng nắm chìa khóa của sự sống và sự chết” (Khải huyền ); Chúa đã chết thay cho hình phạt tội lỗi chúng ta, và Ngài đã sống lại để ban cho chúng ta sự sống đời đời, mang đến một đời sống tự do sung mãn.        

Vậy, tôi phải làm gì để được giải thoát ra khỏi tội lỗi và quyền lực của Sa-tan?

   

   

Kinh Thánh dạy rằng: “Các con sẽ biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát các con” Giăng 8:32) Chân lý mà bạn và tôi đang tìm kiếm đó là Chúa Cứu Thế Giê-su. Chính Ngài phán rằng: “Ta là Đường đi, Chân Lý và Sự sống; Chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha”(Giăng 14:6). Lời Chúa hứa rằng: “Nhưng hễ ai tin nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền năng được trở nên Con Đức Chúa Trời”(Giăng 1:12).

  Điều quan trọng là mỗi chúng ta phải nhận biết địa vị nô lệ trong tội lỗi, đồng thời khao khát và chấp nhận sự hy sinh của Chúa Giê-su cho cá nhân mình, chỉ khi ấy Bạn mới thật sự được giải thoát ra khỏi quyền lực tối tăm của Sa-tan. Ngày xưa, khi Chúa giảng về sự giải thoát thì người Do-thái không tin, họ nói: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, không bao giờ làm nô lệ ai, sao Thầy nói chúng tôi cần được giải thoát? Chúa Giê-su đáp: Tôi nói quả quyết, người nào phạm tội là nô lệ của tội lỗi. Thân phận của nô lệ rất bấp bênh, tạm bợ, khác hẳn địa vị vững vàng của con cái trong gia đình. Nếu được Con Đức Chúa Trời giải thoát, anh chị em mới thật sự được tự do” Bạn thân mến, theo lời Dạy của Chúa, Bạn muốn tiếp tục cuộc sống nô lệ cho tội lỗi hay là nhận lấy sự tự do trong địa vị làm con của Đức Chúa Trời ngay hôm nay?  

Trong chức vụ phục vụ Chúa mấy mươi năm, tôi có gặp và giúp đỡ cho Giáo sư Tạ Văn Huời trong bước đường đầu đến với Chúa. Ông là một người rất uyên thâm trong Triết học Đông Tây. Trong trại cải tạo, ông đã liên tục hằng đêm thuyết giảng luôn 64 quẻ âm dương của Dịch Học trong Triết học Đông Phương cho những người bạn tù. Tuy nhiên, sau khi tin Chúa một thời gian, học giáo lý và nhận lễ báp-tem, ông tâm sự với tôi rằng: “Như Dân Y-sơ-ra-ên lưu lạc trong sa mạc bốn mươi năm, tôi đã lạc trong rừng Triết học Đông Tây minh mông cũng giống như vậy. Nhờ được dạy dỗ bằng Lời Chúa mà hôm nay tôi được giải thoát tâm linh…”.       

Bạn thân mến, Sứ mệnh Thiên Đạo mà Chúa Giê-su đã thực hiện cho chúng ta qua sự hy sinh của Ngài là để giải thoát chúng ta khỏi quyền lực của Sa-tan, giải thoát chúng ta khỏi nỗi sợ hãi của sự chết, giải thoát chúng ta khỏi miệt mài tư tưởng dằn vặt về tồn sinh bế tắc đã lạc lối ra của triết học minh mông, để chúng ta được sống đời sống tự do, phước hạnh và sung mãn trong Chúa.
  
Sứ đồ Phao-lô – Nhà Thần Học Tân Ước đã dạy rằng: “Chúa Cứu Thế đã giải thoát chúng ta, cho chúng ta được tự do, đừng tự tròng cổ vào ách nô lệ của luật pháp nữa” (Ga-la-ti 5:1). Bạn có thể nói rằng mình được thoát! Hay Bạn là Người chưa được giải thoát tâm linh?
  
Mục sư Nguyễn Văn Đại

      

     

     

     

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/03/2010

MỪNG CHÚA PHỤC SINH

 

Hội Thánh mừng ngày Chúa phục sinh

Ban nguồn Ân Điển sống thanh bình

Chung vui tiệc thánh trong ngày thánh

Chúc tụng Con Trời buổi hiển vinh

Xây dựng thiên đàng nơi thế tục

Giữ gìn Hội Thánh cả Thượng Kinh

Tận ngày chung kết vui sum họp

Cùng sống đời đời chốn vĩnh sinh.

 

 

CHÚA SỐNG

 

Diệt trừ nọc chết cách vinh quang

Vượt khỏi âm ty sống khải hoàn

Giải thoát muôn đời dòng máu đỏ

Thương yêu nhân loại quả tim vàng

Chôn sâu mộ đá ba ngày tối

Mở rộng cõi Trời phút hiển vang

Chúa sống vĩnh hằng trong vũ trụ

Sống trong lòng kẻ nhận ân ban.

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/03/2010

SUỐI HUYẾT

 
 
Dòng huyết thắm chảy tràn lòng đất mẹ
Gió ngàn năm hàn vết nức ngàn năm
Nơi rừng thẳm, đại dương còn nhỏ bé  
Sánh tình thương của Cứu Chúa cao thâm
 
Ôi nhân loại miệt mài tình sông núi
Hồn ngược xuôi theo dòng suối “trào lưu”
Lao lách, đìu hiu, phủ đầy cát bụi
Chưa thanh bình nên thế hệ phân ưu!
 
Giòng ô tội dập dồi đời sống cũ
Nếp sống xưa, áo mới khó che lời
Lòng đá cứng chứa đấy loang lổ máu
Thay thịt mền, ân điển phủ muôn nơi
 
Ánh hy vọng chói chang triều hạnh phúc
Ngát từng không, tiếng hát vọng trời cao
Đây Tin Lành ban cho người thế tục
Giá thập hình, đời sống lại bên nhau
 
Mùa xuân mới tươi vui hồn non nước
Sương Thượng Thiên mang ơn phước muôn nhà
Sa mạc Đông Phương hồn vươn mộng ước
Cánh Thiên Thần lấp lánh điệu thần ca
 
Bóng tình thương xóa mờ cơn chinh chiến
Ánh hoàng hôn gầy héo chuổi ngày xanh
Nhưng bửu huyết như suối trào bất biến
Trắng tội khiên phô chân lý Tin lành.
Đăng bởi: nguoichanbay | 25/03/2010

THI CA – THIÊN QUANG

CHÚA CHÊT

  

Đồi Sọ chiều dâng nắng đoạn trường
Con đường thập tự nặng sầu thương
Xong rồi, mọi sự vào thiên cổ
Vũ trụ chuyển mình huyết lệ tuôn!
 
Cứu Chúa trần gian đã chết rồi
Nghìn thu vĩnh biệt thế nhân ơi!
Ba mươi ba tuổi đầy gian khổ
Một phút đau thương, vỡ mộng đời!
 
Nức nỡ nhân gian tiếng khóc òa
Luyến thương môn đệ úa đời hoa
Ướp hương xác Chúa vào hang đá
Uất hận muôn đời tưởng cách xa!
 
Thập tự Giê-su đổ máu đào
Cuộc đời như một giấc chiêm bao
Biết đâu đường dẫn vào âm phủ
Là lúc vinh quang mạch sống trào
 
Lất phất sương buồn gió lạnh bay
Hết rồi hy vọng – đã ba ngày
Xác Thầy tưởng lạnh trong lòng đá
Chúa sống lại rồi! Chính bữa nay.
 
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 12/03/2010

Sự Hợp Nhất Ða Dạng

 “Nhờ đó chúng ta được hợp nhất,
cùng chung một niềm tin về sự cứu rỗi và
về Con Ðức Chúa Trời – Cứu Chúa chúng ta”     
– Êphêsô 4:13 –
 
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”
– Ca Dao –
 
 Một trong những nét đặc trưng của văn hóa Việt đó là tính cộng đồng. Cuộc sống Người Việt  phụ thuộc vào thiên nhiên, nên người Việt phải liên kết với nhau, dựa vào nhau mà  sống. Ðể phát huy tính cộng đồng ấy, người Việt từ xưa đã tổ chức chặc chẽ theo cơ cấu gia đình, và liên kết nhiều gia đình thì gọi là gia tộc. Người Việt tổ chức cộng đồng theo địa bàn dân cư  sinh sống thì gọi là xóm, làng. (Trần Ngọc Thêm, Cơ sở Văn hóa Việt nam, NXB.Giáo dục,1999, trang 89, 91) Cho dù ở trong hay ngoài nước, Người Việt chúng ta đâu đâu vẫn luôn giữ gìn tinh thần ấy. Ở Hoa Kỳ, người ta gọi là “Cộng đồng Người Việt nam” và ở Kamphuchia người ta gọi là “Làng Việt nam”.

 Từ ngàn xưa, kho tàng văn chương Việt nam đã hình thành từ những trãi nghiệm của tiền nhân, đúc kết nên ca dao tục ngữ, khi đề cập đến tính hợp nhất trong cộng đồng đã dạy rằng: “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”  Người xưa cũng có câu: “Mãnh hổ  nan địch quần hồ” có nghĩa là Con cọp dữ không chống nổi cả bầy chồn. Sức mạnh của cộng đồng, tinh thần đoàn kết của Người Việt từ xa xưa đã là như vậy.
 
Ông A. Pazzi, một tác giả người Ý, trong tác phẩm Người Việt Cao Quí đã nói:” Ðiều mà chúng ta có thể kể thêm là cái tinh thần tập thể của Người Việt nam. Tấm lòng hiếu khách và yêu mến bà con họ hàng cũng là những biểu hiện cho tinh thần ấy” (Hồng Cúc dịch, NXB Cảo thơm- Saigon 1965, trang 11). Cho nên, khi được sinh ra mang  giòng máu Việt và lớn lên trong gia đình có nền văn hóa cao đẹp đó, chúng ta thích thú và dễ dàng gia nhập vào  Hội thánh. Vì Hội thánh là một cộng đồng đúng nghĩa, tính cộng đồng của Hội thánh được biểu lộ như một Ðại Gia đình Hợp nhất, có Ðức Chúa Trời là Cha và mọi người là anh chị em trong tình yêu của Chúa.
 Tuy nhiên, tính cộng đồng hay sự đoàn kết trong văn hóa Việt nam có những nét rất khác biệt với sự hợp nhất trong Hội thánh. Ðể giúp bạn có thể nhận thức và hội nhập vào sinh hoạt của Hội thánh, đồng thời củng cố niềm tin cho Tín hữu, chúng tôi xin trình bày đề tài này qua nền tảng Thánh kinh, là Lời của Ðức Chúa Trời.
 Trong Thánh Kinh, sự hợp nhất là ý chỉ và là niềm khao khát của Cứu Chúa Giêxu đối với chúng ta, đến nỗi , Ngài đã qùy gối xuống và cầu xin với Ðức Chúa Trời rằng: “ Xin Cha cho các môn đệ cũ và mới đều hiệp nhất, cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (Giăng 17:21) Rồi  Chúa khẩn thiết cầu nguyện rằng: “Con ở trong họ và Cha ở trong Con để giúp họ hoàn tòan hiệp nhất” (Giăng 17:23a) .
 Chính vì thế, Sứ đồ Phao lô khi đề cập đền sự hiệp nhất, đã mạnh mẽ nói: “Tôi nài xin anh chị em phải sống theo tiêu chuẩn Ðức Chúa Trời đã đặt khi Ngài tuyển chọn anh chị em làm con của Ngài.” (Êphêsô 4:1). Sự hợp nhất là đặc tính quan trọng của Hội thánh, nhưng tại sao đã  gọi là “hợp nhất “ mà lại “ đa dạng “?  Xin chúng ta tìm hiểu về:

  

BẢN CHẤT ÐA DẠNG CỦA SỰ HIỆP NHẤT (4:1-7)

 

  

Bản chất thứ nhất:

Hội Thánh Có Nhiều Ân Tứ Nhưng Chỉ Có Một Thánh Linh.

Êphêsô 4: 3 “ Anh chị em phải cố gắng sống bình an, hòa thuận để giữ  sự hiệp nhất trong Thánh Linh.” Sự Hợp nhất không phải là một mạng lịnh mà là một lời khuyên răn,  cho nên có một số người trong chúng ta không làm theo,  hoặc đã thực hiện một cách tuỳ thời tùy tiện theo cảm tính của mỗi người. Bởi đó nảy sinh những bất hòa và chia rẽ. Hội thánh là một cộng đồng đa dạng. Chúng ta gồm những con người khác nhau về giới tính nam nữ, khác nhau về tuổi tác già trẻ. Khác nhau về trình độ và hoàn cảnh. Hơn nữa, về tính tình thì mỗi người là một vũ trụ riêng tư và dị biệt. Khoa học cho biết sáu tỷ con người trên địa cầu hôm nay có chỉ tay, vân tay hoàn toàn khác nhau. Thật là đa dạng.
Trên phương diện thần học, Kinh thánh cho biết có 19 ân tứ thuộc linh và 4 ân tứ đặc biệt. Mỗi người được Chúa ban cho ít nhất từ một ân tứ đến nhiều hơn để phục vụ Chúa và phục vụ lẫn nhau (4:7). Nhưng điều quan trọng nhất , đó là phải được Ðức Thánh Linh lãnh đạo.
Phao lô nói: “Chúng ta phải… hợp nhất trong Thánh Linh” (4: 3). Người không tin Chúa cũng biết hiệp một, biết đoàn kết với nhau, nhưng do Con Người lảnh đạo với mục đích thế tục, còn Hội thánh do Thánh Linh lãnh đạo với mục đích thiên thượng. Hội thánh không do Thánh Linh lãnh đạo thì chỉ là một tổ chức thế tục  của con người mà thôi, không hơn không kém.
Sự hợp nhất của Hội thánh đa dạng như hình ảnh chiếc cầu vòng có bảy màu tuyệt đẹp. Các màu đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím., rực rỡ đó có từ đâu? Aáy là nhờ ánh sáng mặt trời. Sau cơn mưa ánh sáng phản chiếu qua màn hơi nước cho ta thấy cầu vòng. Không có ánh sáng mặt trời thì không có bảy sắc cầu vòng. Cũng vậy, chúng ta là những sắc màu riêng lẽ trong cuộc sống, nhờ Chúa hợp nhất trong Hội thánh của Ngài. Cầu vòng thời Nô-ê xưa kia là biểu tượng giao ước của Ðức Chúa Trời  (Sáng 9:12 – 17)  Ngày nay, sự hợp nhất và yêu thương của Hội thánh chính là biểu tượng  giao ước mới của Chúa Giêxu (Giăng 13:35)

   

Bản chất thứ hai:

Hội Thánh Giống Như Nhiều Chi Thể Nhưng Chỉ Một Thân


Êphêsô 4 : 4 “ Chúng ta cùng thuộc về một thân thể.” Dưới quyền lãnh đạo của Chúa, mọi bộ phận trong cơ thể kết hợp và nâng đỡ nhau. Mỗi bộ phận làm trọn chức năng riêng, và cã thân thể lớn mạnh trong tình yêu thương. Hội thánh hợp nhất dù đa dạng, giống như nhiều chi thể trong một thân. “Chúa Cứu Thế là đầu Hội thánh” (Êphêsô 5: 23), chúng ta liên kết nhau, hỗ tương  lẫn nhau như những chi thể trong thân. Tất cả đều có công dụng và lợi ích nên không có cái nào sang hay cái nào hèn cả. Ðiều quan trọng là chúng ta phải biết tôn trọng và chịu đựng lẫn nhau. Nếu một chi thể có đau đớn thì toàn thân ảnh hưởng theo. 
Chúng ta có thói quen muốn người khác sống như mình, có quan điểm và hành động như chúng ta, trong khi trình độ và tuổi tác, giới tính và kinh nghiệm mỗi ngư’ời lại rất khác nhau. Chỉ riêng về nhận thức như  “nhận thức  thực tại  đa diện”, gồm ba chiều kích: dài, rộng, cao khác nhau, đưa đến sáu mặt khác nhau: Trước sau, trên dưới, phải trái. Nếu sáu mặt là sáu màu khác nhau, mỗi người chỉ thấy một màu và cho màu của mình là đúng, ắc kết luận màu người khác là sai, ấy là nhận thức phiến diện. Trong khi đó, sáu màu là sáu mặt của khối vuông Rubic mà thôi. Rubic là một khối vuông đa sắc. Hội thánh cũng giống như vậy. 
Hội thánh cũng không phải là một Xưỡng đúc Thuộc linh tạo ra những Cơ đôc nhân giống y hệt nhau như Con Cừu Dolly hay Con Mèo Cléo của Khoa học Sinh sản Vô tính, nhân bản hàng loạt  những Tín hữu giống nhau như đúc. Chúng ta đừng bắt buộc người khác phải trở nên giống chúng ta trong mọi hành động và suy nghĩ vì  Hội thánh là một  cộng đồng đa dạng. 

  

MỤC ÐÍCH CỦA SỰ HỢP NHẤT ÐA DẠNG (4:11-12)


Êphêsô 4:12 “Ngài phân phối công tác như thế để chúng ta phục vụ đắc lực cho Ngài, cùng nhau xây dựng Hội thánh – là thân thể Ngài. “  Có hai mục đích được đề cập trong câu Kinh thánh này :
  

Mục đích thứ nhất: Chúng Ta Phục Vụ Ðắc Lực Cho  Ðức Chúa Trời


Ngạn ngữ Châu Phi có câu: “Muốn đi nhanh hãy đi một mình;  muốn đi xa, hãy đi cùng đồng đội.” Thật là chí lý. Chúng ta sẽ rất dễ dàng, thư thái để đi nhanh  khi đi một mình. Nhưng trên đường đời trăm vạn nẽo, đầy chông gai thử thách, có lúc chúng ta phải chùn chân mỏi gối, ngã lòng trước hoạn nạn , khó khăn trước thiếu thốn, sợ hãi khi tương lai là những đám mây đen mù mịt, lúc ấy, chúng ta rất cần đồng đội. Sự hợp nhất trong Chúa với một lý tưởng cao vời là phục vụ Chúa sẽ giúp chúng ta vui sống và nâng đở nhau. Khi phục vụ Chúa, chúng ta luôn ý thức rằng Ðức Chúa Trời có Ba Ngôi là Ðức Cha, Ðức Con và Ðức Thánh Linh luôn hiệp nhất, bình đẳng và yêu thương nhau.  Trong công trình sáng tạo, Ba Ngôi đã đồng công: “Chúng ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta” (Sáng 1: 26a). Trong sự cứu chuộc:  Cha đã hoạch định, Con đã thi hành và Thánh Linh thành toàn sự cứu chuộc cho chúng ta (Êphêsô 1:4 – 14; 4:30). Chúng ta là con của Chúa nên phải giống như Ngài. Ðức Chúa Trời chúng ta là một Ðội, chúng ta cũng phải hợp nhất thành một Ðội như Ngài, để phục vụ Ngài. 
Giống như Tô nước mắm ngon, có nhiều nguyên liệu khác nhau và phải được pha chế đúng liều lượng cần thiết: như ớt cay, tỏi hôi phải bị giả nát, chanh chua phải bị vắt, nước mắm mặn mòi hay đường cát ngọt ngào phải tan biến đi, hòa quyện vào nhau để trở nên tô nước mắm ngon phục vụ mọi người. Quý bà nội trợ khéo cho thêm một ít  nước lạnh, dù là lạt lẽo, nhưng làm cho tô nước mắm “đầm” lại, ngọt dịu dễ ăn. Ðầu bếp danh tiếng Yan “Yan can cook “ cũng phải khen, đó là một món nước chấm tuyệt vời phải không?  Sự hợp nhất của anh chị em trong Hội thánh giống như tô nước mắm ngon. Anh chị  em phải hòa mình với nhau, chấp nhận nhau, dù người có tính chanh chua, cay cú, hay ăn nói lạt lẽo vô duyên, chúng ta cũng đừng ruồng bỏ anh chị em mình. Nếu chúng ta có được bản tính nhẹ nhàng, ăn nói ngọt ngào thì hãy tan biến và hoà nhập vào cộng đồng Dân Chúa để phục vụ bằng sự khiêm nhường chân thật. Nếu có người khuyết tật hoặc khiếm thị muốn tham gia ban hát, thì hãy hoan nghênh và giúp đở anh chị em chúng ta, đừng chê bai hay loại bỏ họ. Ca ngợi là thờ phượng Ðức Chúa Trời chớ không phải là trình diễn ca nhạc để con người thưởng thức. Hãy chú ý, Ðức Chúa Trời đẹp lòng vui nhậm của lễ thờ phượng từ sự hợp nhất đa dạng của chúng ta. 
Trong sự phục vụ muốn đắc lực cho Chúa, chúng ta phải hợp nhất mới đạt được hiệu quả. Triết gia Homer từng nói:” Hai khối óc tốt hơn là một” Vua Salômôn trong tác phẩm Truyền đạo đã viết: “Hai người hơn một…; hai người ngủ chung thì ấm…; một sợi dây bện ba tau lấy làm khó đứt.“ (Truyền đạo 4 : 9 – 12) 
Khi Chúa Giêxu giảng đạo tại thành Cabênaum, có một người bại khao khát được Chúa chữa lành. Nhưng không thể đến với Chúa được? Sau đó có bốn người bạn khiêng người này đến gặp Chúa. Có rất đông người đến với Chúa nên đường đi đã nghẽn lối.  Họ đã vất vã trèo lên mái nhà và thòng chiếc giường người bệnh ngay chỗ Chúa Giêxu. Phép lạ xảy ra. Người bại được chữa lành. Niềm vui và hạnh phúc đã đến trên cuộc đời bất hạnh này (Mác 2:1–12) Do đâu? Ấy là do quyền năng của Chúa qua sự hợp tác phục vụ của bốn người khiêng. Sự hợp nhất của Hội thánh sẽ thực hiện quyền năng và phép lạ. 

  

Mục đích thứ hai : Chúng Ta Cùng Nhau Gây Dựng Hội Thánh (4 : 12b)


“Gây dựng” cũng giống như “xây dựng”, nhưng gây dựng nghiêng về tinh thần, còn xây dựng nghiêng về vật chất. Một số bạn trẻ thường định nghĩa vui (định nghĩa đảo) chữ “gây dựng”   là “dựng chuyện lên gây”, “chăm sóc” là “châm cho người ta bị sốc.” 
 Nhưng trong  Từ vựng Tiếng Việt, từ ngữ “gây dựng” có ý nghĩa thật hay. “Gây” là sự tác động từ bên ngoài. Thí dụ: Gây tê là sự tác động một lượng thuốc làm tê phần thân thể nào đó để giải phẩu. Gây mê, gây hấn, gây lộn, gây chiến ….đều là sự tác động từ cá nhân đến cộng đồng. “Dựng” là sự khôi phục. Nôm na là làm cho đứng lên cái gì đã ngã. Thí dụ: như dựng cột nhà, dựng cờ khởi nghĩa, hoặc trừu tượng hơn như “dựng vợ gả chồng”, “dựng lại cơ đồ, sự nghiệp.” 
Vậy, gây dựng Hội thánh là nhờ ơn Ðức Thánh Linh qua Lời Chúa tác động vào lòng người sa ngã, người chưa biết Chúa để khôi phục  đức tin, đưa đến vị trí Con Dân Chúa vững vàng trong Hội thánh. 
Nhờ sự hợp nhất chúng ta gây dựng Hội thánh lớn mạnh, ảnh hưởng tốt giữa thế giới này. Sự gây dựng lẫn nhau không giống như sợi dây cột bó đũa. Ai trong chúng ta cũng biết bài học hiệp nhất qua câu chuyện bó đũa. Từng chiếc đũa sẽ bị bẻ gãy dễ dàng nhưng một bó thì không thể bẻ gãy được, nhưng phiến diện của câu chuyện này là ở chổ sợi dây cột bó đũa, nếu  nó đứt các chiếc đũa sẽ bị rời rạc và bị bẻ gãy dễ dàng. Ma quỷ sẽ làm chia rẽ Hội thánh, để anh chị em không hiệp một nữa và sau đó sẽ hạ gục từng người trong đức tin. Chúng ta phải hợp nhất trong sự gây dựng lẫn nhau như một bó đèn cầy. Không như bó đũa, chúng ta hiệp lại như bó đèn cầy được thắp sáng lên. Mỗi cây lớn nhỏ đều thắp sáng và buộc chặt lẫn nhau, chúng ta sẽ rực sáng ánh chân lý của Chúa cho mọi người sống trong tối tăm tội lỗi. Và như thế, khi phải nghỉ ngơi , chúng ta cũng vẫn là một khối, không tách rời ra. Vì khi  cùng nhau phục vụ Chúa chúng ta sẽ gắn bó cùng nhau nhiều hơn, giống như những cây đèn cầy khi thắp sáng lên  sáp sẽ chảy ra và kết chặc vào nhau vậy. 

  

KẾT QUẢ CỦA SỰ HỢP NHẤT ÐA DẠNG (4 : 13)


Êphêsô 4 : 13 “Chúng ta được hợp nhất… mỗi người đều đạt đến bậc trưởng thành trong Chúa,Có Chúa Cứu Thế đầy dẫy trong tâm hồn “ 
  

Hiệu quả lớn lao của sự hợp nhất: Hội Thánh Ðược Trưởng Thành  (4:13b)


Hợp nhất  phục vụ Chúa và Hội thánh sẽ làm cho anh chị em được trưởng thành trong đức tin. Ngược lại với sự hợp nhất, làm Hội thánh bất hòa, chia rẽ, bè phái….là tình trạng ấu trĩ, là con đỏ trong Chúa như Sứ đồ Phao lô đã nói (ICôrinhtô 3:1). Ma quỷ luôn luôn gây mầm móng chia rẽ để làm suy yếu Hội thánh. Linsee, tác giả tác phẩm “ Ðịa cầu quá cố “đã nói : “Ma quỷ vẫn sống mạnh giỏi và ra sức tấn công Hội thánh ngày nay“ Anh Chị Em phải liên kết chặc chẽ, yêu thương và nâng đở nhau trong cuộc sống đầy cám dỗ này. 
Mục sư Prosetso Marcelo, người Philippin có kể lại rằng, khi ông đi thăm tín hữu trong một bệnh viện. Ông thấy có một khu biệt riêng cho người bệnh tâm thần. Có khoảng vài chục người bệnh đang lang thang trên sân, người thì cười người thì khóc, người nói người đùa giỡn lung tung… Ông thấy hàng rào sơ sài ngăn cách khu tâm thần và khu đa khoa, đang khi ông lo sợ vì nghĩ đến những cơn điên và hậu quả, bất chợt  ông gặp người gác cổng, mục sư liền hỏi ngay: “Tại sao Bệnh viện không làm hàng rào cho chắc chắn, lỡ khi nào đó những người điên này hiệp lại tấn công…. thì bệnh nhân ở đây làm sao cứu được!    Người gác cổng nỡ nụ cười thật tươi và nói: “Tại Mục sư hỏng biết đó chớ, người điên đâu bao giờ hiệp một, mạnh ai nấy sống, nghĩ gì làm nấy. Có chàng nào qua đây thì tôi dẫn về lại thôi.” Thật vậy, người điên họ sống theo lý trí bất thường và tìêm thức đão lộn. Họ không hòa hợp với mọi người và họ chỉ  sống cho chính họ mà thôi. Hội thánh không phải là bệnh viện tâm thần mà tín hữu mạnh ai nấy làm theo ý mình thích, phải có trật tự và theo sự lảnh đạo của Chúa. Phải hợp nhất với nhau dù đa dạng. 
Nhưng trong thực tế có lúc chúng ta phải công nhận rằng khó mà hợp nhất với nhau. Làm sao mà hiệp một với những người như thế!? Chúng ta phải làm sao? 

  

Bí Quyết Của Sự Hợp Nhất Ða Dạng  (4 : 8 – 9)


“Như tác giả Thi thiên ghi nhận : Ngài đã trở về trời cao… những chữ Ngài đã trở về trời cao có nghĩa Ngài đã từ trời giáng thế, đến nơi thấp nhất của trần gian. Ðấng đã xuống thấp cũng là Ðấng đã lên cao và đầy dẫy khắp mọi nơi, từ nơi thấp nhất đến nơi cao nhất “ ( 4 : 8 -9 )  
Chúa Giêxu là Ngôi hai Ðức Chúa Trời. Ngài bình đẳng và hiệp một với Ðức Chúa Trời. Chúa từ bỏ ngôi cao sang hạ mình xuống thế gian làm người và thậm chí trở nên tôi tớ để cứu vớt chúng ta khỏi tội (Philip 2: 5 – 11) Mỗi khi chúng ta thấy không thể hiệp một với anh chị em được hãy “nhìn xem Chúa Giêxu là nguyên soái và thành toàn đức tin  của chúng ta” (Hêbơrơ 12: 2a) để học khiêm nhường và hạ mình như Chúa. (Mathiơ 11 :  28 – 30). Người kiêu ngạo là người không thể hiệp nhất với ai cả. 
Qua lời Chúa, chúng ta nhận biết sự hợp nhất là điều Chúa khao khát nơi mỗi chúng ta. Bản chất của sự hiệp nhất  đa dạng là dù nhiều ân tứ nhưng phải do Thánh Linh lãnh đạo, giống như những chi thể hiệp nhất trong thân mà Chúa là đầu. 
Mục đích của  sự hợp nhất là để chúng ta phục vụ Chúa  cách đắc lực và gây dựng Hội thánh hiệu quả hơn.
Sự hợp nhất đa dạng là dấu hiệu của đời sống trưởng thành đức tin, mà mỗi chúng ta phải học  đòi theo gương Chúa Giêxu ngay hôm nay. Nó chính là sự sống còn của cá nhân và là sức mạnh của Hội thánh. 
   Có một câu chuyện cảm động kể về một buổi tiệc liên hoan trong một nông trại. Các gia đình xa gần họp mặt vui chơi, ăn uống. Họ mang theo con cái cùng tham dự. Khi tan tiệc ra về, một gia đình phát hiện mất một bé trai ba tuổi. Ai nấy tung ra tìm kiếm. Họ đốt đuốc lên trong đêm, tìm trong cánh đồng lúa chung quanh nhưng không thấy đứa bé. Khuya.  Ai nấy ra về. Sáng sớm hôm sau, cha mẹ đứa bé đến nơi và một số người cũng đến phụ tìm kiếm đứa bé. Thình lình, có người đề nghị  tất cả nắm tay dàn hàng ngang để đi tìm (Vì đêm qua mạnh ai nấy tìm) Rồi họ dang tay nhau đi càn qua đám ruộng. Họ đã gặp đứa bé, nhưng đứa bé đã chết vì  lạnh và sợ hãi trong đêm qua.
Họ đã hiệp một quá trể. 

  


Thảm cảnh sẽ xãy ra nếu chúng ta không hiệp nhất hoặc hiệp nhất quá trễ.
Hãy vượt lên những tiểu dị,hướng đến đại đồng, hiệp nhất dù đa dạng  để phục vụ Chúa và cứu người ngay hôm nay. Amen.  

Mục sư Nguyễn Văn Ðại 

   

   

   

  
  

   

Đăng bởi: nguoichanbay | 12/03/2010

Vấn đề Áo Lễ Của Mục sư

  

  

 Kính thưa Quí Mục sư, Chấp sự và Quí Tín hữu Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 

 Một trong những vấn đề giáo nghi thuộc lảnh vực thờ phượng, đó là CHIẾC ÁO LỄ của Mục sư  trong Hội thánh Tin lành Việt nam chúng ta.  Tuy là vấn đề xưa cũ theo lịch sử Hội thánh, nhưng lại là vấn đề đương đại trong xu thế đổi mới và  tiếp cận với văn hoá Dân tộc đang từng ngày thay đổi . Vấn đề này mặc  dù thuộc về giáo nghi, nhưng là biểu tượng của Văn hoá Cơ đốc trong sứ mạng Phúc âm hội nhập văn hoá giữa Cộng đồng Dân tộc của chúng ta.  Vấn đề này cũng liên quan đến quan điểm Thần học và Giáo nghi trong Hội thánh nữa.
 Từ nhận thức đó, chúng tôi mạnh dạn  đề cập đến vấn đề này vì đây là một vấn đề mà Giáo hội phải đối diện và tìm giải pháp. Vấn đề đã tạo ra nhiều “nhức nhối” trong Hội thánh xưa và nay. Xin  mạn phép nêu hai trường hợp đã xãy ra trong vài thập niên  gần đây. 

  
 Tháng tư,  Năm hai ngàn lẽ hai, Ban Trị sự Tổng Liên Hội, Hội thánh Tin lành Việt nam Miền nam, có nhận  đơn tố cáo về tư cách lãnh đạo của một Mục sư  (Người viết xin phép không nêu đích danh)  Một trong những vấn đề đã đề cập đến trong đơn là việc mục sư này đã mượn bộ áo lễ của vị Linh mục thuộc Giáo hội Công Giáo trong địa phương, để mặc và chụp hình lưu niệm trong nhà thờ Tin lành mà mục sư này quản nhiệm. Nguyên nhân thì chưa rỏ nhưng thực tế đã có  thái độ phản đối của tín hữu về vấn đề liên quan đến Áo Lễ. 

 Cũng là vấn đề áo lễ, vào khoảng đầu thập niên sáu mươi (1960-1965)   Thể theo nguyện vọng của một nhóm Mục sư Truyền đạo, có một vị mục sư thuộc hàng lãnh đạo trẻ, chức vụ Ðoàn trưởng Thanh niên Tin lành  của Ðịa hạt Nam phần, đã soạn thảo công phu và mạnh dạn góp ý cùng Ban Trị sự Ðịa hạt và Tổng Liên Hội về Vấn đề Aùo lễ của Mục sư trong Hội thánh Tin lành Việt nam.  Nhưng kết quả là góp ý không được chấp nhận.  Vấn đề trở nên nhức nhối thật sự khi sự bất đồng quan điểm này, cộng với nhiều nguyên nhân khác nữa, đã khiến cho vị mục sư nói trên ly khai khỏi tổ chức Hội thánh, mà lập nên một hệ phái mới trong Cộng Ðồng Cơ đốc Việt Nam, để có thể thực hiện Lễ Phục theo nguyện vọng của mình. Thật là đáng tiếc vì Hội thánh mất đi một người tâm huyết cho công việc nhà Chúa. 

  
 Quan niệm của Hội thánh  thì sao?
 Trên thực tế, chúng tôi nhận thấy Các Ban ngành Hội thánh đều có may áo lễ, ngay cả Tân Tín hữu trong Lễ Báptem cũng có, nhưng Mục sư Chủ lễ thì chỉ sử dụng Áo vét tông (Âu phục) xem như là Áo Lễ đặc thù của Mục sư Tin Lành Việt nam.

 Hiện nay, Hội thánh Tin lành Việt nam đã “mặc nhận” (chưa có văn bản công nhận chính thức) về bộ Áo lễ của Các Ca đoàn  trong sự thờ phượng. Tuỳ theo điều kiện của Hội thánh và quan điểm của vị Mục sư  lãnh đạo ở địa phương mà thực hiện. Có nơi thì lễ phục của ca đoàn  được thiết kế theo kiểu tây phương  là áo thụng trắng hoặc màu, có “xây” (yếm choàng cổ) tuỳ theo màu cho từng lứa tuổi. Cũng có Hội thánh chọn lễ phục theo truyền thống văn hoá Dân tộc cho Nữ giới là Áo dài Việt nam, đủ màu, và mặc đồng phục theo từng lứa tuổi của ca đoàn. Nhưng đồng phục  của Nam ban  lại giãn dị hơn, nghiêng về Âu phục là quần tây, áo sơ mi, thắc cà vạt. Màu sắc thì tuỳ sở thích lựa chọn, do tập thể quyết định.
  Tóm lại, Lễ phục của Các  Ca Ðoàn chưa có thống nhất một kiểu mẫu, và cũng chưa thống nhất từ Chi hội Ðịa phương đến toàn quốc. Cũng chưa có hướng dẫn cụ thể nào từ cấp Lãnh đạo Giáo hội. 

  
  Gần đây chiếc áo lễ xuất hiện hầu hết  trong Các Hội thánh khi tổ chức Lễ Báp têm cho Tân Tín hữu.  Khi chịu lễ,  các tín hữu này được mặc áo lễ do Hội thánh trang bị. Thường thì áo màu sậm và có dây thắt lưng. Nhưng điều lạ là riêng Mục sư  vẫn mặc áo vét tông như khi giảng. Cũng có cá biệt một vài nơi, Vị Mục sư  có  may một áo lễ để hành lễ báp tem. Ông chỉ mặc để hành lễ báp têm  mà thôi, ông không mặc khi giảng hay hành lễ hôn phối hoặc các thánh lễ khác. Việc thiết kế kiểu dáng là do tự phát theo quan điểm riêng của vị mục sư đó và tất nhiên là không có sự thống nhất của giáo hội. Cũng có  nơi Mục sư mặc “tạm” áo lễ của Ca đoàn nào đó, như là một hình thức cách biệt giữa Người Hành lễ  với những Tân Tín hữu chịu lễ. Ðây cũng chỉ là giải pháp tạm thời và tự phát của từng địa phương, trong khi đó thì  giáo nghi của Hội thánh  chưa có qui định nào cả về vấn đề này. 

  
 Ðối Diện những sự kiện nêu trên của vấn đề, chúng tôi mạn phép trình bày Vấn Ðề Áo Lễ Mục sư của Hội thánh Tin lành Việt nam như  là một Tài liệu Tham Khảo, gói ghém trong suy tư thần học của vấn đề mà Lời Chúa đã đề cập xuyên suốt Thánh Kinh. Hoài bảo chúng tôi là trình bày như một tham luận về khía cạnh Văn hoá Phúc âm để Quí  Mục sư, Chấp sự và Tín hữu suy xét, nghiên cứu và quyết định thực hiện, một quyết định đúng đắn sau khi cân nhắc kỷ lưởng vấn đề. Thực hiện vấn đề này là sự hội nhập Văn hoá Cơ Ðốc vào cộng đồng Dân tộc, trong xu thế đổi mới của Ðất Nước Việt nam Hội nhập Văn hoá thế giới. Hội nhập Mục vụ trong dòng chảy văn hóa Cơ đốc giao lưu giữa Hội thánh Khu vực và Toàn cầu. Tự thân vấn đề là sự củng cố nghi thức thờ phượng của Hội thánh chúng ta ngày một tốt đẹp hơn trong  hoàn cảnh tương giao với các Hệ Phái Anh Em và Giáo hội Bạn trong Nước và Quốc tế. 

  
 Trong bối cảnh văn hoá và khía cạnh Văn hóa Phúc âm Hội nhập, Vấn đề Aùo Lễ Mục sư của Hội thánh Tin lành Việt nam là một Vấn  đề chúng ta buộc phải Ðối Diện và tìm Giải pháp. Người viết cũng không có tham vọng như  Vị “Tiền bối” của thập niên  sáu mươi được thượng dẫn. Chúng tôi chỉ có một nổi khao khát, một khao khát thiêng liêng là gây dựng Hội thánh Ðức Chúa Trời trên Quê hương Việt nam yêu dấu của chúng ta,  ngày một phát triển tốt đẹp theo thánh ý Chúa “để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể của Ðấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy điều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Ðức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Ðấng Christ.”(Êphêsô 4:13-14). 

 

  

I.  ÁO LỄ TRONG SỰ THỜ PHƯỢNG MANG TÍNH BIỂU TƯỢNG 

 Sự thờ phượng của Hội thánh Tin lành Việt nam mang đậm nét “biểu tượng” không giống như tính cách trang trí trong thánh đường Giáo Hội Công Giáo có nhiều “hình tượng”. Ðiển hình như Thập tự giá của Giáo hội Công giáo có ảnh tượng Chúa Giêxu bị đóng đinh, thì nhà thờ Tin lành chỉ có thập tự giá “trơn” (không có hình tượng) được làm bằng gổ, có nơi làm bằng tôn đóng hộp, sơn màu và bắt đèn bên trong. Có nơi làm bằng inox sáng choang… nhưng người Tin lành xem Thập tự giá là một biểu tượng để gợi nhớ Ðấng đã treo thân chịu đóng đinh nơi đó, Ngài hy sinh cứu chuộc nhân loại.  Ðiều quan trọng là tín hữu phải “vượt qua” hình thức thập tự giá để tôn thờ Ðấng đã treo thân nơi ấy. Bởi vì, Thập tự giá là một biểu tượng trong sự trang trí nơi thánh đường mà thôi.
 Trong sự thờ phượng, Hội thánh Tin lành Việt nam cũng đậm nét về Ngôn ngữ biểu tượng. Thí dụ trong sự cầu nguyện,  ta nhận thấy: “Chúng con xin cúi đầu  và cúi cả tấm lòng trong sự hiện diện của Chúa”. Cúi đầu thì được , nhưng “cúi cả tấm lòng” thì cúi như thế nào?  Ðó chỉ là ngôn ngữ biểu tượng , nói lên tấm lòng cung kính tôn thờ Ðức Chúa Trời cách xứng đáng (Whorship : sự thờ phượng, ra từ căn tự  “Whorth” nghiã  là xứng đáng)(*1)
 Về hình thức của sự thờ phượng cũng mang dáng dấp của biểu tượng. Như là bàn tiệc thánh , biểu tượng cho bửa tiệc cuối cùng, bửa tiệc ly. Chân đèn bảy ngọn biểu tượng cho sự hiện diện của Ðức Chúa Trời (Sách Khải huyền 1:12-16; 4:5). Trong trang trí hình hoa huệ, hoa tuy líp, hoa kèn đặc trưng Lễ Phục sinh. Chùm nho biểu tượng của sự liên hiệp, sự hy sinh của Chúa. Bánh và ly tiệc thánh biểu tượng cho thân và huyết Chúa đỗ ra trên cây gỗ hy sinh đền tội cho chúng ta.
 Ngay cã kiến trúc thờ phượng của các thánh đường cũng mang dấu ấn biểu tượng.  Trong thời Trung cỗ, người ta xây dựng thánh đường có dáng cao và sâu.  Bước vào thánh đường nhìn về phần “cung thánh” rất cao và rất sâu. Con người cảm thấy bé nhỏ trước sự trang nghiêm và khiến cho lòng thờ phượng càng khiêm cung và kính sợ Ðấng Thiêng Liêng hơn. Kiến trúc ấy  biểu trưng cho tinh thần cao thượng và sâu thẳm tâm linh.  Ngày nay, với xu hướng “đại kết”, người ta xây các thánh đường có chiều rộng, băng ghế ba hướng, qui tụ về phía bàn tiệc thánh. Ban hát lễ ngồi phía cung thánh, sau ghế mục sư và người hướng dẫn chương trình. Ban hát chỉ đứng lên hát tại chổ, không cần đi lên đi xuống.  Kiến trúc này biểu minh cho Giao ước mới, mọi người tương giao mật thiết với Chúa và với nhau. Không cần qua giai cấp tư  tế trung gian nào cã. Các Giáo phái, Hệ phái có xu hướng truyền giáo cho Các Dân tộc chú trọng đến sự thờ phượng Ða văn hoá, Ða Chủng tộc và Ða Ngôn ngữ đều xây dựng thánh đường theo dạng thức này. 
 Cho nên, khi suy nghĩ và nghiên cứu vấn đề Áo lễ của Mục sư  cũng nằm trong khuôn khổ ấy, vì áo lễ mục sư được thiết kế cho mục vụ trong thánh đường, cho sự thờ phượng có ý nghĩa và truyền thống biểu tượng trong mục vụ thiêng liêng. 

 Ngoài tính cách biểu tượng từ hình thức, trang trí, ngôn ngữ, xây dựng, dụng cụ nghi lễ được thể hiện trong thờ phượng , biểu tượng còn là “mật ước” của văn hoá  cộng đồng hoặc của những con người liên kết nhau, có ý nghĩa đặc thù theo khuynh hướng của biểu tượng đó.
 Thí dụ trong thời Cựu ước, Dân Ysơraên có cả pho sách về thờ phượng. Những nghi thức thờ phượng được quy định thật cụ thể, chi tiết. Riêng về áo lễ của Arôn và Các Thầy Tế lễ trong thời Môi se được tôn tạo từ trang phục truyền thống của người Do thái thời bấy giờ, gồm có áo lót, áo dài và áo khoát. Chúng tôi sẽ bàn sâu hơn trong phần sau.
   Cho nên Áo lễ Mục sư  phải là Văn hoá Cơ Ðốc đặc thù của Hội thánh Tin lành tại Việt nam. Áo lễ Mục sư là nét văn hoá Cơ đốc,  hội nhập vào cộng đồng Dân tộc trong tinh thần truyền giáo của thế kỷ hai mươi mốt. Tuy nhiên,  Áo  lễ Mục sư phải luôn giữ tính cách thuộc linh như biểu tượng truyền thống của Hội thánh thế giới. Thí dụ áo lễ thụng trắng của Ban Hát hình thành từ ý niệm Ban Hát Lễ trong Kinh Thánh Sách Khải huyền 7:9-17.
 “Sự ấy đoạn, tôi nhìn xem thất vô số người, không ai đếm được, bởi mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng mà ra, chúng đứng trước ngôi và trước Chiên Con, mặc áo dài trắng, tay cầm nhành chà là, cất tiếng kêu lớn rằng:  Sự cứu rỗi thuộc về Ðức Chúa Trời, là Ðấng ngự trên ngôi và thuộc về Chiên Con…
 Bấy giờ một trưởng lão cầt tiếng nói với tôi rằng: Những kẻ mặc áo dài trắng đó là ai, và bởi đâu mà đến? Tôi thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa biết điều đó. Người lại phán cùng tôi rằng:  Ðó là những kẻ ra khỏi cơn đại nạn, đã giặt và phiếu trắng áo mình  trong huyết Chiên Con. Aáy vì đó mà chúng ở trước ngôi Ðức Chúa Trời, va ngày đêm hầu việc Ngài trong đềnNgài; còn Ðấng ngồi trên ngôi sẽ che chở chứng tôi dưới trại Ngài. Chúng sẽ không đói không khát nữa, cũngkhông có mặt trời hoặc nắng gắt nào hại đến mình. Vì Chiên Con ở giữ ngôi sẽ chăn giữ và đưa chúng đến những suối nước sống; Ðức Chúa Trời sẽ lau hết nướcmắt nơi mắt chúng.”
 

 Trong tầm quan trọng của chiếc áo lễ mang tính biểu tượng của Do thái giáo, chúng ta cùng suy nghĩ: 

  

 II. ÁO LỄ TRONG SỰ THỜ PHƯỢNG THỜI CỰU ƯỚC. 

 Trước thời Môi se trong Cựu ước, thì các sự thờ phượng đều do các Tộc trưởng hoặc Gia trưởng dâng tế lễ cho Ðức Chúa Trời. Nhưng khi Quốc gia Ysơraên được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Môise , họ đã có một nơi biệt riêng để thờ phượng, đó là Ðền tạm (Xuất 25:8-9). 

  
   Dân Ysơraên cũng có một thể chế nghi lễ đã được qui định, và đương nhiên phải có một cơ cấu tổ chức những con người đặc biệt phụ trách trong việc thờ phượng (Xuất 29:1). Arôn và các con trai của ông đã phụ trách công việc này trong Ðền Tạm.
 Khi bàn về Y phục (Áo lễ) của thầy tế lễ thượng phẩm,  Henry H.Halley, trong quyển Thánh kinh Lược khảo (*2)  đã đề cập:
 “Chính Ðức Chúa Trời đã ban huấn thị về mọi chi tiết trong Xuất Êdiptô ký đoạn 28 như sau:
*Một cái áo dài bằng vải gai mịn, thêu chỉ màu xanh lơ, đỏ điều, đỏ sặm; ở trôn áo có những chuông nhỏ kêu lên khi thầy tế lễ ra vào dâng tế lễ nơi đền tạm.
*Chiếc êphót giống như cáo áo choàng gồm hai miếng nối nhau  trên vai, dủ xuống một miếng trước ngực và một miếng sau lưng. Trên mỗi vai có một viên bích ngọc, mỗi viên ghi tên sáu chi phái Ysơraên. Êphót làm bằng vải gai mịn, thêu kim tuyến , chỉ xanh lơ, đỏ điều và đỏ sặm.
*Một tấm  bảng đeo ngực, chừng sáu mươi lăm phân vuông, làm bằng vải gai mịn, thêu kim tuyến, chỉ xanh lơ, đỏ điều và đỏ sặm. Bảng có hai bề chập lại, phía trên mở ra như một cái túi tiền, có dây chuyền bằng vàng cột vào êphót, có gắn mười hai viên ngọc, mỗi viên  mang tên một chi phái. Bên trong có chứa Urim và Thumim dùng để tìm biết ý chỉ Ðức Chúa Trời, nhưng chính nó là cái gì thì ta không rõ. 

  
 Dầu thể chế này áp dụng trực tiếp cho Dân Ysơraên, nhưng Ðức Chúa Trời muốn dùng sự dâng của lễ thờ phượng thường xuyên, cho nên việc giử ngọn lửa luôn luôn cháy trên bàn thờ, để làm một biểu tượng khiến cho loài người cảm biết sâu xa tội lỗi của mình, đồng thời để làm hình bóng lâu đời về của lễ mà Chúa Cứu thế sẽ dâng bằng chính thân thể Ngài. Tất cả của lễ và trang sức thánh là hình bóng cho sứ mạng và chức vụ thánh của Chúa Cứu thế trong Tân ước (*3).
 Theo Thánh Kinh Khảo học- Cựu ước I của Viện Thần học Việt Nam tại Hoa kỳ đã ghi chú:
*Theo Xuất Êdíptô ký ( 28:1 cho biết áo lễ của thầy tế lễ được mặc sau khi tắm, để cử hành chức vụ là đọc luật pháp Môise cho Dân sự và nhắc họ nhớ những nghĩa vụ giao ước (Phục 31:9-13 Nêhêmi 8:2-3)
*Theo  Xuất Êdíptô ký 28:2 cho biết áo lễ cốt để thầy tế lễ được vinh hiển khi trang sức. Áo lễ tôn vinh chức vụ Thầy Tế lễ Thượng phẫm và Thầy Tế lễ khác cũng được vinh hiển (Xuất 28:40) 

  
*Theo Xuất Êdíptô ký 28:6-8 cùng mặc với êphót, một chiếc áo không tay, như đã đề cập ở  trên, là chiếc đai. Chiếc đai dùng để giữ phía trước và  phía sau êphót trên thân thể thầy tế lễ trong khi  hành lễ.
*Theo Xuất Êdíptô ký 28:12 Arôn mang tên của mừơi hai chi phái Ysơraên trên vai mình. Ðó là biểu tượng mang ý nghĩa về lẽ thật Thầy Tế lễ Tối cao , đại diện cho toàn Dân Ysơraên khi thờ phượng Ðức Chúa Trời nơi đền tạm.(*4) 

*Ngoài ra,  còn có các áo lễ khác: 

  

  Xuất Êdíptô ký 28:31 Áo lá mặc ở trong êphót.
  Xuất Êdíptô ký 35 Theo truyền thống Do thái, một đầu dây thường cột vào mắt cá thầy tế lễ thượng phẫm, còn đầu kia ở bên ngoài nơi chí thánh. Nếu những chuông trên gấu áo người không reo trong khi người vào nơi chí thánh dâng của lễ (Dấu hiệu, tín hiệu người vẫn còn sống, đi qua đi lại rưới huyết trên hòm giao ước), giả định người đã chết vì sự hình phạt của Chúa, có thể được thử nghiệm bằng cách kéo nhẹ sợi dây thừng. 

 

*Ngoài Xuất Êdíptô ký 28:6-14, thì trong Xuất Êdíptô ký 39:30 có đề cập đến cái thẻ thánh. Ðó là biểu tượng “Sự mệnh danh chính thức” 

“Chiếc áo không làm nên thầy tu” nhưng thầy tu cần có chiếc áo. Như đã viện dẫn Áo lễ thật tôn vinh chức vụ Thầy tế lễ để thay thế dân sự ra mắt Ðức Chúa Trời trong sự thờ phượng Ngài. 

  

   

III. ÁO LỄ TRONG SỰ THỜ PHƯỢNG THỜI TÂN ƯỚC 

A. Trang  phục Người Do thái trong đời sống cộng đồng: 

 Ðể hiểu rõ lễ phục trong thời Chúa Giêxu, chúng ta tìm hiểu về trang phục người Do thái trong thời bấy giờ như thế nào?
 Tác giả G.T. Manley trong Thánh Kinh Ðại Cương, khi đề cập đến trang phục trong Phong tục tập quán Dothái, cho biết:
 

 Trang phục Người Do thái có hai phần. 

  

 *Một áo ngắn bó sát người, thường có hai vạt  dài qua khỏi đầu gối một chút, để lộ mắt cá chân.
 *Thứ hai là một chiếc áo dài rộng, có độ dài chừng vài ba mét, quấn choàng qua đôi vai và thân thể người mặc.
 Phần áo thứ nhất được mặc riêng trong nhà. Tuy nhiên không được kể là quần áo (!?)( NV: Ý niệm Do thái xem như đồ lót thôi)  nên không thể mặc nó khi ra đường hay khi thăm viếng ai. Cho nên, khi một người chỉ mặc một bộ quần áo lót đó thôi, thì người Do thái kể là trần truồng hay đã bị lột bỏ y phục và xấu hỗ.(Êsai 20:2,4 Giacơ 1:3,4; 2:17)

 Về qui định các kiểu dáng thì các tay áo phải dài đủ để  che đôi bàn tay. Qui định này được dùng trong những cuộc thăm viếng theo đúng nghi thức để che giấu bàn tay. Nhưng khi cần phải sử dụng trong lao động thì đôi tay có thể được phơi trần ra, và tay áo có thể được vén lên hay cất đi (Êxêchiên 4:7 Êsai 52:10)
 Áo ngoài là một loại áo khoát, có khi được dùng để đắp về đêm, hoặc dùng để trãi giường ngủ (Xuất Êdíptô ký 22:27 Phục truyền 24:13) Lúc người Ysơraên rời khỏi Ai cập, họ gói ghém tất cả quần áo họ vào đó.
 Các nhà tiên tri và một số người kéo áo lên trùm đầu lại để tỏ lòng kính trọng, hay là trùm đầu  khi đau buồn (I Vua 19:13 IISamuên 15:30 Êxơtê 6:12) hoặc nhiều khi dùng để che mưa gió. Áo ngắn thì thường được đựng đồ vật để  mang đi (Aghê 2:12) Phần lớn trang phục của nhiều Dân tộc Ðông phương đều giống như vậy, vốn rất thuận tiện trong việc đổi chát, trao tặng và bận vào khi muốn bày tỏ tình cảm hoặc lòng tôn kính (Sáng 45:22, IVua 5:22) 

  

 Thay vì chỉ mặc một chiếc áo ngắn, nhiều khi giới giàu có mặc một  áo vải gai mịn và  khoát bên ngoài một áo  khác nữa bằng sợi thô sơ. Vẽ đẹp của những trang phục này không phải ở nơi kiểu dáng, vì nó không có khác biệt, nhưng khác biệt là ở màu sắc của chúng (Truyền đạo 9:8).
 Một nét độc đáo trong phong tục Do thái, ấy là “xé áo” biểu tượng cho sự đau buồn , hoặc bày tỏ tấm lòng ăn năn (Sáng thế ký 37:34 Gióp 1:20)(*5)
 

B. Màu sắc của Áo lễ thời Cựu ước.
 Các màu sắc của áo lễ được nói đến trong Kinh thánh được John Drange Olsen trong Kinh Tiết Sách Dẫn, mục “Áo xống” đã đề cập như sau: 

Người Do thái thường dùng những màu sau:
 *Màu trắng (Truyền đạo 9:8, Khải 19:14)
 *Màu tím (Êxêchiên 23:6)
 *Màu tía (Êxêchiên 27:7, Ðaniên 5:7)
 *Màu đỏ điều (Quan xét 8:26, ISamuên 1:24)
 *Nhiều màu (Sáng 37:3)
 

Người Do thái tr 

  

ang trí thêm:
 *Có tua nơi chéo áo, kết một sợi dây điều (Dân  15:38 Phục 22:12)
 *Xủ tua dài, như Chúa nói người Pharisi (Mathiơ 23:5) 

 Trong Thánh kinh Tự Ðiển của Giáo sĩ Wm.C.Cadman cho biết trong đền thờ Borsippa xứ Babylôn xưa, có bảy cấp bậc, mỗi bậc cò một màu thuận hiệp với tinh cầu mà bậc thang đó làm biểu tượng. Gồm có các màu từ thấp đến cao: Ðen, da cam, đỏ huyết, vàng, vàng lợt, xanh da trời và có lẽ là bạc. 

 Bảy bậc thang mang biểu tượng chỉ về: Thổ tinh, mộc tinh, hoả tinh, mặt trời, kim tinh, thuỷ tinh và mặt trăng. 

 Nhưng Kinh Thánh chép về màu sắc thì mang một ý nghĩa của biểu tượng là hình bóng hoặc thí dụ  kèm theo đó:
 *Sắc trắng: Biểu tượng cho:
  – Sự tinh sạch: Mác 16:5, Khải 3:4; 19:11,14.
  – Sự vui mừng: Truyền đạo 9:7-8.
  – Sự đắc thắng: Khải huyền 6:2.
 *Sắc đen: Biểu tượng đói kém và sự chết: Khải huyền 6:5-6.
 *Sắc đỏ: Biểu tượng về huyết, sự hy sinh: Khải huyền 6:4 IIVua 3:22 , so sánh với Nho (Eâsai 63:2) Với san hô (Cathương 4:7) 

  
 Sắc đỏ sậm: Biểu tượng cho sự sang trọng, vua chúa, vương giả.(*6) 

C. Trang phục Người Do thái thời Ðức Chúa Giêxu. 

 Sau khoảng một ngàn năm trăm năm lập quốc, Người Do thái đã có những bước tiến khá xa trong cuộc sống. Cho nên về y phục cũng có những phát triển, qua khảo cứu chúng ta nhận thấy đa dạng hơn:
 *Áo choàng: Phục 24:13.
 *Áo ngoài hay áo tơi: Luca 6:29 IITimôthê 4:13.
 *Áo dài: Daniên 3:21 Giăng 19:23; 21:7.
 *Áo ngắn: Ðaniên 3:21
 *Ðai, dây thắt lưng, dây nịt: ISamuên 18:4, Công vụ 21:11.
 *Mão: Lêvi 8:13 Xachari 3:5 Êphêsô 6:17.
 *Giày : Xuất 3:5, Êphêsô 6:15.
 *Dép: Mác 6:9, Êphêsô 6:15.
 *Lúp:Sáng 24:65, Êsai 3:19.
 

D. Áo của Cứu Chúa Giêxu mặc. 

  

 Theo Thánh Kinh Từ Ðiển, mục “Áo xống”, Giáo sĩ Wm.C.Cadman đã đề cập đến áo của Chúa Giêxu đã mặc như sau:
 “Về thế kỷ thứ nhất, người ta thường mặc áo lót ở trong áo ngoài. Chúa Giêxu thì mặc áo trong ra ngoài để thế cho áo ngoài. Trên áo đó, Ngài lấy vải gai mịn (tơ) làm đai, quấn ngang lưng vài vòng, Chơn Ngài mang giày da, áo ngoài thì bằng vải dệt lông, vuông dài, bốn góc đính nút nhỏ (Mathiơ 3:11; Mác 9:3). Còn đầu thì đội gì không rõ, chỉ biết rằng phong tục người Do thái, thì phái trí thức không bao giờ để đầu trần mà đến nơi công hội, song lấy vải gai trắng làm khăn bịt đầu.”
 Kinh thánh thường nói y phục các Vị Vua là màu đỏ tía. Vì vậy, khi lính Lamã tra tấn  Chúa Giêxu, thì họ đã choàng cho Chúa một cái áo điều, rồi chế diễu Ngài rằng: ”Kính lạy Vua Dân Do thái”(Mác 15:17-18).(*7) 

  

 Như vậy,  chúng ta thấy y phục của Dân Do thái trong thời Tân ước và trang phục của Ðức Chúa Giêxu đã mặc khi thi hành chức vụ. Ngài sống thật bình dị, hoà hợp trong sinh hoạt của cộng đồng Dân tộc. Có thể nói trong lăng kính Phúc âm hội nhập văn hóa rằng, Chúa Giêxu từ Nước Trời đến Nước Do thái và hoàn toàn hội nhập văn hóa Dothái để truyền giảng Phúc âm. Ngài trở nên Con người để cứu Con người.  Hơn nữa, thường nhật Chúa Giêxu đã trang phục bằng chiếc áo  “khiêm tốn” của Ngài, như Giáo sĩ Wm.C.Cadman đã nói:”Chúa mặc áo trong ra ngoài để thế cho áo ngoài” , còn áo khoát của Chúa chỉ là tấm vải dệt lông, hình chữ nhật  dài (Mác 9:3; 15:24; Mathiơ 27:35 Luca 23:34; Giăng 19:23-24)  “Quân lính đã đóng đinh Ðức Chúa Giêxu trên thập tự giá rồi, bèn lấy áo xống của Ngài chia làm bốn phần , mỗi tên lính chiếm một phần. Họ cũng lấy áo dài của Ngài, nhưng vì áo dài đó không có đường may, chỉ nguyên một tấm vải dệt ra, từ trên chí dưới. Vậy họ nói với nhau rằng: Ðừng xé áo này ra, song chúng ta hãy bắt thăm, ai trúng nấy được.” (*8) 

E. Áo lễ dự tiệc cưới mà Chúa Giêxu đã dạy. 

  

  Ðức Chúa Giêxu đã dạy một ẫn dụ về Tiệc Cưới trong Mathiơ 22:1-14.
 Trong câu chuyện này nói lên lòng yêu thương bao dung của Ðức Chúa Trời đối với nhân loại. Khi những vị khách được mời xem thường, không đến. Vua đã cho mọi người khắp nơi đến dự tiệc. Nhưng vấn đề ở đây, trong cuối câu chuyện là vấn đề áo lễ của Tân khách.  Kinh thánh chép ”Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ. Người ầy được Vua hỏi, song không trã lời được và cuối cùng là phải bị trục xuất ra ngoài”. Tại sao? Có phải Chúa quá khắc khe về lễ phục? 
 Các Nhà giải kinh đã giải thích rằng theo phong tục Do thái thì chủ tiệc phải may sẳn áo lễ cho mỗi khách mời. Ðiều này là cần thiết vì tân khách của bửa tiệc này được mời thẳng từ ngoài đường vào (Mathiơ 22:9-10). Vị khách này đã không tuân thủ lễ nghi tiệc cưới, không tôn trọng chủ tiệc là người đã sắm sẳn áo lễ cho mình. Hành động đó là một sự thiếu tôn trọng chủ tiệc nên bị trục xuất là điều tất nhiên.  Áo lễ là một sự tôn trọng, là một nghi thức không thể thiếu khi ra mắt Vua. Thí dụ này mang đến chân lý cho chúng ta về sự cứu rỗi, ai nấy phải nhận một cách riêng, cách cá nhân, riêng lẽ nhưng chúng ta phải tuân thủ phương pháp cứu rỗi của Chúa, nghĩa là phải chấp nhận và vâng phục những điều Ðức Chúa Trời ban cho chúng ta. Chúng ta bước vào Nhà Vui mừng bằng chiếc áo công nghĩa của Ðức Chúa Giêxu (Áo lễ dự tiệc) chớ không phải bằng “chiếc áo công bình” của riêng mình, bởi vì “ sự công bình của con người chỉ giống như chiếc áo nhớp, chiếc áo dơ bẫn trước mặt Ðức Chúa Trời”(Eâsai 64:6) 

 Theo Warren W.Wiersbe 

  

 giải thích Mathiơ 22:11-14 thì cho rằng các câu kinh thánh trên có vẽ như phần phụ thêm cho thí dụ Chúa Giêxu kể, nhưng những câu kinh thánh này cực kỳ quan trọng. Áo lễ do chủ tiệc cưới cung cấp để mọi người đều được ăn mặc lịch sự và đó là sự  bao dung của Chúa để người nghèo không cảm thấy xấu hổ. Mọi người được bình đẳng.(*9)
 Trong kinh nghiệm hầu việc Chúa, người viết cũng nhận thấy rõ điều vừa nêu, chúng tôi đồng quan điểm với W.W.Wiersbe, khi chúng ta trang bị  áo lễ cho Các Ca đoàn thì người giàu người nghèo trong  Hội thánh đều bình đẳng. Ăn mặc đẹp như nhau khi thờ phượng Chúa. Tôi còn nhớ Ðồng Phục Ðoàn sinh Chương trình Hướng sinh Tin Lành của Tổng đoàn Thanh Niên Tin lành, và đồng phục màu huyết dụ của trại sinh chương trình đoàn ngũ hoá của Uỷ ban Thanh Thiếu nhi Tổng Liên hội vừa qua [2001-2005](*10) đã tạo nên sự bình đẳng trong giới trẻ khi mặc vào chiếc áo đồng phục trong các kỳ trại hè hay trại huấn luyện. Sự hoà hợp ấy tạo nên một sức mạnh. 

 

IV. ÁO LỄ MỤC SƯ TRONG  SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA
      HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ 

  Theo chiều dài Lịch sử của Hội thánh Tin lành Việt nam trong hơn chín mươi  năm qua, theo các chuyễn biến của Ðất Nước, theo đà phát triễn Văn hóa Dân tộc, chiếc Áo lễ của các Mục sư trong Hội thánh cũng  theo đó mà cách tân, hội nhập Văn hoá Dân tộc Việt. Qua nghiên cứu chúng ta thấy diễn trình thay đổi qua các thời kỳ sau đây:
 A. Áo lễ Mục sư là Quốc Phục. 

 Năm 1911, Tin lành được chính thức đến Việt nam. Nhưng thật ra, từ năm 1887, Tấn sĩ A.B.Simpson đã viết nhiều sách cỗ động cho việc Truyền giáo Tin lành đến Việt nam.Mùa hè năm 1893, Mục sư David Lelachair đã đến Sàigon. Năm 1897, Giáo sĩ C.H.Rieves đã viếng thăm và xem xét tình hình Việt nam. Năm 1898, Giáo sĩ R.A.Jaffray từ miền nam Trung hoa đến thăm Hà nội.(*11)
  Mãi đến mùa xuân 1911 các giáo sĩ R.A.Jaffray, Pavl M.Hoser và G.Lloyd, Hugl Ers đã đến hải cãng Tourane (Ðà nẳng) miền trung Việt nam. Họ mua được một căn nhà ở đường Khải định số 66 và thêm một căn ở đường Nguyễn Hoàng số 67, để làm trụ sở truyền giáo. Ðây là trụ sở đầu tiên của Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp tại Việt nam. Sự kiện này đánh dấu sự có mặt của Tin lành tại Việt nam.
 Hai năm sau, năm 1913 Hội thánh Tourane được thành lập, lúc đầu chỉ có hai mươi ngươì. Tháng 9 năm 1921 Các giáo sĩ mở lớp dạy Kinh thánh tại Ðà nẳng, lớp học là một cái phòng, trước dùng để xe ngựa. Khóa học đầu tiên có sinh viên là bảy người. Ðến cuối niên khóa 1921-1922 số sinh viên là chín người.(*12)
 Năm 1924 Hội đồng Tổng Liên Hội lần thứ nhất được tổ chức tại Ðà nẳng, nhưng phải đến Hội đồng vào ngày 5 – 13/3/1927 mới chính thức kể là Hội Ðồng Tổng Liên Hội đầu tiên được thành lập. Mục sư Hoàng Trọng Thứa đắc cữ Hội trưởng đầu tiên của Hội thánh Tin lành Việt nam.(*13)

 Mặc dù, không có một tài liệu hay sử liệu nào quyết định liên quan đến giáo nghi hay cụ thể là Áo lễ của Mục sư ( hoặc có thể do hiểu biết thiển cận và thiếu tư liệu lịch sử của người viết, rất mong được giúp đỡ  của Hội thánh chung. Nếu có, thì  người viết vô cùng biết ơn), nhưng có lẽ Áo lễ của các Mục sư  đầu tiên trong Hội thánh Tin lành đã mặc là quốc phục. Các mục sư thường mặc để thi hành chức vụ, khi thờ phượng hay rao giảng ở nhà thờ. Chúng tôi xin đính kèm theo đây ảnh Cố Mục sư Hoàng Trọng Thừa, Hội trưởng đầu tiên HTTLVN. Làm chứng cứ sử liệu (Trích Lịch sử Danh nhân Cơ đốc Giáo hội của Truyền đạo Trần Ngọc Vỹ)(*14) 

Quốc phục mà các Mục sư đầu tiên trong Hội thánh thường mặc là Áo dài the đen, khăn đống đen, quần trắng, áo trong là áo bà ba màu trắng. Người mặc thường đi guốc gỗ, hoặc mang giày tây màu đen.
 Một trong những lý do khiến cho quốc phục ( áo dài khăn đống) trở nên Áo lễ của Mục sư Tin lành Việt nam là bối cảnh xuất thân của những Mục sư đầu tiên. Các vị ấy có người là Nhà nho, Nhà Giáo hoặc Thông Ngôn (Chức danh của Nhân viên Chính phủ thuộc Pháp)(*15) cho nên đã quen với cách trang phục áo dài khăn đống giữa Cộng đồng Dân tộc.

 Một trong những lý do nữa, đó là văn hoá Dân tộc Việt bấy giờ các quan chức Chánh quyền, các Nhà Giáo thường mặc quốc phục. Cho nên, trong Hội thánh, Người Tín hữu quan niệm Mục sư cũng là một Nhà Giáo, một vị thầy dạy Ðạo cho tín hữu. Từ quan niệm này, các mục sư mặc quốc phục như một mặc định vị trí xã hội của mình. 
 Cùng với quan điểm của Hội thánh chúng ta trong thời bấy giờ, Giáo Hội Cao Ðài (Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ) đã có lễ phục bằng vải màu trắng toàn bộ, từ khăn đống, quần áo trong và ngoài, kể cả giày dép đều màu trắng. Màu trắng của lễ phục đó trở thành biểu tượng tôn giáo đặc trưng Ðạo Cao Ðài trên quê hương chúng ta.(*16)  
 Thêm vào đó, khi người nam tín hữu Cao đài không cắt tóc, mà búi tóc lên cao (búi “củ tỏi”). Hình ảnh đó trở nên một qui ước của Cộng đồng mang tính biểu tượng văn hoá tuỳ thuộc cộng đồng đó thõa thuận và công nhận với nhau. Do đó, Áo lễ Cao Ðài màu trắng  trở nên biểu tượng truyền thống và văn hóa đặc thù của Ðạo Cao Ðài trong Cộng đồng Dân tộc. 

 B.Áo lễ Mục sư Tin lành là Âu phục. 

 Có lẽ Lễ phục của Mục sư Hội thánh Tin lành Việt nam phổ quát và truyền thống hơn hết chính là Âu phục. Nền tảng của nhận định này dựa trên chiều dài của thời gian, của lịch sử Giáo hội. Gần mười thập kỷ đã qua, các mục sư thường mặc Âu phục khi giảng dạy hay hành lễ trong Hội thánh.
 Hình ảnh cạnh đây minh hoạ cho thấy nét bình dị nhưng đặc trưng của mục sư Tin  lành Việt nam, gồm áo vét tông, quần tây, áo sơ mi. Áo thường màu trắng hoặc màu nhạt, Thắc cà vạt và mang giày tây màu sặm. Ðôi khi có mục sư mặc âu phục màu trắng toàn bộ trong các lễ trọng của Hội thánh.(*17) 

 Tại sao dùng Âu phục làm lễ phục? 

 Có lẽ, câu trã lời đầy đủ nhất vẫn là mục đích ban đầu của Hội Truyền Giáo Phước âm Liên hiệp là truyền giảng Tin lành. Mà khi muốn Truyền giảng Tin lành đạt hiệu quả thì việc hội nhập văn hoá là điều cần thiết nhất. Cuộc sống Mục sư bình dân, giãn dị chừng nào tốt chừng nấy. Người Việt có câu:”Quen xem dạ, lạ xem áo quần”. Mục sư hoà nhập cuộc sống, ăn mặc đơn giãn, tạo nên sự gần gủi tín hữu thân tình hơn. Nếu mang bộ áo lễ là áo thụng hay áo dài quốc phục suốt ngày thì  bất tiện trong sinh hoạt và xa rời cộng đồng. Sự dị biệt trong áo lễ sẽ tạo ra ngăn cách giữa người chăn và chiên của Chúa.
 Các Mục sư Giáo sĩ của Hội Truyền giáo Phước âm Liên hiệp thường mặc âu phục khi hành lễ, giảng dạy . Áo lễ ấy không tạo sự cách biệt quá lớn cho người Việt trong bối cảnh Văn hoá Ðất nước thuộc Pháp trước đây.
  Trong xu hướng cải cách, canh tân từ văn hoá đến ngôn ngữ ( từ chữ nho, chữ nôm sang  chữ quốc ngữ của dạng chữ latinh ) các Mục sư Tin lành Việt nam đã tiếp nhận văn hoá Pháp trong tinh thần cách tân, âu hóa hơn trong cuộc sống. Kết quả đưa đến sự lựa chọn âu phục làm lễ phục trong chức vụ Mục sư. Sự lựa chọn này là mặc nhận, do việc sử dụng thường xuyên thành nề nếp tập quán, chưa có quyết định bằng văn bản hoặc thành luật, được ban hành từ Cấp Lãnh Ðạo Hội Thánh. Mà nếu có thì quyết định ấy phải thông qua Ðại Hội Ðồng Tổng Liên Hội, được biểu quyết bởi các Ðại biểu Tín Hữu và Mục sư, Truyền đạo thì mới có hiệu lực thực hiện trong Giáo Hội. 

 C.Các lễ phục trong Hội thánh hiện hữu. 

 Chúng tôi bắt đầu tiết mục này bắt đầu bằng những sự kiện đã xãy ra trong Hội thánh, như là “hiện tượng” cần tìm hiểu và cân nhắc khi quyết định, chớ không phải là một chủ trương giáo nghi. Bởi vì, Áo lễ Mục sư là vấn đề thuộc thẫm quyền của Hội thánh do Ðại hội đồng Tổng Liên Hội thông qua và quyết định. Sự biên soạn kiểu dáng, màu sắc do Ban Trị sự Tổng Liên Hội chịu trách nhiệm cử Ban Soạn thảo Giáo nghi và Mục vụ của Hội thánh phụ trách.
  Chúng tôi chỉ xin nêu lên vấn đề trong cái nhìn tổng quát và nêu lên sự kiện hiện hữu toàn diện hơn trong sinh hoạt Hội thánh, ngỏ hầu chúng ta đối diện vấn đề và tìm giải pháp tốt nhất đáp ứng nhu cầu Hội thánh.
 Như đã đề cập phần giới thiệu,  Hội thánh Tin lành chúng ta chưa có lễ phục riêng, tức là Áo lễ đặc biệt của Mục sư, như áo lễ đặc biệt của các vị Linh mục Giáo hội Công giáo, Phật giáo hay Cao Ðài giáo. Mặc dù, chúng ta đang có các Loại Áo Lễ trong Hội thánh: 

 1/.Lễ phục Ca Ðoàn ( Ban Hát) 

 Riêng về Ban hát lễ của Hội thánh. Chúng ta nhận thấy đó là loại áo thụng, rộng và dài, có tay rộng. Thường áo có màu trắng, có yếm màu, viềng cổ. Màu yếm làm biểu tượng cá biệt cho từng hạng tuổi, ban ngành. Hiện nay chưa thống nhất chỉ đạo từ trên. Các Hội thánh tuỳ theo ý thích của ban hay của vị Mục sư Quản nhiệm mà lựa chọn. Cũng có nơi may áo lễ ban hát màu đỏ sặm (huyết dụ) hay màu kem hoặc màu xanh dương đậm có viền trắng.
 Có Hội thánh suy nghĩ nghiêng về Văn hoá Dân tộc hơn, đã chủ trương áo lễ nữ là Áo dài Truyền thống Việt nam (kiểu Raplan). Màu sắc của áo thì tuỳ ý thích của các bà hay quí cô trong ban hát đó lựa chọn. Chất liệu vải cũng tuỳ theo khả năng của ban đó có dồi dào hay không mà thực hiện.
 Riêng Nam ban viên thì quần tay màu sặm và áo sơmi tay dài, thường thì màu trắng, cũng có ban chọn màu nhạt, nhất là giới trẻ. Ban Hát Nam giới hầu hết thắc cà vạt. Có ban đặt may cà vạt cùng màu và in hình biểu tượng (logo) giống nhau. Biểu tượng thiên về chủ đề Cơ đốc như hình  thập tự, mão triều thiên, hình Chúa Giêxu, chữ “Halelugia”, chữ “God is love”…
 Còn Nhạc Trưởng của ban  hát đôi khi cũng mặc áo lễ giống  như ban hát, đôi khi lại mặc áo vét tông. Còn người đánh đàn thì không nhất thiết, có khi mặc áo lễ có khi mặc thường phục là quần tây áo sơmi?! Tại sao cùng một Ban Hát mà người có người không? 

 Tại sao không xem là quan trọng? Sự thờ phượng của Hội thánh là sự kết hợp của tất cả mọi người, từ người hướng dẫn đến hội chúng, người chỉ huy dàn nhạc ca đoàn, người đánh đàn , người lo âm thanh, ánh sáng và trang trí nữa. Sự thờ phượng là một kết hợp tổng thể những tấm lòng tôn kính dâng lên của lễ thờ phượng Ðức Chúa Trời- Ðấng đáng được tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời.(*18)
  Từ trong những nghi thức của mục vụ, thờ phượng, chúng ta đã thiếu xót quá lớn. Sự sai xót đó không phải là không sửa chửa được, nhưng nan đề vẫn tồn tại bởi sự thiếu quan tâm của chúng ta, thiếu hướng dẫn và giáo dục Tín hữu về ý thức thuộc linh. Chúng ta phải cố gắng khắc phục tinh thần “cầu tiến nửa mùa”, “Làm việc chiếu lệ”. 

  Phải chăng tinh thần ấy đã “thâm căn cố đế” đến nổi chúng ta không cảnh giác khi thực hành những giáo nghi hệ trọng trong mục vụ Hội thánh. Rút kinh nghiệm từ Lịch sử chúng ta sẽ thấy sự thiếu xót nêu trên.  Ba mươi năm trước, Thánh Kinh Thần học viện Hòn Chồng Nhatrang đã có Một Mục sư Giáo sư Tiến sĩ từ Hải ngoại về phụ trách Giám Học. Cảm tạ Chúa, Ngoài kiến thức Thần học,  ông cũng mang theo một số kiến thức tổ chức mục vụ trong đào tạo và giáo dục. Năm 1974, Lễ tốt nghiệp Thần học rất trọng thể, không chỉ bởi số sinh viên đông đúc ra trường, mà buổi lễ rực rỡ trong bộ áo lễ tốt nghiệp là áo thụng đen, mũ có tua, lần đầu tiên được áp dụng cho sinh viên tốt nghiệp Thần học tại Việt nam. Sinh viên là vậy, đáng tiếc là Ban Giáo sư thì vẫn bộ “vét tông truyền thống” mà thôi!?
 Tại sao?  Chúng ta có quyền thiết kế một Bộ Áo Lễ cho Ban Giáo sư Thánh kinh Thần Học Viện theo hình thức giống như Các Ban Giáo sư của các Viện Thần học trên thế giới? Một Áo lễ của Viện Thánh kinh Thần Học Việt nam. Có thể Áo thụng thì giống nhau, nhưng màu sắc thì có thể khác đôi chút. Màu áo thường thì đen nhưng màu sắc của tua màu, bảng ngực và khăn choàng, tuỳ thuộc vào ngành nghiên cứu, nên theo qui định chung. Ba vạch ngang ở hai tay áo biểu trưng học vị của Giáo sư, thì chúng ta nên nghiên cứu thêm phần này cho thích hợp.
  Chúng tôi đang khi thực hiện bài viết này thì nghĩ đến Lễ Tốt nghiệp đầu tiên của Viện Thánh kinh Thần Học Tin Lành tại TP.HCM sẽ được tổ chức vào năm 2006 sắp đến. Ước mong Tổng Liên Hội vì Danh Chúa cần được cả sáng, vì sự kiện toàn mục vụ của Hội thánh Tin lành chúng ta trước xu thế đổi mới của Ðất Nước và Giáo hội để hội nhập Văn hóa trong Khu vực và Toàn Cầu, mà chuẫn bị cho kịp thì, kiện toàn khâu tổ chức. Cho dù, gợi ý này từ một Ðầy tớ hèn mọn của Chúa, nhưng là một trăn trở từ đáy lòng chúng tôi mong sao Giáo hội ngày một tươi đẹp hơn.
 Kính xin Hội thánh chung luôn cầu nguyện cho sự phấn hưng Hội thánh. Thêm một Bài học Lịch sử còn đó. Áo lễ Báp tem đã được thực hiện từ Ðại Hội Ðồng Giáo Phẫm lịch sử, hiện nay ra sao? Hội thánh áp dụng đồng bộ hay chổ có, chổ không! Có văn bản nào hướng dẫn cụ thể? Ðã đưa vào nghi thức của Quyển Hướng Dẫn Mục Vụ, hay công bố một văn bản dưới luật nào cho vấn đề này?
 Còn hơn thế nữa, tại sao chỉ có Áo Lễ cho Mục sư Hành Lễ Báptem mà không có Áo lễ cho Mục sư Hành lễ Hôn Phối, Phong chức, Cung hiến và An táng??? Khoảng trống này đến khi nào mới lắp đầy đây? (Êxêchiên 22:30).
  Trên thực tế, đã có sự tự phát do vài vị Mục sư đã mặc Áo lễ Mục sư của “Hệ Phái anh em” để làm lễ Hôn Phối trong Thánh Ðường. Ðúng hay sai?  Người viết không kết luận, nhưng theo quan điểm của chúng tôi, thì đó chính là hoài bảo, là hảo tâm muốn làm một điều gì mới và tốt đẹp, ích lợi cho Giáo hội và chức vụ của mình nên các Mục sư làm vậy. Ðể cảm thông hơn, chúng ta có thể xem đó là một “thể nghiệm mục vụ”, một thí điểm, một dấn thân trước khi áp dụng rộng rãi trong toàn Giáo hội vậy.
 
 2/ Lễ phục Báptem.
 

 Dù chưa có biểu quyết thống nhất từ Tổng Liên hội, nhưng hầu hết các chi hội địa phương tuỳ điều kiện có được đã trang bị khoảng vài mươi áo lễ cho Tân Tín hữu mặc trong dịp lễ báptem.
 Áo lễ báptem thường có màu xanh dương đậm, áo rộng, dài hơn quá đầu gối. Có đai buộc ngang lưng. Ðặc biệt là cài nút phía trước, ngược lại áo lễ của ban hát, thường là cài nút phía sau.(?!) Có lẽ giúp cho người chịu lễ báptem dễ dàng thay áo sau khi chịu lễ.
 Riêng về màu thì trước đây các Chi hội thường may màu trắng, viền đỏ, với ý nghĩa  mang tính biểu tượng là tinh sạch nhờ huyết Chúa. Nhưng có lẽ trong quá trình hành lễ , đi vào thực tế thì thấy không được trang nghiêm… vì sau khi chịu lễ từ hồ báptem  đi lên người mặc áo lễ trắng bị ướt, vải dính sát vào da thịt… trông không được nghiêm túc cho lắm! Từ đó ai ai cũng nhất trí đổi sang màu xanh dương đậm. Áo lễ Báptem cho Tân Tín hữu hình thành từ nhu cầu chính đáng của Hội thánh. Theo thời gian chính nó đã kiện toàn cho hình thức mục vụ trong xu thế đổi mới để phù  hợp văn hoá Việt nam. 

 Riêng về Mục sư Hành lễ báptem thì sao? 

 Trước đây không lâu, các Mục sư mặc âu phục làm lễ báptem (Áo vét tông, quần tây, mang vớ). Nhớ ngày xưa, có Mục sư làm lễ ở suối (miền cao nguyên) ở sông, rạch (miền đồng bằng) rất đơn giãn mặc áo sơmi, quần tây, thắc cà vạt khi làm lễ (Có lẽ ngoài trời nắng nóng, hay sợ giặt áo vét thì cực quá!?) Hình thức tuy đơn giản nhưng  Hội thánh rất được phước.
 Từ thập niên bảy mươi đến chín mươi. Một số Mục sư đã tự ý chọn cách mặc áo lễ của  ban hát khi hành lễ baptem, mặc dù chưa có một qui định nào về vấn đề này.
  Từ thập niên chín mươi  đến năm hai ngàn, có vài mục sư  đã tự thiết kế cho mình một áo lễ đẹp, trang trọng theo kiểu của Hội thánh Hải ngoại. Tuy nhiên, chỉ mặc trong lễ baptem mà thôi. Dẫn đầu là một Mục sư trong Ban Trị sự Tổng Liên hội (1976) đã thực hiện một áo lễ để làm lễ baptem. Việc ấy đã tạo nên một luồng sóng dư luận, gây xôn xao trong sinh hoạt Hội thánh, nhiều người ủng hộ nhưng cũng lắm kẻ phê bình.
 Năm hai ngàn lẽ một, Ðại Hội đồng Tổng Liên Hội được triệu tập và sau hai mươi sáu năm , Hội thánh Tin lành Việt nam đã bầu cữ Tân Ban Trị sự Tổng Liên Hội. Cũng trong nhiệm kỳ này, Hội thánh chung dưới sự triệu tập của Tổng Liên Hội, Ðại Hội đồng Giáo phẩm được tổ chức. Trong Ðại hội đồng này, ngoài việc bầu cữ Hội đồng Giáo phẩm, Ðại Hội đồng đã biểu quyết thông qua “Áo Lễ Mục sư  Tin lành mặc hành lễ báptem”. Áo lễ là một áo thụng, rộng và dài hơn đầu gối. Màu huyết dụ ( còn gọi là đỏ Bordeau) có bảng viền cổ lớn hình tam giác nối dài hai sọc trước ngực xuống đến lai áo, rộng khoảng 10 phân (100cm) có màu xanh dương đậm. Trên bảng viền cổ hình tam giác, bên phía trái có thêu hình thập tự giá màu trắng nhỏ.  Sau Ðại Hội đồng, Ban Trị sự Tổng Liên hội đã thực hiện số lượng lớn và mỗi Mục sư Ðương nhiệm đều nhận được mỗi người một áo. Thật là một bước tiến lớn trong nền giáo nghi Hội thánh.
 Tuy nhiên, áo lễ này cũng gặp một số trở ngại và có một số ý kiến không đồng tình về màu sắc và kiểu dáng. Màu đỏ huyết dụ và xanh dương đậm không hợp tông màu nên thấy tối (!) Kiểu dáng đẹp, nhưng để thêm thập tự giá trắng trên ngực thì không cân. Nếu để ngay giữa nơi chéo tam giác thì giống Giáo hội Công giáo (Chỉ khác biệt là cái thì thêu cái thì bằng kim loại). Có người cho rằng nếu không để biểu tượng gì cả thì hay hơn. Có người góp ý vòng cỗ tròn nơi viền cổ  nên rộng hơn để có thể thấy cổ áo sơmi có thắc cà vạt bên trong thì nghiêm trang hơn. Nói chung là màu sắc và kiểu dáng chưa hài hoà lắm đối với Văn hoá Việt nam và truyền thống Hội thánh.
 Ðối diện vấn đề và tìm giải pháp là lòng mong ước của chúng tôi. Chúng tôi xin mạo muội nêu ra những ý kiến tham khảo từ nhiều nguồn khác nhau trong và ngoài nước để Quí  Mục sư, Chấp sự và Tín Hữu tiện bề tham khảo và góp ý. 

V. ÁO LỄ MỤC SƯ TIN LÀNH  TRONG XU HƯỚNG
      PHÚC ÂM HỘI NHẬP VĂN HÓA ?
 

 Một  Mục sư trong Hội Ngôn Ngữ học tham gia dịch Kinh thánh đã nói một trường hợp thật tức cười, khi dịch câu :”Chúng ta thờ phượng Chúa bằng tấm lòng” nhưng một bộ lạc ở Phi châu thì không thể dịch như vậy được, phải dịch là “Chúng ta thờ phượng Chúa bằng lổ tai”, vì theo Dân tộc này, cái cao quí nhất nằm trong lổ tai (trên đầu), chớ không phải là tấm lòng (nơi cái bụng.)(*19)
 
 Kính thưa Quí Vị cùng Quí Bạn Ðọc,
 

 Yếu tố văn hoá trong sự thờ phượng mang một ảnh hưởng rất lớn, tuỳ theo Dân tộc đó quan niệm về Ðức Chúa Trời như thế nào là cao quí nhất.
 Cũng có một Giáo sĩ đi truyền giáo ở Phi châu, ông kể lại lúc đầu giảng dạy không kết quả trong các buổi nhóm sáng Chúa nhật hằng tuần. Sau đó, ông tìm hiểu quan niệm của Bộ lạc này, sự thờ phượng thiêng liêng và cao quí nhất là thời gian ban đêm. Biết vậy, ông tổ chức ban đêm thì dân chúng đến thờ phượng rất đông.  Một lần nữa, chúng ta nhận thấy yếu tố văn hóa ảnh hưởng trên sự thờ phượng rất nhiều. Như Các Tín Hữu người Việt chúng ta quan niệm ngày thờ phượng Chúa vào ngày đầu năm, Tết âm lịch. Kinh thánh không có qui định về ngày này, thậm chí còn khiển trách nữa “Anh em hãy còn giữ ngày, tháng, mùa, năm ư! (Galati 4:10) Văn hoá phong tục ảnh hửơng đến đức tin chúng ta trong cuộc sống rất nhiều.
 
 

Sự thờ phượng là một mục vụ thuộc linh, nhưng cũng là một mục vụ của  tổ chức, liên quan đến cộng đồng, đến con người. Khi nói đến cộng đồng, nói đến con người là nói đến văn hoá. Sự  thờ phượng là nghi thức đặc thù của tôn giáo, nhưng được thực hiện bởi những con người mang bản sắc dân tộc riêng biệt, tôn kính thờ phượng Ðức Chúa Trời bằng chính văn hoá, ngôn ngữ đặc thù của dân tộc đó.  

Xu hướng thế giới, ngoài ngôn ngữ, thì âm nhạc là ngôn ngữ thứ hai trong thờ phượng, người ta có xu hướng dùng âm nhạc dân tộc để sự thờ phượng của dân tộc đó gần gủi với Ðức Chúa Trời hơn trong văn hoá của chính họ. Những năm gần đây, Hội thánh đã quan tâm nhiều hơn về nền Thánh nhạc Dân Tộc. Trong những chương trình thờ phượng, đặc biệt là truyền giảng, các bài thánh nhạc, thánh ca cải biên từ âm điệu dân ca được hát lên thật nhiều. Hiệu quả to lớn là lời Chúa được chuyễn tải bằng chính âm nhạc dân tộc chúng ta nên dễ đi vào lòng người nghe. Bài vọng cổ Lời Cảm tạ được Tín hữu Ðồng bằng Nam bộ ngân nga trên sông nước thật đầy cảm xúc. Bài vọng cỗ “Chúa Hy sinh” với Ngũ Âm réo rắc, nỉ non diễn đạt sự đau thương của Chúa dường như gần gủi hơn với Ðồng bào Việt nam chúng ta. 

 Trong sinh hoạt Hội thánh đầu tiên mà Kinh thánh có ghi lại. Bữa tiệc cuối cùng do Ðức Chúa Giêxu dạy dỗ “Hãy làm điều này để nhớ ta” Kỷ niệm này trong Hội thánh đầu tiên mỗi khi nhóm lại, đã thực hiện làm hai phần như Chúa đã làm. Bửa tiệc thân ái, hay còn gọi là tiệc yêu thương , rồi sau đó họ cùng dự tiệc thánh (Công vụ 2:42, 46). Chúng ta có thật sự theo Lời Chúa?
 Ngày nay, chúng ta đã làm theo sự dạy dỗ của Chúa và gương mẫu của Hội thánh đầu tiên, nhưng chúng ta phải thích nghi với văn hóa thế giới ngày nay và đổi mới trong mục vụ do điều kiện thuận lợi của Hội thánh. Chúng ta đã dự tiệc thánh trong giờ thờ phượng nơi nhà thờ, còn bửa tiệc thân ái để liên hoan thì tổ chức sau, lâu lâu một lần. Bởi vì, ăn hoài hằng tuần sẽ rất bất tiện trong sự thờ phượng, và nếu ăn với lễ tiệc thánh trong giờ thờ phượng thì Hội thánh thành một “Nhà Hàng Tin lành” hay là “Quán cơm từ thiện” mất rồi. Mục đích chúng ta giữ đúng nhưng phương pháp đã thay đổi.
  Theo nguyên tắc đó, chúng ta có thể cách tân những gì thuộc về tổ chức, thuộc về văn hoá cho phù hợp với văn hoá cộng đồng với mục đích mang Phúc âm hội nhập vào Dân tộc, để cứu rỗi linh hồn đồng bào đang hư mất. Nhưng phải xác định rằng, cho dù có thay đổi vài mục vụ, giáo nghi thì “Chân lý” của Thánh Kinh vẫn “bất di bất dịch”, không thể nào và không bao giờ thay đổi. 

 Vì vậy, chúng ta có nhận định chung về Áo Lễ Mục sư Tin lành Việt nam lúc đầu là Quốc phục (Áo dài khăn đống) trong thời Quân chủ (Vua), rồi đến thời kỳ Cộng hòa (Tổng Thống, Chủ tịch) thì áo lễ Mục sư Tin lành thay đổi theo Âu phục. Vậy trong xu thế đổi mới của xã hội, Người Việt tìm về bản sắc Dân tộc, thì Hội thánh Tin lành vẫn không thay đổi  sao?(Mặc dù theo truyền thống lịch sử, theo truyền thống văn hoá Cơ Ðốc, Giáo hội đã tiếp nhận cái hay và cách tân để tự hoàn thiện tổ chức Hội thánh, bổ sung giáo nghi cần thiết). Nếu chúng ta thực hiện mục vụ này, Áo lễ Mục sư Tin Lành Việt nam  sẽ có nét đặc trưng  văn hoá Cơ Ðốc như  áo lễ đặc trưng của Tôn giáo bạn là Cao Ðài, Công Giáo và Phật giáo trên quê hương chúng ta!
 Lại nữa, nếu Ban Hát lễ trong Hội thánh có áo lễ từ Ban Thiếu nhi, Ấu nhi, Thiếu niên đến Thanh niên, Tráng niên và Trung Lão niên đều có áo lễ, thì tại sao Mục sư khi cữ hành thánh lễ lại không có?! Tại sao  sự học hỏi và tiếp nhận điều hay lẽ phải cho Hội thánh quan trọng như vậy, mà Hội thánh lại để tự phát, tuỳ tiện, và áp dụng “nửa vời” người có người không, nơi làm nơi bỏ?!
 Nếu Các Tân Tín hữu vừa tin nhận Chúa, học giáo lý và chịu lễ báptem đã được Hội thánh may áo lễ cho thật đẹp, thật trang trọng khi chịu lễ, thì tại sao Mục sư của họ không có áo lễ đặc trưng? Còn Các Thánh Lễ Hôn phối, Phong chức, Tang lễ có cần Áo lễ cho Mục sư không? Hay cứ để tự phát rồi bị lên án! 

 Như sự kiện trong phần dẫn nhập của chúng tôi, xin đừng để Mục sư trong Hội thánh chúng ta quá ao ước một ”áo lễ” cho chức vụ của mình, mà quyết định sai trật, như mượn “áo của người ta” hoặc tự tiện, vượt tổ chức Hội thánh mà tự thiết kế một loại áo lễ nào đó cho riêng mình. Chúng ta phải đối diện vấn đề và tìm giải pháp thiết thực nhất cho vấn đề áo lễ. Trách nhiệm này từ Lãnh đạo Giáo hội. Chúng ta cảm thông và cầu nguyện cho Các Tôi tớ Chúa trong trách nhiệm đa đoan, nhiều khi biết mà không đủ thời gian lo cho những vấn đề dường như không quan trọng lắm(!?)  

Hội thánh cần  phải có Ban Soạn thảo Giáo nghi để cập nhật những mục vụ cần thiết trình Ðại Hội đồng biểu quyết, thông qua và thực hiện. Thảo luận và soạn thảo những mục vụ chuyên nghiệp phải do những nhà chuyên môn trong lảnh vực đó cùng ngồi lại với các Mục sư chuyên trách mục vụ , hầu cho những biểu quyết lúc nào cũng có tính cách thuộc linh mà không mất tính chất chuyên nghiệp. Thực hiện Áo Lễ Mục sư Tin lành phải chăng là trách nhiệm của Hội Ðồng Giáo phẩm? 

 Ðược biết trong những dịp đại lễ, hay Tết cỗ truyền của Dân tộc, một số Mục sư ở Hải ngoại, nhớ về quê hương, họ đã mặc quốc phục (Áo dài gấm màu xanh dương bông trắng rất đẹp, cũng có đội khăn đống và mang giày tây thật lịch sự). Mùng một Tết ra mắt Hội thánh cùng các cháu thiếu nhi mặc quốc phục thật rực rỡ đứng lên tôn vinh Ðức Chúa Trời. Một nét đẹp của Văn hoá Việt trong Văn hoá Cơ đốc. Nó là một điểm sáng, một “cái gì đó” thật Việt nam trên Ðất khách Quê người. Người viết trong chức vụ đã có lần tham dự một Hội nghị Truyền giáo Thể thao Quốc tế tại thành phố biển Athen, Hi lạp năm 2003. Theo yêu cầu của Ban Tổ chức, đêm khai mạc và đêm Châu Á,  đoàn chúng tôi có bốn người đã  xúng xính trong bộ quốc phục giữa bầu bạn thế giới thật là vui.
 Hiện nay, xu hướng Truyền giáo thế giới là “Hãy để người Châu Á giảng Tin lành cho Người Châu Á”. Lát đát đây đó, Các Nhà Thần học đang làm Thần học Châu Á, Thần học Việt nam, Triết học Việt Tộc… thì tại sao chúng ta không thể thực hiện cho các Mục sư trong Mục sư Ðoàn của Hội thánh Tin lành Việt nam một bộ áo lễ thật đẹp, thật là Việt nam chứ? Thiết tưởng, ngoài áo lễ mặc hành lễ  trong sự thờ phượng, cũng nên có thêm một áo sơmi được cách tân, có nét đặc thù cho Mục sư Tin Lành trong sinh hoạt đời thường , giao tiếp với xã hội hàng ngày mang hình thức Người Ðại Sứ Thiên Quốc trong Cộng Ðồng Dân Tộc (II Côrinhtô 5:20) 

 Chúa Cứu thế chúng ta đã lấy ”áo trong” ra làm “áo ngoài” (Thánh Kinh Từ Ðiển, mục Áo xống, do Giáo dĩ Wm.C.Cadman biên soạn), việc Chúa làm là cách tân với  trang phục hiện hành thời của Chúa. Nhưng Chúa là Chúa, Ngài có quyền thay đổi mọi sự theo ý Ngài. Việc thay đổi như vậy không quan trọng hoặc ảnh hưởng gì trong chức vụ của Chúa, bởi vì “Ngài dạy cách có quyền”(Mathiơ 7:29) chớ không do lễ phục đẹp hay đơn sơ. Ngài ăn mặc rất gần gủi với mọi người nhưng vẫn có nét riêng biệt, nếu không muốn nói là độc đáo của Chúa. 
 “Bộ áo không làm nên thầy tu” nhưng “thầy tu cần có bộ áo”. Hơn nữa, tục ngữ Việt nam có câu “Quen xem dạ, lạ xem áo quần” Một chiếc áo lễ trang trọng trong thánh đường sẽ không thiệt thòi gì, trái lại tốt hơn trong giờ thờ phượng, những Thân hữu sẽ chăm chú hơn trong lời giảng của mục sư. Một áo lễ “rất Việt nam” cho Mục sư Tin lành sẽ là một biểu tượng có “giá trị hình thức văn hoá Cơ đốc” trong toàn cảnh bản sắc văn hoá Dân Tộc Việt nam. 

 Áo lễ Mục Sư Tin lành tại Việt nam là một vấn đề đương đại, cần suy tư và thực hiện một cách nghiêm túc, nhưng quan trọng hơn hết Áo Lễ ấy có mang ý nghĩa của một biểu tượng thuộc linh không? Và bên trong bộ áo lễ ấy, có phải là một con người thuộc linh, đang sống và nói về vấn đề thuộc linh không?
 Ðối diện vấn đề và tìm giải pháp, đó là trách nhiệm của chúng ta , cho dù chỉ có thể lên tiếng nói, góp ý với Lãnh Ðạo, hay sẳn sàng dấn thân để thực hiện mang lại sự gây dựng thiết thực cho công việc Nhà Chúa trên Quê hương Việt Nam. Như Sứ đồ Phao lô đã nói:”Ðể các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Ðấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều
hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Ðức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Ðấng Christ”( Êphêsô 4:12-13).

 Xin chúng ta cùng nhau hết lòng cầu nguyện cho vấn đề này.  Muốn thật hết lòng. 

 Mục sư Nguyễn văn Ðại

 

 

 
  

   

   

Thư Mục 

  

(1) SƠN, Nguyễn Xuân. “Thờ Phượng học”
  Viện Thần Học Tin lành VN. Garden Grover 2001.
 

(2) (3) HALLEY, Henry H. “Thánh Kinh Từ Ðiển”
  Nhà in Sàigon 1960. Mục Y Phục.
(4) THÁNH KINH KHẢO HỌC, Cựu Ước I
  Viện Thần học Tin lành VN. Garden Grover 1999.
 

(5) MANLEY, G.T. “Thánh Kinh Ðại Cương” Mục Phong tục Tập                    quán. Viện Thần học Tin lành VN.Garden Grover 1999. 

(6) OLSEN, John Orange “Kinh Tiết Sách Dẫn”
 Nhà in Ðà lạt, 1952.
 

(7) (8) CADMAN, Wm.C. “Thánh Kinh Từ Ðiển”
 Nhà in Sàigon, 1958.
 

(9) WIESHE,W.W.  ”Giải nghĩa Mathiơ” Ðoạn 22.
 Văn phẫm Nguồn Sống. 1999.
 

(10) ÐẠI, Nguyễn Văn.”Phương Án Sinh Hoạt Thanh Thiếu Nhi Tin           lành. Nhiệm kỳ 2001 – 2005”của UỶ BAN THANH THIẾU NHI TLH. 

  

  

 
  
 
 

  

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/03/2010

CHIA TAY

Đêm lụn tàn. Mợt vầng trăng đơn cơi treo lơ lửng ngoài khung cửa sở.
 

   

Nằm trên chiếc giường xinh, Bé Mai nói thật khẻ:
 
-Mimi thương yêu của chị! Thế là chúng ta thật sự phải xa nhau. Ngày mai ba sẽ ra đi. . .
Chị khơng hiểu tại sao lại như vậy, nhưng cái ơng Tòa gì đó ghê gớm lắm đã bảo thế, đến nởi ba mẹ phải vâng lời!? Có lẽ mẹ khơng bao giờ muớn như thế, nên mẹ khóc xưng cả mắt. Ởng Tòa cũng bảo rằng chị phải sớng với mẹ. . . cho nên ba cũng bật khóc. Lần đầu tiên trong đời, chị thấy ba khóc đó! Tại sao người lớn, họ làm khở nhau nhiều như vậy nhỉ?
  
-Mimi ơi, Thế là ba phải sớng mợt mình! Chị nghĩ rằng ba sẽ rất buờn vì khơng có ai trò chuyện, khơng có ai chơi chung như chị em mình . . . Cho nên, chị muớn em theo ba. Chị muớn em sẽ thay thế chị để an ủi ba khi ba buờn và nhớ chị. Em nhớ bưng nước và lấy tăm xỉa răng cho ba sau khi ăn cơm nhé! Em đừng làm rợn, làm phiền khi ba đọc báo nha! Nhất là nhớ hơn ba dùm chị trước khi đi ngủ nha, nhớ chưa cưng? Chị buờn lắm khi để em đi với ba. . .  Khơng biết bao giờ mình gặp lại, nhưng chị muớn em đi với ba vì ba chỉ có mợt mình. . .
 
Nói đến đây, Bé Mai nghẹn ngào khơng nói được nữa. Mai ơm Mimi vào lòng, hơn lên má nó với những giọt nước mắt nóng hởi.
 
Bé Mai đứng bật dậy rời nhè nhẹ bước sang phòng khách. Nó quét mắt nhìn những chiếc va-li của ba nó trong ánh sáng yếu ớt của chiếc đèn ngủ. Bé Mai nhẹ mở chiếc va-li đựng quần áo, rời đặt con búp bê vào đó. Em nói thật khẻ: Ngày mai ba đi sớm, kể từ đêm nay, hai chị em mình mỡi đứa mợt nơi. . .
 
Mục sư Nguyễn Văn Đại.

   

Đăng bởi: nguoichanbay | 11/03/2010

Sự Tha Thứ


“Hãy ở với nhau
cách nhân từ,
đầy dẫy  lòng thương xót,
tha thứ nhau như
Ðức Chúa Trởi đã tha thứ
anh chị em trong Chúa Cứu Thế vậy.”
Êphêsô 4:32 – 
Tham Khao: Côlôse 3: 12 -13.

Victor Hugo, Ðại Văn hào của Pháp  khi được phỏng vấn  về tác phẩm văn chương nào trên thế giới cảm động và tạo dấu ấn  nhiều nhất trên sự nghiệp văn chương của ông? Ông đã trã lời:”Nếu không kể đến phương diện thần học của Kinh thánh, thì câu chuyện Người con trai hoang đàng gây ấn tượng thật mạnh mẽ, và lòng tha thứ của Người Cha cảm động lòng tôi nhiều nhất.”    


   Sự tha thứ  là một vấn đề liên quan mật thiết đến đời sống đức tin chúng ta.  Khởi điểm một người chưa tin ,  nay trở lại tiếp nhận ơn cứu rỗi thì được Chúa tha thứ tội lỗi và ban cho địa vị làm con của Ngài.(Giăng 1:12).Từ đó, chúng ta học tập sống trong yêu thương và tha thứ người khác, như lời Chúa khuyên dạy:”Hãy ở với nhau cách nhân từ, đầy dẫy lòng thương xót, tha thứ nhau như Ðức Chúa Trời đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế vậy”(Êphêsô 4:32). 
 Nhưng trong thực tế đời sống, sự tha thứ là một điều tốt khó thực hành.Khi một người trong gia đình làm điều lầm lỗi, nếu người ấy nhận lỗi và xin lỗi, nhưng người kia không tha thứ thì kể như vấn đề chưa được giải quyết.  Sự  rạn nức   tình cảm chưa hàn gắn bằng sự tha thứ thì bầu không khí căn thẳng  và lạnh nhạt vẫn đang cứ diễn ra trong gia đình.  Vì lẽ đó, sự tha thứ là một hành động rất cần thiết cho đời sống tin kính của mỗi chúng ta, ích lợi cho sinh hoạt gia đình , kể cả sinh hoạt thuộc linh trong Hội thánh. 

    

SỰ THA THỨ LÀ GÌ ?  

   

 Theo từ điển Webster, “tha thứ” là bỏ đi lòng phiền giận, bỏ qua hình phạt, thôi giận dữ và không oán trách hay đỗ lỗi cho người có lỗi.”  Ðơn giãn và dễ nhớ hơn, chúng ta có thể định nghĩa “tha thứ” là kể người có lỗi là không còn lỗi nữa.
 Thí dụ như có một người vì hiểu lầm đã đùng đùng nổi giận , chạy đến mắng chửi chúng ta hềt sức nặng lời. Sau đó, người ấy hiểu rõ và đến xin lỗi,  chúng ta bằng lòng bỏ qua kể như không có chuyện gì xãy ra. Ðó là tha thứ.  Khi con cái trong nhà, vợ chồng trong gia đình, anh chị em trong Hội thánh lỡ làm một điều tổn thương, xúc phạm hoặc thiệt hại cho chúng ta. Nếu ngừơi đó ăn năn và xin lỗi, chúng ta bỏ  qua , coi như không có chuyện gì, ấy là sự tha thứ. Ðôi khi, người phạm lỗi có địa vị xã hội hay là người lớn tuổi hơn chúng ta nên người ấy không thể trực tiếp xin lỗi, nhưng nngười ấy tỏ ra thành khẩn ăn năn , biết lỗi, chúng ta sẳn lòng tha thứ, thì đó là sự tha thứ dồ dào.
   

  


 Tiếng Việt chúng ta rất phong phú. Có thành ngữ “Lỡ thì tha” (lầm lỡ thì tha thứ), xin phép lạm bàn về ngữ ý một chút cho vui. Trong Tiếng Việt, “lỡ” đồng nghiã với bể, vỡ, hư. Tỷ như  bờ ruộng bị lỡ, bị hư , bị sạt đất rồi. Còn “tha” có ba ý, tha là thả ra, tha là không chấp, bỏ qua. Ý cuối , tha là ngậm trong miệng mang từ nơi này đến nơi khác. Tỷ như  con kiến tha rơm về xây tổ, tức là mang một điều gì đó từ nơi này đắp vào nơi đang thiếu.  Vậy thì , “lỡ thì tha” theo thiển ý người viết: “ Một khi mối quan hệ tình cảm vì sai lầm nào đó đưa đến đỗ vỡ, thì tha thứ là hành động mang đến sự phục hồi, để tình cảm được nguyên vẹn trở lại như thuở ban đầu”.
    

TẠI SAO CHÚNG TA CẦN THA THỨ CHO NHAU?    

1) Chúng Ta Tha Thứ Nhau Vì Mạng Lịnh Của Chúa.     


  Khi chúng ta thực hiện sự tha thứ ấy là lúc chúng ta vâng lời Chúa.  Sự tha thứ là một chủ đề xuyên suốt kinh thánh. Kinh thánh dề cập đến từ ngữ “tha thứ”, “tha tội” hoặc “tha” đến  một ngàn ba trăm ba mươi sáu lần (1336 lần).  Sứ đồ Phao lô khi viết thư cho Hội thánh Côlôse đã dạy rằng:” Vậy anh chị em là kẻ chọn lựa của Ðức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót, hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục. Nếu một người trong anh chị em có sự gì phàn nàn với kẻ khác, thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như  Chúa đã tha thứ anh chị em thể nào, thì anh chị em cũng phải tha thứ thể ấy”(Côlôse 3:12 – 13).  
 Nếu chúng ta không tha thứ cho người khác thì chúng ta không đựơc Chúa tha thứ.  Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêxu đã dạy chúng ta:”Và, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ  tha thứ các ngươi.  Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.”(Mathiơ 6:14-15).  
 Ðể cảnh tỉnh chúng ta về việc thực hiện sự tha thứ, Chúa Giêxu đã kể một câu chuyện.  Có một người mắc nợ nhiều lắm, không trả  nổi nhưng được chủ tha cho. Nhưng anh laịbắt bỏ tù  một ngừơi bạn  thiếu anh món nợ nhỏ . Mặc cho sự nài xin, anh bỏ tù người bạn cho đến khi trả hết nợ mới thôi.  “Các bạn thấy vậy buồn lắm, đến thuật cùng chủ mình mọi điều đã xãy ra.  Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia , ta đã tha hết nợ cho ngươi vì ngươi cầu xin ta, ngươi há chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ.”(Mathiơ 18:23-34)  Rồi Chúa Giêxu đã phán:”Nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha lỗi cho anh chị em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy”(Mathiơ 23:35).  
 Quan trọng hơn nữa, có tha thưa nhau chúng ta mới xứng đáng thờ phượng Chúa. Chúa dạy:”Aáy vậy, nếu khi nào ngươi đem của lễ dâng nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh chị em có điều gì nghịch cùng mình, thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh chị em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.”(Mathiơ 5:23-24). Nếu lòng chúng ta còn nhiều nổi muộn phiền, buồn giận , thì sự thờ phượng Chúa của chúng ta không có giá trị gì trước mặt Chúa. Lòng tha thứ và sự giảng hòa đối với nhau mới đích thực là bước đầu của tấm lòng thờ phượng Chúa vậy.  
2)Không tha thứ ta không sống lâu dài với nhau được.  
 Con người là bất toàn, dễ phạm những lỗi lầm trong cuộc sống, rất dễ làm tổn thương hay mích lòng nhau bằng lời nói hay những hành động nông nổi, dại dột.
 Trong phạm trù gia đình, cha mẹ và con cái thường có vấn đề tuỳ theo sự phát triển tâm sinh lý và mức độ trưởng thành của từng đứa con. Vợ chồng cũng có nhiều nan đề cần giải quyết. Thành ngữ Việt nam có câu:”Vợ chồng như chén bát trong sóng, sao khỏi khua động !” Chưa nói đến cái tinh thần cổ hũ “Chồng Chúa Vợ tôi” nơi miền thôn quê mộc mạc, hay “Lady firth” của Tây phương  nếu quá chừng mực sẽ đưa đến biết bao phiền toái giữa vợ chồng.  Các Bạn Trẻ thì sao? Có câu “Hồi chưa cưới, em là nữ hoàng của anh. Sau khi  cưới, em là nữ tỳ của anh !?”. 

  

Một nhà tâm lý đã đúc kết sự phức tạp trong đời sống vợ chồng như sau:
Năm thứ nhất: Anh nói cho em nghe, em nói cho anh nghe.
Năm thứ hai:  Anh nói anh nghe, em nói em nghe.
Năm thú ba: Cả hai cùng nói cho lối xóm nghe.  
 Phải tha thứ. Không có một gia đình nào là không có những chuyện buồn lòng nhau.   Gia đình Chấp sự, Truyền đạo , Mục sư vẫn vướng các nan đề, vì chúng ta là những con người bất toàn trong cuộc sống. Nhưng gia đình nào, Hội thánh nào biết tha thứ nhau thì tình cảm sẽ gần gủi và  yêu thương nhau nhiều hơn. 
 Nếu không tha thứ, chúng ta sẽ  ngày càng xa ncách nhau hơn. Sự phiền muộn, giận hờn  và lầm lỗi giống như rác rến, nếu không quét dọn và tẩy sạch đi, lâu ngày sẽ thành ra ô nhiểm bầu không khí thuộc linh của chúng ta. 
 Sự buồn giận nhiều khi bắt đầu bằng những việc rất nhỏ… nếu không sớm giải quyết thì theo ngày tháng sẽ trở nên những bức tường vô hình tạo ngăn cách. Vợ chồng không thèm đối mặt, cha mẹ không trò chuyện cùng con cái và anh chị em trong Hội thánh gặp nhau thì ngoảnh mặt làm ngơ như người xa lạ, trong nhà thờ đụng mặt thì dang xa, thậm chí không bao ngồi chung băng ghế. Một bức tường đã được ma quỷ hay chính bản ngả con người xây lên ngăn cách họ với nhau.  

Hãy nhớ rằng Hội thánh là một cộng đồng yêu thương và hiệp nhất, có mối thông công thân ái; chớ không phải là một phòng lapp học sinh ngữ,  ngồi chung một phòng nhưng mỗi người tự học. Thập tự giá của Chúa Giêxu có thanh dọc và thanh ngang, có thể ứng dụng hạn hẹp trong ý nghĩa cao quý là sự hy sinh của Chúa đưa chúng ta đến sự tương giao giữa Chúa và người. Ðồng thời tạo mối thông công giữa con người với nhau trong tình huynh đệ. Xin đừng tạo cho mình một thập tự trơ trọi chỉ một chiều thẳng đứng mà thôi. Hãy giải quyết mọi bất hoà bằng sự tha thứ cho nhau như Chúa đã tha thứ chúng ta vậy.   

    

  
 CÁCH NÀO ÐỂ THA THỨ VÀ ÐƯỢC THA THỨ?  

   

1) Phải  chân thành với nhau .   

 

  

 

 Trên nền tảng  dạy dỗ của Thánh kinh :
             “Chúa muốn cho chúng ta lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật.”,”nhưng mỗi  người trong anh em phải chừa sự nói dối, hãy nói thật với kẻ lân cận mình” (Êphêsô 4:15,25)
 Muốn được tha thứ chúng ta phải thành thật nhận lỗi và chân tình đến xin anh chị em mình tha thứ. Sự chân tình lúc nào cũng được đáp ứng. Chúa không  muốn chúng ta giả hình, đóng kịch hay nói dối trong khi làm hoà với nhau. Có thể xem thái độ, kiểu cách và giọng nói của một người , chúng ta có thể hiểu được người ấy có thật lòng xin lỗi hay chân thành tha thứ hay không. 
 Thí dụ: Khi người chồng xin lỗi vợ:  Ai cũng vậy mà, trai năm thê bảy thiếp, anh chú chút cho vui thôi. Bỏ qua cho anh nghen?. Chúng ta biết ngay người chồng này chưa hết lòng nhận lỗi. Thí dụ: Sau khi người chồng xin lỗi thì  người vợ nói lời tha thứ như sau: Thôi, thôi, thôi! Tui tha cho ông đó, nói hoài nhức đầu quá. Hay nói nhẹ nhàng hơn rằng: Thôi, ông có lỗi gì đâu mà tha với thứ!
 Hãy luôn nhớ rằng phải có hành động cập theo xứng hiệp với lòng ăn năn hối lỗi, như Xa Chê ngày xưa sẳn lòng bồi hoàn lỗi lầm bằng những điều có thể thực hiện được.(Luca 19:1-10) 

 

 
2) Tha thứ và quên hết.
 
 “Tha thứ là tốt, nhưng quên hết là tốt hơn”. Người tha thứ thật là người quên những lỗi lầm người khác. Chúng ta thường có khuynh hướng nhớ những chuyện buồn, luôn nhớ đến những lỗi lầm người khác, hơn là chuyện vui, chuyện tốt người khác làm cho mình.Cho nên , khi tha thứ hãy cố gắng quên hết những chuyện đã qua.
  

   

 Như chính Ðức Chúa Trời đối với chúng ta. Lời Chúa phán:”Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem sự vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu. Ðức Giêhôva thương xót kẻ kính sợ Ngài”(Thi thiên 103:12-13).
    

  

Sau giờ nhóm,  có hai em thiếu nhi đánh nhau . Chị hướng dẫn khuyên nhũ và khuyên hai em làm hòa với nhau. Em đánh xin lỗi nhưng em kia không chịu. Ðau qúa , mắt xưng làm sao tha thứ được?! Chị hướng dẫn bối rối vì thấy nhẹ nhàng khuyên không được, chị nói mạnh:” Em không tha thứ cho bạn,  nếu …lở đêm nay Chúa tái lâm thì làm sao gặp Chúa?  Em bị đánh trợn con mắt bầm tím suy nghĩ, rồi nói:”Ờ, em tha cho nó đó, nhưng nếu đêm nay Chúa chưa tái lâm thì ngày mai nó biết tay em… Ðó là con trẻ. Nhưng đôi khi chúng ta cũng đã rất trẻ con trong cách cư xữ của mình. Nguyện xin Lời Chúa giúp đở chúng ta.    

3) Tha thứ và không nhắc lại.    

 Ðôi khi chúng ta đã thật lòng tha thứ, nhưng thừơng hay nhắc lại hoặc kể lễ cho người khác về những lỗi lầm của người mà chúng ta đã tha thứ. Ðiều đó không tốt và gây nhiều tổn thương.    

  

 Có một bà tráng niên nói với tôi về những yếu đuối của chồng. Tôi hỏi bà đã tha thứ cho ông chưa? Bà nói trong niềm vui”tha rồi chớ, hỏng tha làm sao có mấy mặt con nữa mục sư”, “Sao là còn nhắc?” Bà nói”Tại tôi tiếc của, tài sản lúc trước cũng nhiều nhưng tại ổng ham chơi tiêu hết..” Nói đến đây bà buồn rười rượi. Tôi nói: “Chiều nay bà qua nhà thờ, tôi cho bà một cái thùng phuy Mỹ( loại có nắp khóa kín và  chắc)” . Bà ngạc nhiên hỏi tôi  “lấy thùng phuy làm gì mục sư?” Thì bà làm ơn bỏ hết cái chuyện cũ đó vô thùng rồi đem đi liệng xuống sông dùm tôi đi! Tôi  vừa nói vừa cười khiến cho bà hiểu ý. Tôi về mà lòng thật vui. 
 Ðức Chúa Trời muốn chúng ta tha thứ nhau như vậy, vì chính Ngài đối với chúng ta bằng sự bao dung rộng lượng của Ngài,”Ta sẽ tha sự gian ác họ, không nhớ đến tội lỗi họ nữa”(Hêbơrơ 8:12). 
 Một chị tín hữu có đứa con gái tuổi thiếu niên. Sáng hôm đó, cháu rữa chén tay trơn làm bể mấy cái chén kiểu đẹp. Bà đánh đòn nhưng cháu năn nĩ với lý do là tại xà bông trơn nên rớt bể…. Nên bà tha không đánh.  Chiều hôm đó, có bà ngoại ở quê lên thăm cháu, cả hai mẹ con chạy ra mừng. Cháu đưa tay giỏ xoài cho ngoại, được bà khen “Con nhỏ lớn đại rồi bây,  .. nhờ được quá hén!” Người mẹ nói :”Nó mà nhờ gì má, mới hồi sáng làm bể mấy cái chén kiểu đây nè.” Em gái thiếu niên kia buồn và đau đớn vô cùng.  Có lẽ đau hơn những lằn đòn phải chịu. 

    

4) Chúng ta phải sẳn sàng tha thứ nhiều lần.   

  

  

 Vì phải cứ tiếp tục chung sống với nhau trong một mái gia đình, vì là người thân, bạn hữu của nhau chúng ta phải tha thứ nhiều lần. Vì là anh chị em trong Hội thánh với nhau chúng ta , còn phải tiếp tục chia sẻ giúp thở nhau trong cuộc sống, cùng nhau thjờ phượng và phục vụ Chúa nên chúng ta phải tha thứ cho nhau trong tình thương của Chúa. 
 Như lời Chúa dạy trong Mathiơ 18:21-22  “Phierơ bèn đến gần Ðức Chúa Giêxu mà hỏi rằng: Thưa Chúa , nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?  Ngài đáp rằng:Ta không nói cùng ngươi bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy.” Vậy, có phải Chúa dạy chúng ta tha thứ cho nhau bốn trăm chín mươi lần phải không?(70 X 7 = 490?) Rồi sang đến lần thứ bốn trăm chín mươi mốt thì  không tha thứ nữa?  Không, không phải như vậy. Chắc chắn Chúa muốn chúng ta hãy luôn luôn, mãi mãi, hoài hoài… tha thứ cho nhau. 
 Nhưng cũng có người tín hữư hỏi tôi:  “Mục sư nói vậy thì sao được? (Chúa nói chớ không phải tôi!) Nhu ông nhà tôi, cứ kiểu đó ông phạm tội rồi ăn năn xin tha thứ, rồi lại cứ phạm tội, ăn năn tha thứ mãi hay sao?”  Ðúng vậy, Chúa dạy chúng ta phải tha thứ luôn luôn tha thứ dồi dào., nhưng trường hợp này có một diều thật nguy hiểm cho người chồng cố tình phạm tội. Tôi lấy thí dụ lòng tha thứ giống như một lọ thuốc cầm máu rất hiệu nghiệm, khi cạo râu lở bị đứt làm cho chảy máu, tôi sẽ dùng nó cầm máu. Nhung không vì cớ có lọ thuốc hiệu nghiệm tôi lại cố tình làm cho chảy máu để…..lấy thuốc xức chơi. Tôi chỉ dùng  thuốc khi lở tay , bị đứt mà thôi. Nhưng thử nghĩ, nếu một người cứ cố tình làm cho chảy máu, rồi cầm máu… như vậy, một thời gian gương mặt người ấy sẽ như thế nào? Méo mó, đầy sẹo và dị dạng phải không? Ðời sống thuộc linh của một người cố tình phạm tội cũng giống như vậy. 

    

KẾT LUẬN  

   

 Sự tha thứ là mạng lịnh của Chúa chúng ta phải thực thi trong đời sống. Khi tha thứ và muốn được tha thứ chúng ta phải chân thành với nhau,  quên hết và không nhắc lại hay kể lể cho người khác. Ðồng thời, chúng ta phải tha thứ nhiều lần, tha thứ luôn luôn. Nguyện Lời Chúa giup đở chúng ta. Nếu khi nào anh chị em thấy không thể, hoặc cảm thấy khó khăn khi phải tha thứ cho người khác, thì hãy nhớ rằng chính mình là một tội nhân xấu xa, đáng bị hình phạt trong hỏa ngục,  nhưng Chúa đã tha thứ cho chúng ta. Nghĩ và hiểu rỏ như vậy chúng ta dễ dàng tha thứ cho anh chị em mình.   

  


 Có hai vợ chồng kia giận nhau. Vì lỗi nặng người chồng xấu hổ ra đi. Trong lúc xa nhà anh đã thành khẫn ăn năn và viết biết bao lá thư xin lỗi vợ mình.  Sau khoảng hai tháng sống trong đau đớn, anh quyết định trở về sum họp với vợ con.,Anh viết lá thư hẹn ngày về, trong đó phần tái bút có ghi “Nếu em tha thứ cho anh, hãy cho anh một dấu hiệu. Nếu được xin em lấy chiếc khăn vàng anh tặng em ngày xưa đem treo nơi cây chùm duột trước sân nhà.” Và ngày trở về thật là hồi hộp. Xe chạy gần đến khúc quanh  trước nhà , anh nghĩ nếu có chiếc khăn vàng thì anh nhà , còn không có thì anh cứ ngồi trên xe rồi …phải đi xa. Anh mong có chiếc khăn vàng, có chiếc khăn vàng…Rồ xe chạy gần đến nhà, anh nhìn thấy không phải một chiếc khăn vàng mà rất nhiều, rất nhiều…một rừng khăn vàng. Ðổ vở được hàn gắn, lở lầm thì tha thứù, nhung đây là sự tha thứ dồi dào.
  

    

Hãy mở rộng vòng tay tiếp đón va tha thứ lẫn nhau, như Chúa nhân từ đã và đang dang rộng đôi tay có dấu đinh đẫm máu của Ngài luôn chờ đón và sẳn lòng tha thứ cho mỗi chúng ta. Thật cảm tạ ơn Chúa vô cùng. Amen.  

   

Mục sư Nguyễn văn Ðại
     

     

Đăng bởi: nguoichanbay | 10/03/2010

DÒNG TỬ SINH

 

Tôi đã trãi qua tuổi thơ trong chiến tranh Việt Nam.

Tôi lớn lên trong khói lửa và chứng kiến tận mắt thảm cảnh máu đổ, lệ rơi của cuộc nội chiến ba mươi năm trên Quê Hương. Nay đượuoc gọi là cuộc chiên tranh ũy nhiệm.  Những ngày đối diện với sự sống và cái chết đầy sục sôi căm hờn của tuổi trẻ trộn lẫn vào nỗi lo âu, chán chường khi nghĩ về thân phận làm người dân nhược tiểu, nỗi u buồn đã trở nên những gam màu xám xịt của bức tranh trong tâm hồn tôi. . . rồi bỗng dưng, như những dòng thác lũ tràn về, và dâng lên cao, những ca khúc phản chiến của một số nhạc sĩ, cùng ca khúc Da Vàng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã làm tươi mát tinh thần tôi và giới trẻ lúc ấy. Những bài ca phản chiến được hát vang trong sinh hoạt cộng đồng, từ thành thị tới làng quê xa xôi. Một trong những bài ca mà giới trẻ nói chung và tôi nói riêng, rất thích, đó là bài Nối Vòng Tay Lớn. Bên ánh lửa trại bập bùng, chúng tôi vỗ tay hát thâu đêm, nắm tay nhau dung dăng dung dẽ, chân bước mạnh theo nhịp bài hát này như đang làm một cuộc viễn du, cùng đi để nối lại hai miền Nam Bắc. Câu cuối trong bài hát này là câu mà tôi thích nhất, đó là “Biển xanh sông gấm, nối lại một vòng tử sinh”.

Lúc ấy, tôi hiểu Vòng Tử Sinh của Trịnh Công Sơn chỉ là chuyện sống chết của tuổi trẻ Việt nam hàng ngày phải đối diện với chiến tranh,  với sinh ly-tử biệt, với chia cắt của giang san cần phải nối lại vòng tay, cần phải hàn gắn lại vết thương chiến tranh mà thôi! Thế thôi!

Giờ đây, sau ba mươi năm, tôi đã khoác lên cuộc đời mình chiếc áo của Người Việt tha hương.

Chiều nay, trong sắc màu tàn thu Miền Đông nước Mỹ, những rừng lá xanh tươi đã ngã qua màu vàng cam, rồi đỏ nâu tàn úa! Những chiếc lá rơi rụng theo gió quấn quít quanh chân tôi, và nó khóc ngất dòn rụm rồi giảy chết răng rắc dưới bước chân vô tình và tàn nhẫn của tôi. Tôi nhớ bài thơ Mùa Thu Chết của một nhà thơ Pháp được Phạm Duy phổ nhạc, và lần đầu tiên nhạc phẩm này được trình bày tại Nhatrang.  Rồi tôi chợt nhớ đến Vòng Tử Sinh của Trịnh Công Sơn. Và trong tôi nảy sinh một ý nghĩ khác với năm xưa. Tôi nghĩ, mình không phải là một nhà phê bình văn học, và âm nhạc cũng không phải là sở trường của tôi, nhưng có lẽ nhờ đọc một số sách báo trong và ngoài nước nhận định về cố nhạc sĩ, mà tôi nghĩ về Vòng Tử Sinh của ông tiềm ẩn giáo lý Luân Hồi của Phật Học. Sự biến dịch của sống và chết trong hằng hà sa số kiếp của một con người. Phải chăng Vòng tử sinh của Trịnh là vòng luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác? Người nằm xuống… cõi riêng, như đã chọn Một cõi đi về, tất nhiên là bây giờ người không còn đây để trã lời cho câu hỏi!

Trong Tuyển tập nhạc mang tên “30 năm, Về thôi”,  trong lời giới thiệu ca khúc “Trở về mái nhà xưa” Nhạc sỹ Phạm Duy nhắc lại bài thơ của Lưu Trọng Văn sáng tác tại Saigon ngày 14/10/1994,  đi kèm với những câu thơ gợi lại tuổi thơ ấu:  “Con chuồn chuồn không lùng nhùng trong mạng nhện, con bướm vàng nằm xoài dưới chân ai”, để gọi một người tình: “Làm gì có trăm năm mà đợi! Làm gì có kiếp sau mà chờ!”

Lời thơ này đã tạo nguồn cảm xúc thúc đẩy tôi suy gẫm vấn đề sinh tử của đời người, nghĩ đến vòng tử sinh. Vòng tử sinh của Trịnh Công Sơn là vòng luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác trong vô cùng tận của hằng hà sa số kiếp. Còn Lưu Trọng Văn với sự đồng cảm của Phạm Duy, lại cho rằng “Làm gì có trăm năm mà đợi, làm gì có kiếp sau mà chờ?” 

Còn bạn thì nghĩ gì về cái vòng lẫn quẫn tử sinh, sinh tử này đây?

Riêng tôi, tôi không tin có cơ hội để luân hồi, và cũng không phủ nhận kiếp sau. Nói đúng ra thì tôi chấp nhận đời sau hiện hữu, nên tôi nghĩ chuyện sống chết là Dòng Tử Sinh, chớ không nghĩ là một Vòng lẫn quẫn tử sinh!

 Học giả Lâm Ngữ Đường của Trung Hoa có nói: “Đời sống chỉ là giấc mộng mà chúng ta như những lữ khách ngồi trên chiếc thuyền, chiếc  thuyền trôi trên dòng sông thời gian đi vào vĩnh cữu. Chúng ta xuống thuyền ở bến này, rồi lên thuyền ở bến khác mà thôi”. Như vậy, chuyện sống chết của đời người là câu chuyện của một dòng sông. Như trong bài thơ Buồn lên thân phận thi sĩ Thương ca Hoài lệ Trinh đã viết:

“Đời lên ghê`nh, xuống bãi.
Tóc xanh chừ sương nắng phôi pha”.  

Dòng tử sinh giống như Lịch sử của một dòng sông. Ví như sông Cửu Long được bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung quốc, chảy tràn xuống Lào, chảy qua Cam-bốt, rồi chảy đến Việt nam. Con sông ấy  đã vượt đèo qua thác, đã lên ghềnh xuống bãi để đổ vào đồng bằng Cửu Long phân chia ra thành chín dòng sông, rồi đổ ra biển Đông, ra Thái Bình Dương bao la. Dòng Sông không còn là sông nữa, mà đã thành biển. Dòng sông trôi đến biển, dòng sông đã chết, đã đi đến thời điểm chết, thời điểm chấm dứt cuộc đời trong quá khứ lên ghềnh, xuống bãi của một dòng sông, để sông được sống cuộc sống mới của biển,  hòa vào trùng dương bao la. Người xưa nói: “Sông có khúc, Người có lúc”. Con người cũng giống như vậy. Trong nhiều nỗi thăng trầm của cuộc phù sinh, của cuộc đời lên ghềnh xuống bãi, chúng ta ý thức một điều: Đời là cõi tạm, cuộc đời chỉ như một dòng sông chuyển dịch không ngừng, đã, đang và sẽ trôi vào vĩnh cữu.

Từ xa xưa, nhà thơ Lý Bạch đã viết:                                                                                                 

“Phù thiên địa giả, vạn vật chi nghịch lữ;                                                                                
Quang âm giả, bách đại chi quá khách.                                                                                        
 Nhi phù sinh nhược mộng, vi hoan kỷ hà!” 
 
tạm dịch:  
 
Đất Trời  quán trọ của muôn loài;                                                                                              
Thời gian là khách của trăm đời.                                                                                               
Kiếp phù sinh khác gì giấc mộng,                                                                                                         
Kiếm tìm hoan lạc chỉ mù khơi!  

Một vị Thiền sư  bước vào cung điện nguy nga tráng lệ. Vua hỏi: Bạch Thầy, thầy đến đây để làm chi? – Ta đến để tìm một chổ dừng chân trong quán trọ này. Thiền sư trã lời. Vua nói: Bạch thầy, đây là cung điện của ta sao thầy gọi là quán trọ? Thiền sư hỏi: Cung điện này trước đây của ai?- Của cha ta và người đã truyền lại cho ta. Sau khi Vua trã lời Thiền sư lại hỏi: Trước đó nữa là của ai? –  À! Thì của nội tổ ta. Bây giờ người đã chết rồi.  Bấy giờ vị thiền sư nói: “Một nơi mà Nội tổ của Vua, Cha của Vua và chính Vua nữa, chỉ ở một thời gian rồi ra đi. Nó không phải là quán trọ, thì nó là cái gì?” 

Đại Văn Hào Shakespeare đã viết: “Chết chỉ là một cuộc du lịch, nhưng chẳng có khách du lịch nào trở lại được cả.”

“Nhơn sinh tự cổ thùy vô tử.                                                                                                         
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”  dịch là  
 “Ngàn xưa, người thế ai không chết.                                                                                          
Chết,  để lòng son rạng sử xanh”                                                                                                      
 (Văn Thiên Tường)

Dòng Tử Sinh, không chỉ là Sinh Tử. Từ sinh đi đến tử, còn có sinh động, sinh sản, sinh sôi nẩy nở, sinh hoạt, sinh tồn, cuối cùng là sinh ly, tử biệt. Mà giống như một quy luật, đời người thường trãi qua chu kỳ của “Sinh, lão, bệnh, tử”. Bạn có bao giờ suy nghĩ? Tại sao con người phải chết? Tại sao con người mãi hoài đau đớn trong bệnh tật? Có bao giờ bạn tự hỏi tuổi già và thần chết là ai? Chợt bạn phát hiện Nó là kẻ thù của sức khỏe con người, tuy nó lụm khụm nhưng mạnh mẽ vô song, đến nỗi không gì cưỡng lại được khi nó xô đẩy con người vào cõi chết. Cảm giác sợ hãi sẽ tràn ngập vì sự chết hiện hữu. Sự chết có đó, cái có đó,  hiện hữu và làm cho chúng ta sợ hãi. Nỗi sợ hãi như của anh chàng Antoine Roquentin  chiêm nghiệm cái rễ cây marronnier  sù xì đen đúa trong công viên, để rồi chợt bừng sáng nhận ra nó có đó, nó hiện hữu, và đưa đến cảm giác Buồn Nôn ( La Nausée, tác phẩm nền tảng cho Thuyết Hiện sinh của triết gia Jean Paul Sartre, Gallimard  xuất bản 1938). Nhưng tiếc thay J.P. Sartre chỉ nhận ra sự hiện hữu của ý thức mà không nhận thức sự hiện hữu của linh hồn. Tiếc thay, Sartre nhận ra Hữu thể và Hư vô mà không tiếp nhận sự nhập thể của Thiên Chúa và sự giải cứu con người khỏi sự hư mất trong tội lỗi!

Một câu hỏi của vấn đề tử sinh: Tại sao có sự chết?

Césa Trajan , Hoàng đế La mã trước khi chết than rằng: “ Ôi! Đầu này không còn đội vương miện vinh quang, tai này không còn nghe âm nhạc ưa thích, miệng này không còn nếm những mỹ vị cao lương nữa…hỡi linh hồn ta, ngươi sẽ đi đâu?” Thật vậy, nhân loại thảy đều mù mờ về cõi chết, cho dù bá vương, vua chúa hay người giàu sang danh vọng, vẫn không thể hiểu rõ được cuộc đời sau khi chết sẽ ra sao!                                                               

Thánh Kinh cho ta câu giải đáp đầy đủ nhất: “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời”, “ Vì tiền công của tội lỗi  là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Rôma 3:23; 6:23). Sự sống được ban cho từ Đấng Hằng sống. Dòng sông được lưu xuất từ Nguồn nước sống tinh khôi là Thiên Chúa (Giăng 4:13-14).

Tiếc thay, vì tổ phụ con người phạm tội nên nhân loại đã sinh ra trong tội lỗi, khác nào nguồn sông bị ô nhiểm thì dòng sông cũng bị ô nhiểm. Tội lỗi sinh ra sự chết. Tội lỗi hũy hoại cuộc sống như một con sâu phá hũy trái táo! Bạn nghĩ sao? Sâu vào trong trái táo khi nào? Vào bằng con đường nào? Ở cái cuống, hay ở nơi thân trái táo? Không, khoa học giải thích, cái mầm sâu đã có trong khi thụ phấn và sinh trái. Khi trái táo phát triển, sâu cũng phát triển và nó hũy phá sự sống tốt đẹp của trái táo tu` bên trong. Cái chết hiện hữu trong cái sống. Vua Đa vít đã nói: “Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi” ( Thi thiên 51:5). Không phải tôi sinh ra và sống trong môi trường xấu nên tôi phạm tội. Tôi phạm tội vì từ khi sinh ra tôi đã mang lấy một bản chất tội lỗi, nên tôi có khả năng phạm tội và tôi đã trở thành một tội nhân. Vì là tội nhân nên tôi phải nhận lấy sự chết. Chết thể xác và chết tâm linh.

Cho nên Thi Hào Gautier đã than rằng :                                                                                     

 “Khi chào đời là đi về cõi chết                                                                                                      
Hãm vòng trần sao thoát cảnh tiêu ma”

Kinh thánh phán rằng: “Theo như đã định cho loài người phải chết một lần và chịu đoán xét”  (Hê bơ rơ  9:27).  Người xưa nói: “Bách ban đoạt đắc thiên công xảo. Nhất tử do lưu Tạo Hóa quyền.” Sự sống, sự chết của chúng ta do nơi quyền quyết định của Đức Chúa Trời, như Dân gian thường bảo nhau: Trời sinh, Trời nuôi, Trời cho, Trời ban phước, Trời kêu ai nấy dạ. Tới số chầu Trời. 

Như tôi đã nói, tôi không tin có cơ hội luân hồi, nhưng tôi tin có đời sau. Tôi tin rằng mọi người đều phải lần lượt đối diện với sự chết. Như một điếu thuốc khi người ta hút, tàn thuốc sẽ rơi xuống và một luồng khói mong manh bay lên. Thể xác này từ bụi đất phải trở về với cát bụi, nhưng linh hồn chúng ta phải trở về với Đấng Tạo Hóa và chịu xét đoán. Kinh thánh khẳng định: Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt cho những kẻ nào ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, bởi vì “Ai tin Con (Chúa Cứu Thế) thì được sự sống đời đời, chẳng chịu tin Con thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người ấy.”(Rô ma 8:1; Giăng 3:36).

Tại sao Chúa Cứu Thế lại liên quan đến vấn đề sinh tử chúng ta như vậy? Ngài có thẫm quyền gì?

Kinh thánh cho biết như Cây Lúa kết quả, một nhánh trĩu nặng ba mươi hạt, sáu mươi hạt hoặc một trăm hạt mà chúng ta thấy được đó, phải trãi qua một quy luật sinh tử thật kỳ diệu từ bên trong lòng đất. Khi hạt lúa gieo ra, nó phải chết đi, hạt thóc và lớp võ trấu phải mục nát, tức là phải chết đi, lúc ấy một mầm sống vươn lên từ bên trong, phát triển thành cây mạ, cây lúa kết quả. Đó là hình ảnh sự cứu rỗi mà Chúa Cứu Thế đã làm cho chúng ta. Từ sự sống vĩnh hằng trên thiên đàng, Ngài đã vào cõi chết của trần gian tội lỗi. Chúa giáng sinh mặc lấy hình hài con người và gánh thay tội lỗi nhân loại. Ngài phó thân chịu chết trên thập tự giá để đền tội cho con người, cho tôi và chính bạn (Phi líp 2:5-11). Nhưng Chúa không chết vĩnh viễn, Ngài đã sống lại sau ba ngày nằm trong thạch mộ. Ngài vượt khỏi sự chết và sống lại, nên Ngài cũng ban điều kỳ diệu ấy cho chúng ta khi chúng ta tin Ngài (Giăng 1:12; 3:16).

Bạn thân mến, giữa dòng đời, chuyện tử sinh là một vấn đề hệ trọng. 

Bạn đã chuẩn bị gì cho chuyến viễn du xa vời này?

Césa Borgia, Hoàng đế La mã đã nói: “Đời ta đã chuẫn bị cho mọi sự, trừ sự chết”. Có một Thương gia chỉ biết sống và lo tích lũy sự giàu có của mình, đã được Chúa Jêsus hỏi: “Hỡi kẻ dại kia, nếu hôm nay linh hồn của ngươi bị đòi lại, thì của cải ngươi đã sắm sẳn kia sẽ thuộc về ai?” (Luca 12:16-21). Con người chào đời với đôi bàn tay trắng, và từ giã cỏi đời với trắng cả đôi bàn tay.

Đời sống con người là một dòng sông. Dòng tử sinh vẫn cuồn cuộn chảy mãi từ cõi tạm này trôi nhanh vào vĩnh cữu. Một ngày kia dòng sông sẽ về cùng biển, dòng sông sẽ chết, để thoát thân, để sống, để hòa nhập vào đại dương mênh mông. Bạn có chắc sau khi chết linh hồn bạn sẽ trở về cùng Chúa để hưởng phước vĩnh sinh?  La Fontaine đã nói: “Cái chết không làm ngạc nhiên bậc quân tử, họ luôn sẳn sàng ra đi”.  Khi vợ Trang Tử chết, Huệ Tử đến viếng thấy Trang Tử ngồi hát. Huệ Tử trách. Trang Tử đã giải thích: Không phải thế, lúc nhà tôi mới mất, tôi cũng như mọi người thương tiếc lắm chớ! Nhưng xét lại, con người có sinh lại có tử. Con Người chết là trở về với Tạo Hóa, cũng như người ra ngoài rồi về nhà, nếu ta còn theo đuổi, khóc lóc, thì chẳng hóa ra ta chẳng biết mệnh Trời ư?  Giữa dòng đời phiền muộn này, nhận biết thiên mệnh là một vấn đề hệ trọng liên quan đến chuyện sinh tử của mỗi chúng ta.

                                                                                                                                                                                

Để kết kết thúc, tôi xin trích mấy câu trong bài thơ Về Đâu của Thi sĩ Từ Linh Vũ đã đăng trong Tạp Chí Cội Nguồn số 3:                                                                                                                                              

Ta về – xuống ngựa – trăng tàn                                                                                                       
Cô đơn tuyệt đỉnh dưới ngàn sao rơi                                                                                            
Xót thương hoa rụng đổi đời                                                                                                        
Linh năng nhìn Đức Chúa Trời bên vai                                                                                            
 . . .                                                                                                                                                       
Về đâu Chúa dắt về đâu                                                                                                            
Thánh Kinh học lại sông sâu đợi đò.

 Kinh Thánh phán: “Khá sửa soạn mà gặp Đức Chúa Trời ngươi”  ( A-mốt 4:12)                                                                                                                                   

Mụcsư Nguyễn Văn Đại.

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 02/03/2010

LỜI THÌ THẦM CỦA BIỂN

     

Cơn mưa nặng hạt cả ngày dài lê thê trên núi đồi Konpongsom rồi cũng ngưng rơi. Con đường đi ra biển còn đọng nhiều vũng nước, phản chiếu ánh nắng yếu ớt còn lại trong ngày.     

Tôi và anh bước thật chậm bên nhau, cả hai không nói. Chúng tôi đưa mắt nhìn biển nước mênh mông trên đất lạ quê người.                                  Hoàng hôn trên cảng Sihanouk lặng lẻ chìm xuống chân trời.     

Bước từng bước khó khăn trên bải cát, một tay chống nạng gổ tay kia ra dấu cho tôi cùng ngồi xuống với anh.   

    

Và sự yên lặng oà vỡ.   

Anh kể cho tôi nghe về đời mình như một Cơ đốc nhân trãi nghiệm  nhiều ơn phước. Chúa đã thương xót anh, dù phải trãi qua tổn thương cột sống làm đĩa đệm lệch  nên bước chân anh không còn bình thường nữa.Tuy nhiên, nhờ sự thương xót của Chúa, anh đi lại, học hành và làm việc không bị hạn chế gì. Là một giáo viên, anh có mái ấm gia đình, có vợ hiền và con ngoan… rồi nghẹn ngào anh cho tôi biết, cách mấy ngày trước khi lên đường du học thì đứa con thứ hai đã mất trong bụng mẹ. Bác sĩ cứu mẹ nhưng không kịp cứu  con. Sự ngăn trở hay thử thách đức tin?   

Niềm bâng khuâng được giải tỏa khi vợ anh nhắc nhở dù còn nằm trên giường bệnh: “Anh hãy an tâm…” rồi anh bỏ lửng câu chuyện đời mình trong tiếng nấc nghẹn ngào.   

Tôi yên lặng cảm nhận một nổi đau, một dấu ấn hằn lên cuộc đời Người hầu việc Chúa.   

 Biển cả bao dung, hàng dương liễu rít lên ngôn ngữ của gió, của trùng dương, của ngàn khơi, của mù khơi… 
  
 

Tôi lặng câm trong sự chao động của hồn mình, trong thinh lặng ấy, tôi nghe tiếng vỗ về của sóng. Từng cánh tay mềm mại của biển vỗ về, vỗ về nhẹ nhàng trong lời thì thầm của biển:     

 “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai con gái hơn ta thì không đáng cho ta. Ai không vác thập tự mình mà theo ta, thì cũng không đáng cho ta” Chúa đã phán vậy, anh cùng tôi đáp tiếng Ngài và bước đi. Chúa đã chịu thương khó trên thập tự, gánh sự sầu khổ của chúng ta và đã hứa rằng:”Người ấy sẽ lảnh bội phần hơn và được hưởng sự sống đời đời”. 
 Chúa thành tín trong lời hứa của Ngài đối với môn đồ năm xưa, với Martin Luther thời Trung cổ, với William Carey thế kỷ mười chín và tất nhiên với chúng ta hôm nay… 
 Tiếng rì rào của biển đã đưa tôi về với hiện tại. Những giọt nước mắt lăn dài trên má, thấm trên môi mằn mặn tự bao giờ. 
 Tôi đưa tay ra, anh nắm tay tôi làm điểm tựa đứng lên. Cả hai cùng bước đi thật chậm. Xa xa là những túp lều tranh, những mái lá dừa cũ mục,  loang lổ trong xóm người Việt ẩn hiện dưới hoàng hôn. Làng Việt nam, một trong những cộng đồng nhỏ bé người Việt trên đất khách quê người.  

Trong vô ngôn, trong ẩn ngữ của thiên nhiên, trong tình thương bao la của Thiên Chúa, tôi nhận biết Chúa sẽ cho anh những đứa con khác như hứa ngôn của Chúa: “Người ấy sẽ lảnh bội phần hơn…”  

Tôi và anh đi bên nhau. Không ai nói một lời, thinh lặng để  nghe lời thì thầm của biển.
         
       
         
  Phan Du Mục    
 

 

      

  

Đăng bởi: nguoichanbay | 02/03/2010

Chiên Giả

NGU NGON HIEN DAI

 

Chiên  Giả

 
Vì lo cho Bầy Chiên Lớn của mình, Ðàn Chiên Xám họp gia đình bàn bạc:
 – Sáng nay nghe Chiên Chấp sự thông báo “trong bầy có Chiên Giả”

Chiên Cha nói xong, Chiên Thơ liền hỏi:
 – Bé be! Sao con thấy ai cũng giống chiên hết, sao lại có chiên giả?
Chiên mẹ trã lời:
 – Chiên Giả  chỉ giống Chiên Thật, nhưng không phải là chiên thật.
 – Bé be! Làm sao phân biệt được?
 – Thì Chiên thật kê “bé be!” Chiên giả kêu “be he!” Khác chút xíu đó.
 – Bé be! U’ hé, nhưng nhở nó học ngoại ngữ và phát âm rất đúng “bé be!” thì sao?                                
 
 Chiên thơ thắc mắc hỏi như thế thì Chiên Cha trã lời:
 – Con ơi! Nếu nó đội lốt và phát âm giống chúng ta, con cứ quan sát khi nó ăn và đến gần phụ nữ thì sẽ rõ. Bởi vì, nó là … “dê” mà!
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 02/03/2010

Hoa Cúc Trắng

 
 
 
 
 

Hoa Cúc Trắng 

 
 
 
 
Tên tôi là Bạch Cúc.
Từ dạo thiếu niên anh yêu tôi nên cũng từ đó anh yêu lòai hoa cúc trắng.
Nhớ những chiếu thứ bảy ngập nắng,
Hai đứa chở nhau đi để mua hoa trang trí thánh đường.
Tôi cầm bó hoa tươi trong tay, anh ghẹo anh thương,
Tình em là đóa cúc trinh nguyên trong sáng.
Thẹn đỏ mặt và tôi yêu anh từ đó.
 
          
 
 
 
 
 
 
 
 
Mỗi Chúa nhật,
Mỗi bình hoa cúc trắng rực rỡ và lớn dần theo năm tháng
là tình yêu anh dành cho tôi như những nụ cúc tuyệt vời.
Ðắm đuối, đơn sơ, cao quý, sáng ngời.
 
Rồi theo tiếng gọi quê hương
anh lên đường nhập ngũ,
để lại kinh kỳ một cuộc đời lặng lẽ.
Tôi đơn độc những chiều thứ bảy,
buồn lang thang mua hoa trang trí thánh đường.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thư từ chiến trường,
anh gửi cho tôi những mật ngọt yêu thương,
những hương thơm từ tình yêu tha thiết.
Trong những cánh thư anh ép mấy đóa hoa thạch thảo của sườn đồi.
Anh bảo rằng tiền đồn xa xôi không có hoa cúc trắng,
chỉ có màu tim tím của thạch thảo mà thôi!
Nó là hoa cúc tím nơi hoang dã núi rừng.
Mai mốt trùng phùng, hai đứa cưới nhau
sinh cho anh con gái thì đặt tên là Thạch Thảo, nha cưng?
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chiến tranh vẫn còn tiếp diễn,
nhưng anh giã từ đồng đội,
trở về từ cuộc chiến sớm hơn dự định rất nhiều.
Ðơn vị tiển anh trong khói lửa tịch liêu,
quan tài phủ lá cờ tổ quốc
còn khét mùi thuốc súng chiến tranh.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Lễ tang anh,
tổ chức trong thánh đường đầy ấp những tiếng nấc,
những giòng nước mắt đầm đìa tình thương của những người con Chúa.
Anh nằm đó trong quan tài bằng gổ.
Hình hài anh tan vỡ hay là trái tim em tan nát tự bao giờ,
sao tái tê ngây dại cả tâm hồn.
Ngồi dự lễ tang,
ký ức em miên man,
quay cuồng hiện về bao kỷ niệm.
Trong ngôi thánh đường này chúng ta cùng nhau hầu việc Chúa.
Ôi! Nhớ ơi là nhớ biết bao lời anh hứa.
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hướng về di ảnh anh,
em bàng hòang tâm trí.
Một bình hoa cúc trắng ai trang trí bên cạnh gương mặt rạng rở của anh.
Anh nằm đó như ngủ,
giữa những tràng hoa và cúc trắng
đan kết dáng thập tự yêu thương.
Linh hồn anh Chúa tiếp ở thiên đường,
nhưng để lại một đóa hoa đơn độc.
Anh yêu ơi! Xin mãi bên em,
hãy ẩn tàng trong ngàn hoa cúc trắng trinh nguyên.
 
Phan Du Mục
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 02/03/2010

ÔNG TRỜI TRONG LÒNG NGƯỜI VIỆT

 DUONG LINH

   

     

     

     

     

     

     

       

ÔNG TRỜI TRONG LÒNG NGƯỜI VIỆT

  

Ðầu năm 2008, một sự kiện đấu tranh dân chủ của tôn giáo đã xảy ra tại Việt nam, ngay thủ đô Hà Nội- mà hệ lụy của ảnh hưởng này đã vượt khỏi Việt nam. Ðó là việc Giáo Hội Công Giáo Việt nam đòi Chính quyền trả lại Toà Khâm sứ  Hà Nội, toạ lạc trong khu đất Nhà Thờ Lớn tại số 42 Nhà Chung. Sau nhiều ngày tín hữu Công giáo biểu tình trong hình thức tôn giáo với danh nghĩa “cầu nguyện” ngay giữa lòng thủ đô, đồng thời có sự can thiệp của Toà Thánh Vatican tại Rô-ma (30/01/2008), Chính Quyền Việt Nam đã lên tiếng hứa trao trả lại cơ sở này (*1). Nhưng nghiệt ngã thay, chính lúc ấy Giáo hội Phật giáo Việt nam đã lên tiếng trưng ra những bằng cớ mang tính lịch sử về chủ quyền của mảnh đất này là thuộc về Chùa Báo Thiên trước đây (*2). Sự kiện tiếp diễn với việc tranh chấp chủ quyền thửa đất giữa hai Giáo hội Công giáo và Phật giáo Việt nam. Ngoài những bài viết của báo chí trong và ngoài nước, thì báo điện tử – phương tiện truyền thông toàn cầu qua mạng internet đã xuất hiện nhiều cuộc bút chiến về vấn đề này(*3).    

   

    

    

    

    

    

    

    

    

(*) Chùa Báo Thiên và Tháp Đại Thắng Tư Thiên

    

 Ðang khi viết đề tài Thiên cho Tạp Chí Cội Nguồn, sự kiện trên đã cuốn hút tôi. Sự cuốn hút mối quan tâm của tôi không phải là vấn đề chính trị, cũng không phải vấn đề đấu tranh dân chủ, tôn giáo tại Việt nam, hoặc những cuộc bút chiến xảy ra có thể dẫn đến “nội chiến” giữa hai tôn giáo lớn tại Việt nam(!?).   

     

Vấn đề tôi trăn trở thật ra là niềm tin Người Việt, mối quan tâm của tôi chính là sự thờ tự của dân tộc chúng ta tiềm ẩn trong sự kiện này là gì?  Chùa Báo Thiên đã được xây dựng vào năm 1056 trên đất phường Báo Thiên, tên chữ là Sùng Khánh Tự. Sau đó một năm, năm 1057 Tháp Báo Thiên được xây dựng tiếp trên nền đất phía trước chùa, được đặt tên là Ðại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp. Tháp cao 13 trượng (khoảng 50m), gồm hai phần, dưới bằng đá, trên bằng đồng. Ðỉnh tháp này bị ngã trong cơn bảo năm 1258. Tháp Báo Thiên là một trong những bảo vật của Ðại Việt thời Lý-Trần. Năm 1427, khi quân Minh (Trung  Quốc) cai trị đã đập tháp lấy đồng để đúc vũ khí. Năm 1547 toà tháp đã bị sập luôn phần bằng đá. Cuối thế kỷ 18, tháp và nền chùa đã bị chính quyền thuộc Pháp huỷ phá hoàn toàn. Hiện nay, những tảng đá có điêu khắc hoa văn của phần nền tháp còn lại tại Hà Nội và được kê làm một miệng giếng trong khung viên Tòa Khâm sứ. Một bảo vật bị mai một, Tháp Báo Thiên có thể được phục chế hay không trên nền của Tòa Khâm sứ tại thủ đô Hà Nội là bài toán khó mà hiện nay chưa có đáp số.  Theo Tác giả Bùi Thiết trong  quyển “Tự điển Hà Nội Ðịa Danh” cho biết: Tháp Báo Thiên không phải là nơi thờ Phật mà là nơi Tế Trời của Vua, giống như Ðàn Nam Giao ở Kinh thành Huế.” (*4)  Ðây chính là ý chúng tôi muốn nêu lên khi đề cập đến sự kiện này.  
  
  
  

    

 

   

  

  

  

  

  

  

  

  

  

(*) Tháp Báo Thiên

  

ÔNG TRỜI  TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT

   

Người Việt chúng ta kính ngưỡng Trời từ rất lâu, có thể nói từ thời Vua Hùng dựng nước, xuyên suốt dòng sử Việt đầy ấp những bút tích minh chứng cho lòng kính ngưỡng ấy. Sự kiện Chùa và Tháp Báo Thiên tại thủ đô Hà Nội là một chứng minh. Hàng ngàn năm trước (1056) Người Việt tại kinh thành đã dựng tháp để thờ Trời (tế Trời), để bày tỏ lòng biết ơn và đền đáp công ơn Trời  nên mới đặt tên là Báo Thiên. Từ trong tâm thức, người Việt xa xưa luôn nhận biết Trời là Ðấng Tạo Hóa Thiêng Liêng nên gọi theo cách  bình dân là Ông Cao, Ông Sanh, nên cho rằng Trời sanh Trời dưỡng, Trời cao có thấu. Người Việt bình dân, tuy đơn sơ cũng nhận thức được rằng: Trời có đầy quyền năng để công minh thưởng phạt và cứu giúp, nên nói Trời thương mới có, Trời ban cho Trời lấy lại, Trời giáng họa, Trời phạt, Trời hại.   

    

   

   

  

 Nông dân Việt nhận thức Trời có quyền trên thiên nhiên nên tự đáy lòng bật lên lời cầu xin: Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy bát cơm đầy…Từ trong tâm thức, người Việt cũng nhận rằng Trời có quyền trên sự sống và cuộc đời mình, nên nói Trời sanh, Trời nuôi, rồi Trời kêu ai nấy dạ, tới số phải chầu Trời.
  
 

    

 Tuy nhiên, Trời trong tâm thức Người Việt là một Ðấng Thiêng Liêng mà con người không thể đến gần và không thể tương giao mật thiết được “Kêu Trời nào thấu”. Mặc dù mỗi nhà xưa (khi tôi còn là một thiếu nhi đã thấy) đều có một bàn thờ nho nhỏ trước nhà, gọi là Bàn Thiên để thờ Trời, nhưng hầu như niềm tin ấy thật mong manh vì không nghĩ rằng lời cầu xin chắc chắn được nhậm, nên khẩn cầu thêm thánh hiền tiên phật bốn phương tám hướng giúp đỡ cho mình.    

   

 Từ xa xưa, người Việt nghĩ rằng vua hay hoàng đế là vị Thiên Tử (tức là Con của Trời) (*5), Vua là người thế thiên hành đạo (thay trời trị dân) (*5), mới có thể cúng tế, cầu đảo đến Trời (*5) nên lập nơi tế Trời như là đàn Nam Giao ở Huế, hay là tháp Báo Thiên tại Hà Nội nêu trên. Mục đích tế Trời là tạ ơn Trời cho mưa thuận gió hòa, mùa màng được trúng, lương thực được đầy kho; đồng thời khẩn nguyện cho quốc thái dân an, cho đất nước thái bình thịnh trị. Chỉ có vua mới đứng ra, đại diện toàn dân thờ phượng Trời mà thôi. Ðặc điểm ấy cũng có thể thấy trong trang phục triều đình và dân gian nước ta ngày xưa. Ngoài những hoa văn trên áo thụng màu vàng của vua, còn được gọi là hoàng bào (*5), mang hình rồng phượng đầy ý nghĩa biểu tượng, thì chiếc khánh, còn được gọi là khăn đóng, cũng nói lên điểm đặc biệt này. Chiếc khăn đống của người thường dân thì xếp các nếp khăn thành hình chữ Nhân các quan thì chữ Ðại, còn vua thì chữ Thiên. Thiết kế này đặt căn bản trên Hán Ngữ: Nhân là Người, thêm chữ Nhất trên chữ Nhân thành chữ Ðại, thêm chữ Nhất trên chữ Ðại thành chữ Thiên. Chiếc khăn trên đầu người Việt xưa đã toát lên sự kính ngưỡng Trời (Thiên) trong lòng mình là trên hết và cao hơn hết (chỉ có vua mới được đội chữ Thiên trên đầu). Cho nên, vua đứng ra đại diện toàn dân để khấn tế tại đàn tế Trời ngày xưa vậy.    

  

 Bởi đó, chúng ta không lấy làm lạ khi mà Việt nam có nhiều tôn giáo, nhưng khi gặp những nguy nan, những oan ức, khổ sở thì người Việt bật lên tiếng kêu cứu “Trời ơi cứu tôi!!!” Tiếng kêu ấy không đến từ  sự giáo huấn của tôn giáo, mà phát xuất từ sâu thẳm của lòng tin (tín ngưỡng) về Ðấng Thiêng Liêng được nhận biết là Trời trong lòng người Việt vậy.     

Theo Thiên đạo từ Thánh Kinh Cơ Ðốc, thì tiếng kêu ấy, hành động ấy phát xuất từ nguyên tri của con người.  Lòng kính ngưỡng ấy xuất phát từ  nơi sâu kín nhất của tâm linh con người. Khi đối diện với sự kiện vượt quá khả năng của mình thì từ trong vô thức  con người hướng thượng và bật lên tiếng kêu cứu đến một Năng Lực Siêu phàm, đó chính là Ông Trời trong lòng Người Việt. Sự nhận biết về Trời ấy tuy mơ hồ, nhưng hiện hữu nơi sâu thẳm nhất của tấm lòng con người, để rồi trong hoàn cảnh nguy khốn, đầy oan ức hay sợ hãi thì từ trong tâm thức người Việt bật lên lời cầu nguyện “Trời ơi! cứu con.”     

  
    ÔNG TRỜI  TRONG TÂM HỒN NGƯỜI VIỆT  

Một khi đề cập đến tâm hồn người Việt thì phải nói đến lý trí, ý chí và tình cảm của người dân Việt. Ðây là phạm trù thuộc lãnh vực văn hóa tín ngưỡng của một dân tộc mà các địa tầng  lịch sử theo thời gian đã hình thành trong tâm hồn người Việt. Bài viết hạn hẹp này không thể chuyển tải đầy đủ ý niệm trên, nhưng chỉ xin khiêm tốn nêu lên đôi nét phát họa một Ông Trời trong tâm hồn Người Việt mà thôi. Mặc dù trong tâm thức người Việt biết có một Ông Trời, nhưng nhận thức ấy rất mù mờ, vì Ông Trời là Ðấng Thiêng Liêng cao vời. Tuy nhiên,  qua lịch sử chúng ta thấy rõ từng bước giáo dục, văn hóa, hay những tập quán tín ngưỡng giúp người Việt nhận thức về Trời rõ nét hơn. 
    

Những phát hiện của ngành Khảo cổ giúp ta hiểu được quá khứ. Trong di vật được khai quật gần đây tại Ðông Sơn và Ngọc Lũ thuộc miền Bắc Việt nam, có đàn đá Ðông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ  làm chứng tích cho nền văn hóa Việt Nam mấy ngàn năm lịch sử. Trên những mặt trống đồng ấy có khắc hình những con chim vươn cánh bay cao hướng về  ánh mặt trời rực sáng. Những cánh chim ấy biểu tượng cho dòng giống Lạc Việt, theo truyền thuyết họ Hồng Bàng là tên của Con Chim Nước to lớn (* 6). Ánh mặt trời  là biểu tượng về Thiên về Trời. Những cánh chim bay cao hướng về ánh mặt trời, mang ý nghĩa biểu tượng phát xuất từ tấm lòng hướng thượng, lòng kính ngưỡng Trời của người Việt từ  ngàn năm dựng nước. 
Về phương diện lịch sử có ghi rằng: “đời vua Hùng Vương thứ sáu có đám giặc Ân, hung mạnh lắm, không ai đánh nổi, Vua mới sai sứ đi rao trong nước để tìm người tài giỏi ra đánh giặc giúp nước. Bấy giờ ở làng Gióng, còn được gọi là Phù Ðổng, bộ Võ Ninh (tỉnh Bắc Ninh) có người nhà giàu kia sinh một con trai, đến năm ba tuổi mà vẫn không biết nói cười. Ngày hôm ấy, đứa trẻ bỗng nói được và xin đi đánh giặc giúp vua (*7). Sứ giả về tâu vua, vua lấy làm lạ, cho đòi vào chầu. Ðứa trẻ xin đúc cho con ngựa và cái roi bằng sắt. Khi ngựa và roi đúc xong thì đứa trẻ ấy vươn vai một cái, tự nhiên người cao lớn lên một trượng, rồi nhảy lên ngựa cầm roi phi ngựa tiến quân, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở núi Ngũ Ninh. Quân giặc tự quay giáo đánh lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy, tôn xưng đứa trẻ là Thiên Tướng, liền đến xin đầu hàng tất cả. (*8) Phá được giặc Ân rồi, người ấy phi ngựa lên núi Sóc Sơn…  bay lên không, biến mất. Sau này, vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ ở làng Phù Ðổng, và phong là Phù Ðổng Thiên Vương (*9).     

Qua câu chuyện lịch sử ngoại kỷ này, cho chúng ta nhận biết quan niệm người Việt xưa có lòng xu hướng về một vị Cứu Tinh cho dân tộc. Vị Cứu Tinh ấy phải có yếu tố siêu phàm, năng lực vô biên và thuộc về Nhà Trời, như là Thiên Tướng được sai xuống cứu nhân độ thế. Từ sự sanh ra, lớn lên một cách lạ lùng.  Thiên vương đó phải có năng lực siêu phàm, đánh tan quân giặc hung tàn và khi hoàn thành sứ mạng giúp đời rồi thì thanh thoát bay lên trời, biến mất.     

Tấm lòng khao khát một vị cứu tinh từ trời như vậy rất gần gủi với quan điểm Thánh Kinh Cơ Ðốc Giáo về Chúa Cứu Thế từ Trời đã đến trong thế gian để cứu rỗi con người ra khỏi tội lỗi. Nhưng khác hẳn câu chuyện truyền khẩu Phù Ðổng Thiên Vương, sự giáng thế và sứ mạng của Chúa Giêsu được ghi chép trong Thánh Kinh một cách lạ lùng mà không huyễn hoặc, diệu kỳ mà không mê tín dị đoan, phi thường nhưng thực tế và đã được minh chứng bằng lịch sử và những con người trong bối cảnh lịch sử đó làm chứng nhân.
     

Trong phương diện văn hóa, tấm lòng kính ngưỡng Trời của người Việt xưa được thấy trong căn bản giáo dục về đạo đức. Lối giáo dục của người Việt xưa ảnh hưởng sâu đậm Khổng giáo của Trung Hoa với học thuyết Tam Tài: Thiên Ðịa Nhân. (NV: Mặc dù quan niệm Thiên trong Thiên Ðịa Nhân có những dị biệt với Thiên Ðạo của Cơ Ðốc Giáo). Do đó, người Việt kính ngưỡng Thiên (Ông Trời) như Ðấng cao cả và quyền năng.     

Trong Minh Tâm Bửu Giám, một tác phẩm hình thành thời Tống (Trung Quốc), phổ biến rộng rãi trong giới Nho học Việt Nam (*10), đã trở thành quyển cẩm nang của nền giáo dục đạo đức luân lý Việt Nam trước đây, dạy rằng:     

Vi thiện giả, Thiên báo chi dĩ phúc.
Vi bất thiện giả, Thiên báo chi dĩ họa.
(Thiên thứ nhất: Kế Thiện)
Có nghĩa là: Người làm điều tốt thì Trời trả lại điều phước cho. Người làm điều chẳng lành thì Trời trả lại tai họa cho.
Bình sinh hành thiện Thiên gia phúc,
Nhược thị ngu ngoan thụ họa ương.
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Cao phi viễn tẩu giả nan tàng.  (Thiên thứ  nhất: Kế Thiện)
Có nghĩa là: Trong cuộc sống hằng ngày làm điều thiện thì Trời sẽ ban phước cho, còn nếu ngu dại ngoan cố thì sẽ bị tai ương. Ðiều thiện hay ác cuối cùng đều có báo trả, dù cho cao bay xa chạy cũng khó mà thoát được.
Thuận Thiên giả tồn,
Nghịch Thiên giả vong. (Thiên thứ hai: Thiên lý)
Có nghĩa là: Thuận phục Trời thì còn, trái với (lẽ) Trời thì mất.
Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên.
Có nghĩa là: Mưu tính vịêc là do con người, việc thành (hay không) là do nơi Trời.
Nhân gian tư ngữ, Thiên văn như lôi,
Ám thất khuy tâm, thần mục như điện.
Có nghĩa là: Người đời nói riêng tư (kín đáo) Trời nghe như sấm rền. Lòng không thành thật suy nghĩ trong phòng tối, (nhưng) mắt thần thấy như ánh chớp.
Hoạch tội ư Thiên, vô khả đảo dã.
Có nghĩa là: Mắc  tội với Trời, không thể cầu xin (khấn vái) được.
Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại Thiên.
Có nghĩa là: Sống chết có mạng, giàu sang do Trời. (Thiên thứ ba: Thuận mệnh) 
 
 

Rồi đến Thời kỳ Tân học ảnh hưởng của văn hóa và triết học Tây phương do người Pháp truyền sang. Người Việt nhạy bén tiếp nhận văn minh Tây phương, nhưng với truyền thống  “gạn đục khơi trong” để sở hữu trí tuệ,  chúng ta hình thành chữ quốc ngữ và phát triển nền văn học cận đại và hiện đại. Trong giai đoạn này, từ ngữ Ông Trời hay Thiên được dịch lần đầu tiên  trong Việt Ngữ là Chúa Trời (Thiên Chúa). Từ đó, từ ngữ  “Thiên Chúa” là đặc ngữ của Giáo hội Công giáo và từ ngữ  “Ðức Chúa Trời” là đặc ngữ  của Hội Thánh Tin lành sau này. Ngoài ra, một tôn giáo bản địa thờ Trời do chính người Việt thành lập là Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, thường gọi là Ðạo Cao Ðài. Ðạo Cao Ðài thờ kính thánh hiền tiên phật đông tây, trên hết là Thượng Ðế, có biểu tượng là Thiên Nhãn (Mắt Trời).    

Vào hạ bán thế kỷ hai mươi, đất nước bước sang giai đoạn mới theo đường lối Xã Hội Chủ Nghĩa, mà chủ nghĩa triết học Mác – Lê  là nền tảng. Cho nên, sự kính ngưỡng Thiên Chúa không còn được tự do như vốn có từ trước. Miền Bắc có tác phẩm Gia-tô Bí Lục được lưu hành nhiều nơi nhằm đánh đổ niềm tin của những người theo Cơ Ðốc Giáo. Miền Nam sau này có những buổi lễ Thắng Thiên được tổ chức trọng thể để đào mương đấp đập, chống chọi với Trời trong ý niệm ngạo mạn chiến thắng thiên tai. Có những kế họach tiêu diệt niềm tin thật tinh vi, nhưng cũng có những sự kiện đả phá đức tin đến nực cười, như có một người quá khích đã cầm súng chỉa lên trời, vừa bắn, vừa nói “Thằng Trời đâu, tao bắn cho mầy chết!” Thật là lộng ngôn, phạm thượng! Người ta tưởng lòng vô tín lớn hơn tình yêu thương của Thiên Chúa hay sao?! (Thi thiên 14:1).    

Mặc dù, sống trong những hoàn cảnh không thuận lợi thì niềm tin của những người tín hữu Việt Nam thờ phượng Chúa Trời vẫn âm thầm và nẩy nở trong lòng. Sự phát triển của Giáo hội Công Giáo Việt Nam và Hội Thánh Tin Lành là một bằng cớ hùng hồn. Sự hình thành Hội Thánh Tư Gia (Underground Church) của nhiều hệ phái, cùng sự phát triển cấp số nhân ồ ạt nhanh chóng như tăng trưởng của các nhóm theo mô hình tế bào là những minh chứng cho tấm lòng kính ngưỡng Thiên Chúa của tín nhânViệt Nam hiện nay.
    

Năm năm qua Việt Nam từng bước hội nhập vào nhiều lãnh vực của diễn đàn thế giới. Nhờ đó, Giáo hội có những chương trình họat động rộng rãi hơn thay vì chỉ được truyền giảng trong nhà thờ, nay đã có vài nơi tổ chức nơi công cộng, như ca nhạc thánh truyền giảng trong sân vận động hay tại các nhà hát thính phòng. Tuy nhiên, sự cởi mở này vẫn còn dè dặt và chưa thật sự đều khắp trên toàn đất nước. Ðặc biệt ở các vùng cao, vùng sâu vẫn còn nhiều nỗi truân chuyên để sống đạo và thể hiện niềm tin. Chúng ta hãy cầu nguyện cho quê hương được sớm có ngày sự kính ngưỡng Chúa Trời được tự do thực hiện ở khắp mọi nơi, thỏa lòng người dân Việt.    

  

ÔNG TRỜI  TRONG TÂM LINH NGƯỜI VIỆT  

 Như đã nói ở trên, trong tâm thức người Việt vẫn luôn nhận biết có một Ông Trời trong sâu kín của tấm lòng mình.   

Theo số liệu văn hóa tín ngưỡng thì số người theo Cơ Ðốc Giáo tại Việt Nam – người Việt Thờ Trời – là bao nhiêu? Thống kê của Bách Khoa Tri Thức Phổ Thông cho biết có khoảng bảy đến tám triệu tín hữu Công Giáo và khoảng hai triệu tín hữu Tin Lành (*11). Tổng cộng cho tròn số thì cũng chỉ có khoảng 10 triệu trong 86 triệu người Việt! Tính theo tỷ lệ dân số thì còn lại rất đông đồng bào chúng ta chưa thờ phượng Chúa Trời. Vì đồng bào chúng ta chưa được biết về Trời là Chúa một cách rõ ràng thì làm sao tin nhận được!? 
Thánh Kinh đã viết: “Ai tin Ngài sẽ không thất vọng, không phân biệt Người Do thái hay người nước khác, vì chỉ có một Chúa chung cho mọi người. Chúa giáng phúc dồi dào cho người cầu xin Ngài. Vì tất cả người kêu cầu Danh Chúa đều được cứu rỗi. Nhưng nếu họ chưa tin Chúa thì kêu cầu Ngài sao được? Nếu chưa nghe nói về Ngài, làm sao biết mà tin? Nếu không có người truyền giảng thì nghe cách nào? Nếu không đuợc sai phái thì ai đi truyền giảng? Tuy nhiên, chẳng phải mọi người nghe Phúc Âm đều tin nhận.” Thánh Phaolô nói: “ Tôi xin hỏi: Họ chưa nghe Ðạo Chúa sao? Thưa, họ nghe rồi, như Thánh Kinh viết: Ðạo Chúa được công bố khắp nơi, truyền đến mọi dân tộc khắp đất (La mã 10:11-18).
   
 

   

  

  

  

  

  

  

  

  

  

  

  

  

  

  

Thật đúng như lời Chúa phán, đạo Chúa đã được rao giảng tại Việt Nam, nhưng chẳng phải mọi người nghe Phúc âm đều tin nhận Chúa Trời. Tại sao? Kinh Thánh cho biết “Vì mọi người đều đã phạm tội, hụt mất sự hiện diện vinh quang của Thiên Chúa” (La mã 3:23). “Họ từ chối, không chịu nhìn nhận Thiên Chúa. Ðời sống (tấm lòng) họ đầy tội lỗi. Dù họ biết rõ theo luật của Thiên Chúa, người làm những việc ấy đều đáng chết, thế mà họ cứ phạm luật, lại còn khuyến khích người khác làm theo nữa” (La mã 1:28-32). “Hậu quả của tội lỗi là sự chết, nhưng ân ban của Thiên Chúa là đời sống vĩnh cữu trong Chúa Cứu Thế Giêsu” (Lamã 6:23). Vì tội lỗi ngăn cách con người đến với Chúa Trời, nên chính Ngài đã đến với con người. Chúa Giêsu là Chúa Trời vào đời để cứu vớt chúng ta ra khỏi vũng lầy tội lỗi. 
“Chúa Cứu Thế vốn có bản thể của Ðức Chúa Trời. Chúa tình nguyện từ bỏ tất cả, mang thân thể con người. Cam chịu thân phận người nô lệ.Chúa đã xuất hiện như một người khiêm tốn, đi con đường vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (Phi líp 2:6-8) “Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Ðấng từ trời xuống, ấy là Chúa Cứu Thế vốn ở trên trời. (Giăng 3:13). Chúa Jêsus phán rằng: “ Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ý mình, nhưng để thực hiện ý muốn của Ðấng sai tôi. Cha tôi muốn tất cả những người hướng về tôi và tin cậy tôi đều được sự sống vĩnh cữu và được sống lại trong ngày cuối cùng”  (Giăng 6:38, 40). Ðể cho chúng ta hưởng được sự sống vĩnh cữu, Chúa Cứu Thế đã chịu chết trên cây thập tự,  để thay thế hình phạt tội lỗi của chúng ta (La mã 5:8).    

  

Nhưng tại sao một số người chưa hưởng được ơn cứu rỗi từ sự hy sinh của Chúa?  
Trong kho tàng văn chương Việt nam có câu chuyện Thiếu Phụ Nam Xương, truyện rằng: “Tại làng Nam Xương có vợ chồng kia sống rất hạnh phúc. Họ có một người con còn nhỏ. Ngày kia, người chồng nhận lệnh vào quân ngũ, anh rời gia đình để ra chiến trường giết giặc. Thế là, đứa bé thương nhớ cha ngày đêm gào khóc. Ðêm từng đêm, để vỗ về đứa con nín khóc, bên ánh đèn dầu, người mẹ dùng bóng mình trên vách nói cho con biết đó là cha nó. Ðứa con tưởng thật nên vui đùa cùng chiếc bóng hằng đêm. Ngày tháng trôi qua nhanh, người cha trở về,  gọi con lại bồng, nhưng nó từ chối. Cha hỏi tại sao, thì nó nói “Ông không phải cha tôi. Cha tôi tối tối mới về!” Người chồng ghen tuông vì nghi ngờ lòng chung thủy của vợ. Người vợ uất ức lao mình xuống sông tự vẫn. Tối đến, khi ánh đèn thắp lên và thấy bóng người cha soi trên vách, thì đưa trẻ reo lên: Cha về, cha về!… Mọi sự đã muộn màng!”     

Ðây là câu chuyện bi thương về lòng chung thủy. Nhưng tôi tự hỏi: Tại sao gia đình này tan nát, hạnh phúc bị đổ vỡ? Loại suy những tình huống bấp bênh, những quyết định nông nỗi, tôi thấy câu trả lời cốt lỏi là: Vì giáo dục sai lầm! Người mẹ đã sai lầm khi dạy con bằng chiếc bóng mà bảo là cha nó. Và, tất nhiên, từ sự dạy dỗ sai lầm đó, người con đã chấp nhận một chiếc bóng là cha, đồng thời từ chối người cha thật của mình.     

Cũng giống như vậy, nhân lọai là Con của Trời (Thiên sanh nhân, hay Trời là Thiên thượng, nhân loại là Thiên hạ) nhưng chúng ta đã tôn thờ những chiếc bóng của tri thức, của khoa học, của triết lý, của chủ nghĩa, của vật chất tiền bạc của cải, và toàn tâm phục vụ như là cha của lý tưởng mình. Ðau đớn thay, trong nông nỗi của một thời điểm nào đó, chúng ta đã từ chối Chúa Trời là Cha thật của lòng mình.
     

Người xưa dạy rằng:   “Họa hổ, họa bì, nan họa cốt. Tri nhơn, tri diện, bất tri tâm”.    Làm sao biết được lòng người, lòng người là vô hình nhưng hiện hữu. Chúa Trời vô hình nhưng thực hữu. Chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy bình an trọn vẹn trong tâm linh mình cho đến khi nào tự nguyện mời Cha Thiên Thượng bước vô tấm lòng “không thấy được”của chúng ta. Ngài sẽ khai sáng tâm linh để khởi đầu cho cuộc sống mới đầy tràn ân sủng.     

Chúa Giêsu phán: “Sự sống vĩnh phúc chính là nhận biết Cha là Ðức Chúa Trời chân thật duy nhất và Chúa Cứu Thé Giêsu mà Cha sai đến.” (Giăng 17:3) . 
 
MUC SƯ NGUYỄN VĂN ĐẠI 
 
Phần Phụ Lục:
*1
www.VietCatholic.net News Agency. VNA
*2
www.PhatGiaoVietNamThongNhat.com
*3 www.PhatGiaoUcChau.com
      www.TTX.CongGiaoVietNam.com
      www.KhucCamTa.net
*4 Bùi Thiết, Tự Ðiển Hà Nội Ðịa Danh, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1993, trg 26.
*5 Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, 1960, Hội Chuyên Gia Việt Nam:
      Ấn Bản Ðiện Tử năm 1996. trg 51
*6 Phạm Văn  Sơn , Ibid. trg 38.
*7 Ðại Việt  Sử  Ký Toàn Thư , Quyển I, NXB.Khoa Học Xã Hội – Hà Nội. 1993. , trg 5.
*8 Ngô Thời Sỹ, Việt Sử  Tiêu Aùn, 1775, Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Châu Á dịch sang Quốc ngữ , 1960, Nhóm Bạn Lê Bắc chuyển sang ấn bản điện tử , 2001, trg 5
*9 Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Phần I Chương I Tiết 3, NXB Trung Tâm Học Liệu, Bộ Giáo Dục
*10 Trương Vĩnh Ký trans., Minh Tâm Bửu Giám, NXB TP.HCM, 2001
*11 Bách Khoa Tri Thức Phổ Thông   Mục “Ðạo Tin Lành”, NXB Văn Hóa Thông Tin, QI-2000
  
   
 

    

Đăng bởi: nguoichanbay | 26/02/2010

MÁI NHÀ VIỆT NAM

ThánhKinh :

 “Anh chị em là Nhà Ðức Chúa Trời kiến tạo”

( I Cô-rinh-tô 3:9) 

 
 “Không có nơi nào giống như ở nhà”.
Trong trãi nghiệm cuộc đời chúng ta đều có thể nói như vậy. Bởi vì, khi bước ra phố chợ chúng ta bị ràng buộc bởi nếp sống văn hoá, phong tục và đủ thứ tập quán xã hội khác nhau. Chỉ khi ở nhà, chúng ta mới thật sống thật với chính bản thân mình. Ðó là điều ngọt ngào phải không bạn?

 Gần đây, một tạp chí ở Luân đôn đã làm một thống kê về quan điểm xã hội bằng cách gửi đi khoảng 1.000 phiếu thăm dò về chủ đề “Mái nhà là gì?”. 
 
Kết quả họ nhận được trên 800 câu trã lời. Họ đã lựa chọn 7 phương châm xuất sắc  như sau:
(1)Mái nhà – Một thế giới loại trừ sự xung đột, một thế giới bao trùm tình yêu thương.
(2)Mái nhà – Một nơi mà những trẻ nhỏ được lớn lên và những người lớn trở nên nhỏ bé đi. (3)Mái nhà – Một vương quốc của người cha, thế giới của người mẹ và thiên đàng của con cái. (4)Mái nhà – Một nơi mà chúng ta cằn nhằn nhiều nhất nhưng lại được đối xữ ân cần nhất. (5) Mái nhhà – Một trung tâm qui tụ tình cảm chúng ta, nơi xe kết những ước mong tốt đẹp nhất của tâm hồn chúng ta. (6)Mái nhà – Một nơi mà dạ dày của chúng ta có ba bữa ăn, và tâm hồn chúng ta có được hàng ngàn bữa. (7) Mái nhà – Một nơi duy nhất trên trái đất mà những lỗi lầm và vấp ngã của con người
chúng ta được che phủ dưới lớp áo choàng ngọt ngào của tình yêu thương.
 
 Mái nhà- là nhu cầu của gia đình, của con người. Ai ai cũng cần có một mái nhà, cho dù kiên cố, lộng lẩy nơi phồn hoa đô hội hay căn nhà nhỏ đơn sơ nơi làng quê xa xôi. Dân du mục hay người tiền sử  cũng cần một mái nhà mặc dù chỉ là tấm lều vải hay hang động mà thôi. Mái Gia đình đã trở nên thiêng liêng trong tâm thức con người vì từ nơi ấy nhân loại đã được sinh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên trong cuộc đời này. Cho nên, dù con người có dong ruỗi đến tận phương trời, góc bể nào thì  lòng hoài hương vẫn đậm nét hình ảnh những mái nhà,  cây đa, khóm tre, vườn rau, ngọn cỏ. Bài  nhạc tiền chiến “Làng Tôi”, có lời: “Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh, có sông sâu lơ lững vờn quanh, êm trôi về Nam. Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau, bóng tre ru bên mấy hàng cau, chiều quê mơ màng”.
 
 Mái Nhà Việt Nam là hương quê hồn nước, là di sản thiêng liêng của Người Dân Việt chúng ta. Bài đồng dao từ thuở còn để chỏm mà tôi đã  nghe, nghe  mãi đến thuộc lòng,  rồi bổng chợt một ngày bật hát nghêu ngao cùng chúng bạn, nay vẫn còn âm vang trong lòng tôi “Cái nhà là nhà của ta, do chính cha, ông làm ra. Cháu con ta  gìn giữ lấy. Muôn năm giữ  nước non nhà…” Văn hoá Dân Gian và văn học truyền khẩu đã dạy cho Người Việt từ tấm bé rằng “muôn năm giữ  nước non nhà”. Người Việt trong mọi thời đại luôn nhớ về cội nguồn, bảo vệ gìn giữ  quê hương của mình.
 
Trong phương diện văn hoá, Người Việt giới thiệu về quê hương, tổ quốc mình bằng hai từ  đơn sơ mà thâm thuý “Quốc Gia” Việt nam,  từ  ngữ  ấy thật  tượng hình, với ý nghĩa “Quốc”  là Ðất Nước Việt nam và  “Gia” là Mái Nhà Việt nam.
 
Trong mái nhà ấy, hiện nay có khoảng 86 triệu Người Việt gồm 54 sắc tộc cùng chung sinh sống (*1)
 
Tuy nhiên, mổi sắc tộc trong Cộng Ðồng Dân tộc có những nét văn hoá đặc thù. Bản sắc văn hoá dị biệt của các sắc tộc thể hiện rõ nét trong các sinh hoạt cộng đồng. Từ cách ăn mặc, trang phục truyền thống, đến kiến trúc, xây dựng nhà cửa, đều toát lên nét đặc thù và độc đáo của từng vùng, Miền Núi, Miền Xuôi hay Sông Nước Miền Nam. Các quan hệ xã hội, tập quán trong cưới hỏi, an táng, thờ cúng, giỗ kỵ, lễ tết, văn nghệ, âm nhạc và giải trí, kể cả trò chơi hội hè, đình đám của mổi sắc tộc đều mang tính riêng biệt, đa dạng.
 
Tàng ẩn giữa dị biệt về ngôn ngữ, văn hoá và tập quán thì  các sắc tộc Việt nam đều có nét chung, toát lên trong cuộc sống, đó là đức tính cần cù, chịu khó, thông minh nhân hậu, vị tha và khiêm nhường đã hình thành phẩm chất đặc thù của Người Dân Việt.
 
Tác giả Cữu Long Giang – Toan A’nh trong “Người Việt Ðất Việt” đã nhận xét: “Sau khi xét kỷ các di tích tiền sử và so sánh các ức thuyết, các sử gia, các nhà nhân chủng học đã đi đến kết quả tổng hợp sau đây: Do vị trí thuận lợi, cho nên từ thái cổ Người Dân Việt đã mở rộng vòng tay đón nhận những giống dân ở tứ phương kéo đến, đồng hoà họ và tạo nên Dân Tộc Việt Nam ngày nay (*2).
 
Có thể nói 54 sắc tộc cùng chung sống trong một “Nước Nhà” là bản sắc văn hóa đặc thù của Người Dân Việt – 54 Anh chị em chung sống trong Mái Nhà Việt nam.
 
Thế thì, tại sao phải ra đi? “Bao nhiêu  năm rồi còn mãi ra đi?”(*3). Người miền Trung, miền  Nam  vượt biển, rồi miền Bắc lại vượt biên! Hết miền xuôi, bây giờ  lại là miền cao, vẫn tiếp tục ra đi? Có một điều gì chưa ổn định trong  tâm hồn Người Dân Việt hôm nay. Có một điều gì đó hụt hẫn, thiếu thốn lớn lao trong tâm hồn nên Người Việt luôn mãi kiếm tìm. Ra đi để tìm kiếm, để trang bị, để giúp nhau và để lại trở về… Lịch sử hé mở câu giải đáp: Trưởng thành nên phải ra đi. Phải chăng truyền thống Người Việt là như vậy?!
 
Sử gia Trần Trọng Kim trong  tác phẩmViệt Nam Sử  Lược đã nhắc lại cội nguồn Giòng Giống Lạc Hồng  qua truyền thuyết  Hồng Bàng, truyện mở đầu trong Lĩnh Nam Trích Quái, một tác phẩm tổng hợp Truyện Truyền Khẩu Dân Gian. Truyện kể rằng Lạc Long Quân lấy Nàng Âu Cơ sinh trăm cái trứng, nở trăm con trai. Khi các con trưởng thành, Lạc Long Quân nói: “Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi trai về dưới nước phân trị các xứ, năm mươi con theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau.”(*4)
Thật vậy, cho dù có “xuống nước” để ra đi khắp bốn phương trời hay là còn ở lại, Người Việt không bao giờ bỏ nhau. Làm lụng cực khổ, mới dành dụm chút đỉnh, nghe gia đình ở quê nhà khó khăn thì gửi về giúp đở, nghe người thân khẫn cấp thì mau mau trở về chia sẻ cưu mang.
 
Truyền thống đùm bọc lẫn nhau của Người Việt cao quí lắm! “Lá lành đùm lá rách”. Trong nhận thức “Thế giới như một ngôi làng”, cho nên sống trong nước hay hải ngoại thì Ðồng bào Việt nam liên lạc và gần gủi nhau như trong một mái nhà. Mái nhà Việt nam được phô diễn như một giàn hoa trái “ Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
 
Vượt cả không gian và thời gian,  Mái Nhà Việt nam không phải chỉ là non sông gấm vóc hình chữ  S của Vùng Biển Ðông, mà Nhà Việt Nam chính là hào hùng lịch sử bốn ngàn năm văn hiến, là máu mũ, là tình thương và cuộc sống của những Con Người mang bản sắc Việt Tộc của giòng máu Việt Nam có mặt trong khắp năm châu bốn bể hiện nay.
 
Thánh Kinh chép rằng “Anh chị em là Nhà của Ðức Chúa Trời kiến tạo”(I Cô-rinh-tô 3:9). 
 
Lời của Ðức Chúa Trời cho Người Do Thái, cho Người Hi-lạp xa xưa hay là cho Người Việt nam ? Người Việt chúng ta với Chúa có mối liên hệ gì?
 
–Thật ra, có tương quan này rất mật thiết. Bởi vì, Con người là tạo vật do Chúa sáng tạo (Sáng 1:27) Chúng ta là Con của Trời như  trong nhận thức đơn sơ mà từ ngàn xưa Người Việt đã nói “Trời sanh, Trời nuôi, Trời ban phước, Trời giáng hoạ” và cuối đời người thì “Trời kêu ai, nấy dạ”, “Tới số chầu Trời”. Người Việt ý thức rằng cả mạng sống và sự chết đều do Trời định đoạt. Nhận thức ấy phù hợp với quan niệm Thần học Cơ Ðốc. Thánh Kinh cho biết trong mổi con người đều có nguyên tri nhận biết Ðức Chúa Trời. Chúa là Ðấng Tạo Hoá và cũng là Cha Thiên Thượng của nhân loại.
 
Trong kho tàng văn chương Việt nam, Người Việt từ  xa xưa đã nói về nguồn gốc mình trong  ca dao rằng:
“Ở đâu mà chẳng biết ta,
Ta con Ông Sấm cháu Bà Thiên Lôi.
Xưa kia ta ở trên trời,
Ðứt dây rớt xuống làm người thế gian”
Ðặc tính Người Việt là khôi hài, trào phúng! Ca dao trên dù  có cường điệu, hoặc châm biếm thì tự trong thâm tâm, Người Việt cảm biết cội nguồn mình không phải từ rừng rú, từ hang động, hay từ loài khỉ vượn người… mà là từ trên trời, nên nói “xưa kia ta ở trên trời” .
 
Ðồng quan điểm như Người Trung Hoa nói “Thiên sanh nhơn”(*5), nên mới gọi Trời là Thiên Thượng và nhân loại là Thiên Hạ. Từ thiên thượng! Sao bây giờ làm thiên hạ? Thiệt là kho’ trã lời, làm sao nói rỏ, nói cho tận cùng được?! nên xin thưa, tại vì “đứt dây rớt xuống làm người thế gian”. Thật ra, đứt dây thì không biết hư thực ra sao, nhưng “rớt xuống” thì chắc chắn có! Chúng ta đã đánh  mất địa vị nguyên thuỷ là Con của Trời, mà “rớt xuống, hiện hữu giữa  cuộc đời” này.
 
Thánh Kinh cho biết rỏ ràng hơn.
 
Chân lý từ  ẩn dụ của Chúa Jêsus kể, đã được ghi lại trong Luca 15, cho thấy thân phận chúng ta như  Ðứa con hoang đàng rơi vào tình trạng nghiệt ngã, tận cùng của xã hội. Như Con chiên lạc đã rớt xuống hố hầm tội lỗi,  vướng mắc vào những chông gai cuộc sống đầy đớn đau này. Dù là Con Trời nhưng vì tội lỗi ngăn cách chúng ta với Chúa, nên chúng ta “kêu Trời không thấu”,  giống như tiếng kêu bi thương của con chiên lạc (E^sai 53:6), những nổ lực tự cứu, tự giải thoát như  những bọt bong bóng xà phòng trò chơi hồn nhiên của trẻ thơ bị tan vỡ theo luồng gió. Hy vọng tan tành và chúng ta gục xuống trong chán chường tuyệt vọng (Rôm 3:23; 6:23; 3:10-12).
 
Giữa những bất ổn trong cuộc sống tâm linh như thế thì Cha Thiên Thượng đã bày tỏ tình thương yêu của Ngài cho chúng ta,  qua lời Thánh Kinh.
 
Thứ nhất, Cha Thiên Thượng tìm và cứu chúng ta bằng tình thương cứu giúp (Luca 15:1-7) Vì tình thương của một Người Cha, Ðức Chúa Trời không để chúng ta – những đứa con cách xa Nhà Chúa phải đau khổ miệt mài trong cuộc đời tội lỗi(Giăng 3:16). Chúa đã vào đời để tìm và cứu chúng ta (I Timôthê 1:15). Cơ đốc giáo không phải là xuất thế, mà là nhập thế để cứu thế. Chúa Jêsus nhập thể và giáng thế cứu vớt chúng sinh đang chìm đắm và hư mất trong tội lỗi (Rôma 5:8)  Như thể Người chăn  đi tìm và cứu vớt  con chiên lạc mất. “Khi tìm được, người liền vui mừng vác lên vai, mang về nhà…” Chúa đã  tìm và cứu chúng ta. Ngài vui mừng mang chúng ta về trong Mái Nhà của Chúa như người chăn nhân từ cứu vớt, bồng ẳm và chăm sóc chiên mình.
 
Thứ nhì, Cha Thiên Thượng phục hồi địa vị chúng ta khi trở về  Nhà Chúa (Luca 15:11-24). Lời Chúa cho biết, thân phận chúng ta giống như Người Con Trai út lìa bỏ Nhà Cha mang gia tài ra đi, nhưng bị tán gia bại sản, bị thất nghiệp và bị bạc đãi trong cuộc mưu sinh. Và rồi trong nỗi niềm đau khổ tuyệt vọng ấy thì mái nhà xưa hiện về trong tâm thức. Hình ảnh người Cha già đối xữ nhân hậu với mình và với những tôi tớ trong nhà ngày nào đã hiện rõ mồm một trong tâm trí. Trong tích tắc, trong một sát-na, Chàng “ngộ đốn”. Nhưng giác ngộ chưa đủ,  “đức tin phải có hành động” (*6)  nên người con đã quyết định, rời bỏ địa vị khốn khổ và trở về mái nhà thân thương của mình. Không phải hối hận khiến trở về, vì hối hận là chỉ quay lại với tâm linh mình; nhưng đây chính là lòng ăn năn. Lòng ăn năn là tâm linh chúng ta quay lại, hướng về Cha Thiên Thượng. Ðứa con đã trở về mái nhà xưa.  Tại đó, người Cha Già ngày đêm mõi mòn trông đợi con về, cho nên chỉ thấy bóng dáng con thì cha đã chạy ra “ôm lấy con mà hôn”. Trong nỗi niềm xúc động của cuộc hạnh ngộ, trong run rẩy tâm can, người con nói  “Cha ơi! Con đã phạm tội với Trời và với Cha, không đáng là con của Cha nữa. Xin cha xem con như một người làm thuê cho cha…” , nhưng trong vòng tay thương yêu vô biên của Cha, nó đã được phục hồi địa vị nguyên thủy với lời Cha tuyên bố mạnh mẽ rằng : “Hãy mau mau đem áo đẹp nhất mặc cho cậu, đeo nhẫn vào tay, mang giày vào chân. Cũng hãy bắt con bò tơ mập để làm tiệc ăn mừng, vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà tìm lại được”(Luca 15:22-24). Ðứa con đã được phục hồi địa vị nguyên thuỷ và sống hạnh phúc trong Mái ấm gia đình đích thực của mình.
 
 Trong một bửa cơm tối ấm cúng của gia đình,  con trai út tôi đã tâm sự : “Ba a ø! Sinh viên du học như tụi con mà có được một mái nhà. . . để về. . .là sung sướng lắm đó!” Tôi đã đọc được trong ánh mắt và giọng trầm ấm của nó một nổi niềm xúc động khi nói ra điều đó. Tôi hiểu con mình không có ý nói về căn nhà chúng tôi đang ở, mà chính là mái ấm gia đình của nó, trong đó có cha, có mẹ và các anh chị cùng chung sống với nhau.
 
Mái Nhà thật sự, Tổ A^’m thật sự của chúng ta chính là có được sự hiện diện của Cha Thiên Thượng trong tâm linh mình (Giăng 1:12, Rôma 8;4-15; II Côrinhtô  6:16b).

  

 
Trong một tác phẫm, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã khắc hoạ hình ảnh của Người Việt Nam  bằng lời : “Một ngày mùa đông, một người Việt Nam ra bên giòng sông, nhớ về cội nguồn, nhớ rừng mịt mùng. Từ đó ra đi. . . Nhớ về cội nguồn, giòng giống của Tiên”(*7)
  
Người Việt luôn  nhớ về cội nguồn và cội nguồn là giòng giống của Tiên.  Người Việt chúng ta thờ kính Tổ Tiên. Tổ Tiên là Thuỷ Tổ Con Người đầu tiên, nhưng xin mạo muội để hiểu trong ý nghĩa khác, rằng “Tổ” là Cái tổ của chim, là Mái Nhà của Chim Hồng Chim Lạc Việt Nam.
  
Trong di vật được khai quật, Văn Hoá Ðông Sơn, Trống Ðồng Ngọc Lũ còn rõ nét hoa văn  làm chứng tích. Mặt Trống Ðồng có khắc hình những con chim vươn cánh bay cao hướng về  ánh mặt trời rực sáng. Còn “Tiên” không phải là Phàm. Ý niệm Dân Gian Việt nam thì Tiên là người phi thường, có thể bay lên được và Tiên có cuộc sống hạnh phúc, như đã nói “muốn thành tiên”  hay “sướng như tiên”.
 
Tổ Tiên Người Việt là phi thường. Tổ Tiên có cội nguồn  từ  Thiên Thượng,  là “trên trời” chớ không chỉ  thuộc về hạ giới, là tổ phụ con người mà thôi. Tâm linh Việt luôn hướng thượng, vươn lên. Hình ảnh bay cao của chim Hồng chim Lạc tìm về  ánh mặt trời phản ảnh Người Việt tìm về cội nguồn Thiên Thượng. Khi thờ phượng Tổ Tiên, tâm linh chúng ta phải tìm về Cội nguồn Thiên Thượng mới là trọn đạo. 


 

 Nhưng sao trong thực tế một số người lại sống như Gà? Sao ta lại sống bươi rúc trong bụi bờ tối tăm, tìm miếng ăn trong rơm rác, trong cây cỏ phù du? Sao ai đó  ngạo nghễ cất tiếng gáy trong phồn vinh giả tạo?! Vài người quanh ta đã và đang sống trong những “Ổ gà” của đường đời , và không thể bay cao như cuộc sống của chim. Hãy hướng tâm hồn lên và cất cánh bay cao. Hãy “tung cánh chim tìm về tổ ấm”. Hãy ăn năn bằng đức tin và hành động như người con hoang đàng trở về trong Mái nhà Cha. Nơi đó, chúng ta được phục hồi địa vị nguyên thuỷ là Con của Ðức Chúa Trời (Giăng 1:12), để sống cuộc đời thiêng liêng, một cuộc sống có ý nghĩa trong Mái nhà Thiên Thượng.
 
Chúa Jêsus phán: “Hởi những ai lao khổ và nặng gánh ưu tư, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các con được yên nghỉ”(Mathiơ 11:28). Thánh Kinh đã phán rằng : Nhưng ai trông cậy nơi Chúa, sẽ được phục hồi sức mới, cất cánh bay cao như chim phượng hoàng; chạy mà không mệt nhọc, đi mà không kiệt sức.” (Eâsai 40:31). Mong thay.
      

Mục sư Nguyễn Văn Ðại.
North Carolina

  
 
*1 . Vũ Thế Bình , “Non Nước Việt nam” , Trg 58,
 NXB Tổng Cục  Du Lịch Việt nam, 2000.
*2. Cữu Long Giang-Toan Aùnh, “Người Việt Ðất Việt”
NXB Nam Chi Tùng Thư, 1967.
*3. Trịnh Công  Sơn,  Nhạc phẫm “Một cỏi đi về”
*4. Trần Trọng Kim, “Việt Nam Sử Lược”, trang
 NXB
*5. “Thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc”
      “Thiên sanh vạn vật, duy nhơn tối linh”
*6.  Thánh Kinh Tân Ước,  Sách Gia cơ 2:18.
*7. Trịnh Công Sơn, Nhạc phẫm “Một ngày Mùa Ðông”
 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/02/2010

Ba Mươi Năm Trước . . .


 

 

Trong buổi lễ Tấn Phong cho một Mục sư Việt Nam tại Mỹ,
 người ta nghe vị Tân Mục sư phát biểu cảm tưởng: 
    

 Mười năm trước đây, ba má tôi tìm mọi cách vượt qua khó khăn, giúp tôi đến Mỹ để học Lời Chúa. . .
Hai Mươi năm trước đây, tôi đã hứa nguyện dâng cuộc đời tôi để phục vụ Chúa.

 

Hôm nay, Chúa đã giúp tôi bước vào chức vụ. . .
 
Từ hàng ghế bên dưới, vài người đã nghe tiếng nấc nghẹn ngào của một cụ già, đầu tóc bạc phơ:
Chúa ơi! Cảm tạ ơn Ngài!
Ba mươi năm trước đây, vợ chồng con đã dâng nó cho Ngài. . .
 
 
 

 

 

 

Đăng bởi: nguoichanbay | 25/02/2010

Giọt Nắng

 
 
 Gia đình tui có ba anh em trai, không con gái. Ba thường nói vui với mọi người rằng “Tui không có con!” để đưa mọi người từ ngạc nhiên đến thắc mắc, rồi ba tui mới nói tiếp “. . . mà chỉ có ba thằng!”.
Nhờ sự dạy dỗ của cha mẹ, anh em tụi tui rất thương nhau. Nói như vậy không phải là lúc nào cũng trên thuận dưới hòa đâu à nha! mà trái lại tụi tui cãi lẫy dữ dội lắm! Anh ba tui nói “tụi mình cải đúng, chứ đâu có cải lộn!?”  Có điều nghĩ lại thấy cũng hay hay, ấy là sau một “trận khẩu chiến”, đứa nào sai thì phải xin lỗi, cho dù làm anh cũng phải xin lỗi như thường. Và trên hết mọi điều đó, ba má dạy tụi tui phải biết tha thứ cho nhau thì gia đình mới hạnh phúc được.
 
Thời gian qua nhanh, tụi tui lớn lên trong tình thương ấy. Các anh tui học hành đỗ đạt, có việc làm và cưới vợ, chỉ riêng tui là vừa học, vừa làm. Tui theo học ngành tâm lý giáo dục và làm việc trong một công ty để có tiền đi học. Cuộc sống tất bật và sự bận rộn trong công việc hàng ngày dễ cuốn hút chúng ta vào guồng máy “cơm áo gạo tiền”, mà quên đi mối tương giao thiêng liêng của tình gia đình, cho nên có nhiều gia đình ly tán, xa cách nhau. Tui vu vơ nghĩ ngợi . . . và lo sợ gia đình tui mất đi tình thương ngọt ngào mà tuổi thơ tụi tui trãi qua đầy hạnh phúc!
 
Theo truyền thống văn hóa Việt, những ngày cuối năm gia đình sum họp mừng đón năm mới. Các anh chị tui về thăm gia đình với thật nhiều quà cáp cho ba má và cho tui nữa. Tui không mừng vì quà,  mà vì tấm lòng của các anh chị dành cho tui và sự hiếu thảo đối với cha mẹ.         Tui mừng vì chúng tôi lại cười giỡn thâu đêm, nói chuyện huyên thuyên, nhắc lại những kỷ niệm năm xưa trong những trận cười như vở chợ. Tuy nhiên, vì công việc cuối năm trong công ty quá căng thẳng, nên tôi bị đau đầu kinh khủng. Nhưng nhờ có chị Ba lo thuốc cho tui uống, nên  hôm nay mới dậy nổi.
 
Sáng ba mươi, tui phải đi làm ngày cuối trước khi nghỉ tết. Tui thức dậy thật sớm trong khi mọi người còn say ngủ. Một cảm giác cô đơn xâm chiếm tâm hồn  tui trong cái giá lạnh đang bao trùm không gian tỉnh lặng quanh mình. Khi dẫn xe ra đến cổng thì tui bổng nghe tiếng gọi “Chú út !”, tui giật mình ngó lại thì thấy chị Hai tui mang cái xách cơm ăn trưa chạy ra, cái xách cơm mà má tui hằng ngày nấu nướng và gói ghém cả tình thương cho tui trong đó. Chị trao cái xách cơm cho tui và nói: “Chú ăn đở, chiều nay về sớm, má và chị làm cơm đặc biệt để gia đình chúng ta đón giao thừa.”
 
 
Tui chạy xe trong cái lạnh của ngày cuối đông với cái  cảm giác ấm áp trong tâm hồn mình. Tui có hai chị dâu thật tốt, nhưng sao tui lại nghĩ là chị dâu? Tui có hai chị gái đấy chứ? Tui rất hạnh phúc khi nghĩ về điều đó. Bổng nhiên trong đầu tui nảy ra một câu hỏi “Mình đã có chị gái rồi, mà chưa có… em gái !” Tui quyết định trong lòng rằng phải tìm cho ba má tui một “đứa con gái thứ ba” cho đủ bộ.  Tui bật mĩm cười vu vơ trong nắng xuân, nắng xuyên qua ngàn cây, kẻ lá,  kìa  “nàng xuân” tung tăng nhảy múa ẩn hiện giữa mù sương.
                              
 Phan Du Mục
 Đón Xuân  2008.
 
 
Đăng bởi: nguoichanbay | 25/02/2010

DOI DIEN CAM GO TRONG PHUC VU

Ðối  Diện

Cam  Go trong  Phục  vụ

 

“Hỡi những kẻ
 mệt mõi và gánh nặng,
 hãy đến cùng ta,
 ta sẽ cho các con được yên nghỉ,
Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường;
 nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta;
 thì linh hồn các con sẽ được
 yên nghỉ.Vì ách ta dễ chịu và
 gánh ta nhẹ nhàng.”
  
Mathiơ  11: 1 – 30
 
 Kính thưa Quý Mục sư, Truyền đạo, Bạn Ðồng lao thân kính,Thưa Các Tín hữu yêu quý trong Cộng ÐồngTin lành Việt nam,Cùng Bạn Ðọc thân ái .             Chúng ta đang sống và đối diện thường nhật với một thế giới tội lỗi, luôn luôn bất an và đầy dẫy những bất hòa. Từng ngày từng giờ từng phút từng giây từng sát na, thế giới cùng lòng người luôn biến đổi và giao động khôn nguôi. Từ trong hạn hẹp của mái gia đình cho đến sinh hoạt rộng lớn của cộng đồng, nan đề khi ẫn khi hiện như  những vết đen loang lổ, phá nát những sắc màu tươi đẹp của bức tranh cuộc sống. Sự cảm thông và mối tương giao bị gãy đổ vì ngôn ngữ bất đồng và lý tưởng bất hoà. Cũng có khi do lối sống đạo khập khểnh và tình trạng thuộc linh què quặt của một số Tín nhân đã biến thành rào cản gai góc, ngăn trở niềm tin của nhiều người trên đường tìm chân lý. Nhận thức thực trạng đáng buồn ấy, đối diện với những hụt hẩn chênh vênh ấy, không phải để bi lụy, ngã lòng , nãn chí; nhưng để chúng ta nhờ cậy Chúa, tìm giải pháp cho nan đề và vượt qua, nhờ sức toàn năng của Chúa.

 Cứu Chúa Giêxu cũng đã từng đối diện những cam go trong cuộc đời phục vụ.

 Kinh thánh sách Mathiơ 11:1 – 30,  giúp chúng ta học biết cách ứng xử của Chúa khi đối diện với cam go chức vụ, chính là giải pháp cho chúng ta trước nan đề.

 

             Bối cảnh của câu chuyện là sự khổ nạn của Giăng Báptít. Ông bị tù vì sự ngay thẳng và cương trực trong lời giảng của mình. Mặc dù Giăng Báptít là một người khiêm nhường, có ơn Chúa. Nhưng vì  ông sống trong tù lâu ngày, hoạn nạn đã bàu mòn tâm chí phục vụ, đưa đến lung lay niềm tin và sanh ra nghi ngờ. Ông sai môn đệ đến với Chúa mà hỏi rằng: “Thầy có phải là Ðấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi Ðấng khác chăng?”(Mathiơ 11:2-3).

 

            Chúng ta biết mối liên hệ mật thiết của Giăng Báptít và Chúa Giêxu trong những ngày trước đó. Ngoài mối liên hệ gia tộc, Giăng Báptit là Người Dọn Ðường cho Chúa (Mathiơ 3:1-12).Ông từng giới thiệu Chúa cùng đoàn dân: “Ta lấy nước mà làm báptem cho các ngươi ăn năn; song Ðấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Ðấng sẽ làm phép báptem cho các ngươi bằng Ðức Thánh Linh  và bằng lửa.”(3:11). Mối cảm thông trước đây, bây giờ  dường như bị gãy đổ.

            Trước sự nghi ngờ của Giăng Báptit, đối diện với hiểu lầm trong chức vụ, Chúa đã làm gì? Chúa Giêxu đã phán cùng các môn đồ của Giăng Báptit rằng: “Hãy về, thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy: Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng Tin lành. Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ ta.” (Mathiơ 11:4-6).

 

             Ðiều Chúa Giêxu đã làm là kêu gọi các môn đồ của Giăng  là “Hãy nhìn vào thực tế” (Nghe và thấy). Ðối với Chúa hành động và thực tế sẽ là câu trã lời hùng hồn nhất. Ngài không bắt lỗi Giăng, nhưng trân trọng Giăng trên nền tảng quan hệ trước đây, mặc dù Ngài có thể làm điều ấy. “Nếu là bạn thì không cần giải thích. Nếu là kẻ thù thì cũng chẳng cần giải thích”.

            Ðể giải quyết nan đề, Chúa Giêxu đã quý trọng đối tượng và xữ lý vấn đề bằng tình thương đối với bạn đồng lao của mình. Kinh thánh chép: “Khi họ ra về, Ðức Chúa Giêxu mới phán về việc Giăng cho đoàn dân nghe, rằng: Các ngươi đã xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy bị gió rung chăng? Các ngươi đi xem cái chi nữa? Có phải xem người mặc áo tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo tốt đẹp thì ở trong đền vua. Nhưng các ngươi lại đi xem cái chi nữa? Có phải xem Ðấng Tiên tri chăng? Phải, ta nói cùng các ngươi, cũng hơn Ðấng Tiên tri nữa…”(Mathiơ 11:7-15).

 

             Như vậy, trước sự hiểu lầm, Chúa Giêxu luôn luôn tìm ưu điểm của Giăng khi nói với người khác. Nhất là sau khi các môn đệ của Giăng đã ra về. Chúng ta thường có khuynh hướng nói “sau lưng” và nhìn thấy khuyết điểm nơi người khác nhiều hơn ưu điểm mà người ấy hiện có. Sau lưng các môn đồ của Giăng Báptit, Chúa Giêxu chỉ nói những ưu điểm mà thôi.

             Trong một buổi họp, một nhà tâm lý đưa lên một tờ giấy trắng có vẽ một chấm đen và hỏi cữ tọa: “Quý vị nhìn thấy gì?” Hầu hết mọi người trã lời nhanh: “Một chấm đen”. Tại sao không nói về tờ giấy trắng, nó lớn rất nhiều lần hơn cái chấm đen? Có phải những người ấy không nhìn thấy tờ giấy trắng? Không, họ đã nhìn thấy chứ, nhưng xu hướng con người từ trong tâm thức  thì những gì tốt, những gì đúng là lẽ đương nhiên, không cần đề cập nữa, chỉ  nói đến những sai trật, những lỗi lầm mà thôi!

 

            Một điểm đáng chú ý khác, ấy là Chúa Giêxu đối diện nan đề bằng tấm lòng cởi mở, rộng lượng. Ngài vượt lên những dị biệt cá nhân. Cho dù Giăng Báptit có phong cách, lối sống hoặc bề ngoài rất khác Chúa, nhưng Ngài “vượt lên tiểu dị, hướng đến đại đồng” trong lý tưởng phục vụ mà thôi. Kinh thánh chép về quan điểm của Chúa đối với dị biệt cá nhân giữa Ngài và Giăng Báptit, Chúa phán rằng: “Ta sẽ sánh dòng dõi này với ai? Dòng dõi này giống như con trẻ ngồi giữa chợ, kêu la cùng bạn mình, mà rằng: Ta đã thổi sáo, mà bây không nhảy múa; ta đã than vãn mà bây không khóc. Vì Giăng đã đến, không ăn, không uống, người ta nói rằng Giăng bị quỷ ám. Con người đến, hay ăn hay uống, thì họ nói rằng: Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với phường thâu thuế và kẻ xấu nết. Song le, sự khôn ngoan được xưng là phải, bởi những việc làm của sự ấy.”(Mathiơ 11:16-19)

 

            Khi đối diện nan đề, chúng ta thấy ảnh hưởng của dư luận quả là không nhỏ. Ðôi khi sự tác động của dư luận làm thiệt hại rất lớn, sự tổn thương và hậu quả thật tai hại khôn lường! Tuy nhiên, đối với Chúa, Ngài vượt lên cả dư luận, cả “tiếng thị phi” để tiếp tục phục vụ, mà không bị chao đảo từ hoàn cảnh cam go của chức vụ. Kinh thánh chép: “Vì Giăng đã đến, không ăn, không uống, người ta nói rằng: Giăng bị quỷ ám. Con người – Chúa Giêxu đến, hay ăn hay uống, thì họ nói rằng: Kìa là người ham mê ăn uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết” (Mathiơ 11:18-19a).

 

             Tiếng thị phi thường là sai, nhưng cũng có lúc cũng đúng, đúng theo góc độ của cái nhìn người phát biểu. Tuỳ theo quan điểm, nhận thức sự việc và tình cảm của người ấy mà lời phát biểu trở thành tán đồng, khen ngợi hay trở nên lời chỉ trích, lên án người khác. Ví như, cũng chỉ là một nhà giáo xách cặp đi dạy, người thương sẽ  nói “Thầy ấy đúng là một nhà mô phạm, đi đứng nghiêm trang”; người ghét thì phê phán: “Cái ông thầy thấy mà ghét, cái mặt thì kênh kiệu, đi thì te te, không thèm ngó đến ai hết.” Thật vậy, như người xưa đã nói “Lưỡi không xương nhiều phương uốn éo, miệng không vành mó méo lung tung”.Chúng ta không nên sợ tiếng thị phi, nhưng chúng ta nên cẫn trọng để tránh tiếng thị phi. Chúng ta sống thật vì chúng ta giảng chân lý.

 

            Có một bài học tuyệt vời ở đây về đối diện nan đề. Aáy là có những nan đề chúng ta không thể giải quyết được ngay. Nan đề đó được nhìn thấy trong “lăng kính gần” dường như là thất bại. Nan đề có thể là sự khước từ của con người. Sự chống đối của những người chúng ta đã từng yêu thương , ngay cả lòng phản bội từ những người chúng ta từng thi ân cho họ. Trong sự phục vụ nhân loại, Chúa Giêxu đã bị khước từ trước lòng cứng cỏi của dân thành Côraxin, thành Bếtsaiđa, và thành Cabênaum. Ðáng tiếc là Chúa đã rất yêu thương họ, Ngài cứu giúp và làm nhiều phép lạ, chữa lành bệnh tật cho họ, nhưng họ không tin nhận Ngài, nên không ăn năn (Mathiơ 11:20). Ðối diện nan đề này, Chúa Giêxu đã thoát ra khỏi thực tế phủ phàng ấy, Ngài phóng tầm nhìn vào tương lai, vào ngày phán xét phân minh, đen trắng, đúng sai rõ ràng trong sự công nghĩa tuyệt đối của Chúa.

            Kinh thánh chép: “Vì dân các thành mà Ðức Chúa Giêxu đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng: Khốn nạn cho mầy thành Côraxin! Khốn nạn cho mầy thành Bếtsaiđa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bây, đem làm trong thành Ty rơ và Si đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên, ta bảo bây, đến ngày phán xét, thành Ty rơ và thành Si đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn bây. Còn mầy, Cabênaum, là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa mày, đem làm trong thành Sô đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay. Vậy nên ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét xứ Sôđôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn mày”(Mathiơ 11:20-24).

 

             Chúng ta phục vụ không kết quả là chuyện bình thường, nhưng Chúa không kết quả mới lạ. Ngài giảng và làm phép lạ mà người ta vẫn từ chối Ngài, nhưng chính điều ấy trở nên bài học cho mỗi chúng ta khi đối diện nan đề trong phục vụ. Chúa muốn chúng ta vượt nghịch cảnh để hướng về tương lai, phó thác cho sự xét đoán công minh của Chúa trong ngày phán xét (Mathiơ 12:36; Rôma 14:12) “Nhưng họ sẽ khai trình với Ðấng đã sẳn sàng xét đoán kẻ sống và kẻ chết”      (I Phierơ 4:5)

            Thái độ cần có khi đối diện nan đề ấy là tinh thần lạc quan. Lạc quan trong nghịch cảnh. Làm sao có được? Chỉ khi nào chúng ta biết đó là ý Chúa trên đời sống thì chúng ta mới an tâm và vui sống được! Gia cơ từng khuyên nhủ các Tín hữu Do thái trong cơn hoạn nạn rằng: “ Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn.” (Giacơ 1:2).

            Giacơ không khuyên chúng ta sống giả hình, lòng đau đớn trong hoạn nạn thử thách mà làm bộ vui vẻ, nhưng Giacơ muốn chúng ta có một quan niệm sống hẳn hoi khi đối diện với hoạn nạn: Vui trong thử thách. Triết lý sống của Cơ đốc giáo không phải là bi quan, cho dù đời là bể khổ. Cũng không phải là lạc quan hưởng thụ vui thú mặc cho giòng đời trôi nổi ra sao! Triết lý Cơ Ðốc chính là bi lạc quan: “Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc” (Rôma 12:15). Chúng ta vui sống khi chia sẻ niềm vui, nổi buồn với tha nhân.Vui trong những ơn phước Chúa ban trong nghịch cảnh nhưng không thể dững dưng trước thãm cảnh của đồng bào, hoặc nhiễu nhương của Giáo hội. Quan niệm sống ấy phải thể hiện rõ trong cuộc đời phục vụ khi đối diện với cam go.

             Kinh thánh chép:“Lúc đó,” đó là lúc Chúa Giêxu đang đối diện nan đề, Ngài lạc quan mà cầu nguyện rằng : “Hỡi Cha, là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ cho những con trẻ hay. Thưa Cha, phải,  thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành. Mọi việc Cha ta đã giao cho ta; ngoài Cha không có ai biết Con, ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không ai biết Cha” (Mathiơ 11:25-27).

            Nhận biết ý Chúa trong mọi hoàn cảnh sẽ giúp ta vui sống, sống lạc quan. Trong mọi tình huống, trong sóng gió của thử thách, chúng ta nhìn biết ý chỉ Ðức Chúa Trời trên đời sống ,”Vì Cha thấy điều đó là tốt lành”.

 

            Người Việt có ngôn ngữ thật phong phú. Trong Tiếng Việt có hai cách đánh vần chữ “khổ”. Cách thứ nhất là “khờ – ô – khô – hỏi – khổ”, thật vậy, thấy cái mặt khờ khạo, thãm não biết rằng người ấy quá khổ. Cách đánh vần thứ hai là “Ca – hát – ô – khô – hỏi – khổ”, ca hát trong cái khổ, dù khổ mà vẫn ca vẫn hát. Ðó là cách sống của Người có Chúa. Khi đối diện với nghịch cảnh nhờ sức của Chúa ban cho chúng ta đối diện và vượt qua thử thách trong con đường phục vụ cam go.

            Ðiều cuối cùng mà chúng ta học từ Chúa Giêxu khi đối diện nan đề, ấy là tinh thần chia sẻ gánh nặng cho nhau. Trong khi đối diện nan đề của chức vụ, Chúa Giêxu vẫn sẳn sàng chia sẻ những gánh nặng của mọi người. Chúa phán: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng”.(Mathiơ 11:28-30).

             Có thể chúng ta suy nghỉ rằng Ngài là Chúa nên mới làm được điều phi thường đó, còn chúng ta là con người xác thịt yếu đuối làm sao thực hiện được!? Nhưng lời kêu gọi của Chúa kèm theo một giải pháp tuyệt vời, ấy là khi chúng ta đến với Chúa,  chúng ta sẽ được yên nghỉ. Khi đối diện với nan đề, điều cần thiết hơn hết đó là đến với Chúa, Ngài sẽ ban cho chúng ta tấm lòng nhẹ nhàng, lạc quan. Chúa sẽ ban cho chúng ta an tâm trong sự nghỉ ngơi, tịnh dưỡng. Nhưng chúng ta  không được dừng lại tại đó, Chúa chia sẻ gánh nặng cho mọi người, nên chúng ta phải học theo Chúa và đứng lên, mạnh mẽ phục vụ mọi người. Nếu chỉ đến với Chúa kêu cầu rồi tiếp tục sống trong bi lụy, đau khổ, chúng ta sẽ chán chường và mệt mõi. Khi chúng ta dấn thân chia sẻ, phục vụ người khác thì  chúng ta sẽ vui sống.

             Mục sư Moody đã nói: “Khi anh ban cho, ấy là lúc anh nhận lảnh”. Vâng, sự ban cho và  chia sẻ cho người khác khi chúng ta đang sống trong nan đề, không phải là một điều dễ dàng thực hiện. Nó là một cái ách, một gánh nặng, nhưng là “cái ách dễ chịu và là gánh nhẹ nhàng”  cho đời sống phục vụ của chúng ta. Chúa Giêxu đã phán như vậy.

            Ðể có được sự yên nghỉ thực sự trong nội tâm trước nan đề cuộc sống, chúng ta phải học theo Chúa của chúng ta. Vâng, giải pháp của Chúa Giêxu khi đối diện nan đề là bài học tuyệt vời và khôn cùng của những người phục vụ Chúa hôm nay.

Mục sư Nguyễn văn Ðại

 
Đăng bởi: nguoichanbay | 11/02/2010

BÌNH ÐẴNG NAM NỮ

Vấn  Ðề

BÌNH  ÐẴNG  NAM  NỮ

 Trong  Cộng  Ðồng Tin Lành

 VIỆT NAM

BỐ CỤC

 
I. DẪN NHẬP
A. Ðặt Vấn Ðề
B. Phạm Vi Vấn Ðề
 
II. BỐI CẢNH
A. Quan Ðiểm
B. Bối cảnh Lịch sử
C. Bối cảnh Văn Hóa
D. Bối Cảnh Văn Chương, Ngôn Ngữ
E. Bối cảnh Pháp Lý
 
III. THỰC TRẠNG BÌNH ÐẲNG NAM NỮ TRONG CỘNG ÐỒNG TIN LÀNH VIỆT NAM
A. Sự Bất Bình Ðẳng Nam Nữ của Cộng Ðồng Tin Lành trong Sinh hoạt tại Nhà thờ.
B. Sự Bất Bình Ðẳng Nam Nữ trong Cấu Trúc Lãnh Ðạo Hội Thánh
l. Chức vụ Mục sư Quản Nhiệm.
2. Chức vụ Nữ Truyền đạo
3. Ban Trị sự Tổng Liên Hội và Ban Ðại Diện Tỉnh, Thành Phố.
C. Sự Bất Bình Ðẳng Nam Nữ trong Cộng Ðồng Tin Lành tại Gia đình Tín hữu
 
IV. ÐI TÌM VẤN ÐỀ CỐT LÕI.
A. Từ Truyền Thống đến Ý thức hệ.
B. Từ Gia Ðình đến HộiThánh
C. Từ Ấu nhi đến Phụ Lão
 
V. SUY TƯ THẦN HỌC VỀ VẤN ÐỀ BÌNH ÐẲNG NAM NỮ TRONG KINH THÁNH.
A. Vài Nét Về Những Quan Niệm Thần Học Hiện Ðại về Phụ Nữ .
B.  Quan niện Thần Học: Ðức Chúa Trời là Nam Thần hay Nữ Thần?
C. Vài Nét nhận định Phúc Âm Hội Nhập Văn Hoá về Nữ Quyền tại Việt nam:
D. Ðức Chúa Jêsus  là Ðấng Giải Phóng Phụ Nữ.
E. Quan niệm Vai Trò Phụ Nữ trong Thư Tín Phao-lô.
1. Thực trạng vai trò người nữ trong Hội thánh Cô-rinh-tô.
a)Bối cảnh Hội Thánh Cô-rinh-tô.
b)Vấn Nạn của Phụ nữ trong Hội thánh tại Côrinhtô.
2. Quan điểm Thánh Kinh qua Sứ đồ Phao-lô về Vai trò Người Nữ.
a)Vấn đề Bình đẳng trong Hội Thánh .
b)Vấn đề Trật tự trong Hội Thánh.
3. Bài học Ứng Dụng cho Phụ nữ Tin lành Việt nam ngày nay.
 
VI. MÔ HÌNH GIẢI PHÁP BÌNH ÐẲNG NAM NỮ TRONG CỘNG ÐỒNG TIN LÀNH VIỆT NAM.
A. Bình Ðẳng Nam Nữ trong Gia đình Tín Hữu.
B. Bình Ðẳng Nam Nữ trong sinh hoạt tại Nhà thờ.
     C. Bình Ðẳng Nam Nữ trong Cấu Trúc Lãnh Ðạo.
 
VII. KẾT LUẬN.
 
           * THƯ MỤC
*********************************************

 

I. PHẦN DẪN NHẬP

A. ÐẶT VẤN ÐỀ:

Năm 1980, tôi được gặp Giáo sư Tạ Văn Huời, một Giáo viên Biệt phái từ Bộ Giáo Dục về bộ Tổng Tham Mưu trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà tại Sàigòn. Ông tham gia Chiến dịch Phượng Hoàng trong phần hành tư vấn cho Các Tướng Lãnh ứng dụng triết học Ðông Phương cho chiến tranh. Chúng tôi rất tâm đắc trong những lần thảo luận về văn hoá, đặc biệt về vấn đề “Thân phận người phụ nữ Việt Nam xưa và nay.”  Trong bối cảnh xã hội Việt nam chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hoá Trung Hoa, Người Phụ nữ chịu lẫn quẫn trong quan niệm Tam Tòng Tứ Ðức, như thể “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” mới nên “công, dung, ngôn, hạnh.”của một người phụ nữ  .
Giáo sư Huời nhìn từ khía cạnh triết Việt về người phụ nữ Việt Nam rằng: “Thật tội nghiệp cho Người Phụ nữ Việt Nam bởi vì cả cuộc đời phải gắn bó với nhà cha trong tuổi thơ, với nhà chồng trong thời thanh xuân, và với nhà con trong tuổi già.  Cả đời tận tuỵ, khuya tối sớm hôm, siêng năng làm lụng mà chẳng có nhà nào của mình!?” Bởi vì, đó chính là tâm tình đáng có của một con trong nhà cha, một người vợ trong mái gia đình,  và một người mẹ đối với con cái. Vai trò Người Phụ Nữ Việt Nam thật cao quý. Những thiệt thòi trong thân phận người Phụ Nữ Việt nam, cả một cuộc đời nói lên sự hy sinh cao cả, quên mình sống cho mọi người, và trong một xã hội thu nhỏ là gia đình của riêng mình.
Thế rồi, quan niệm đó theo ngày tháng dần dà trở thành nếp sống văn hoá sâu đậm trong tâm hồn Người Phụ Nữ Việt Nam. Văn hoá là đời sống. Có những điều thuộc về lãnh vực văn hoá không cần học hỏi từ trường lớp, nhưng chỉ vô tình hay do thói quen trong gia đình hoặc dân tộc truyền đạt cho hậu thế học được trong nếp sống thường nhật, thí dụ như cách cầm đủa của chúng ta chẳng hạn. Là Người Việt nam, chúng ta học từ nhỏ trong gia đình chỉ dạy mà không cần thầy giáo hoặc đến trường học. Cho nên, Quan niệm về Sự thiệt thòi của Người Phụ Nữ Việt nam qua nhiều thời đại, được xem như đức hy sinh cần phải có trong vai trò Người Phụ nữ Việt nam hiện đại.
Tệ hơn nữa, với nền văn hoá ảnh hưởng Bắc Thuộc với nền giáo dục Trung Hoa phong kiến, xem vai trò Người Phụ Nữ quá thấp trong xã hội, điển hình là Tam Tòng, như thượng dẫn. “Tòng” ở đây có nghĩa là “tuỳ thuộc” là “theo”. Sống trong nhà phụ thuộc cha, về nhà chồng “tuỳ thuộc” chồng và phải lệ thuộc gia đình chồng “nhập gia tuỳ tục”. Một mai, chồng chết thì tuỳ thuộc con, phải sống theo con, nhờ con nhờ cháu. Tôi dùng chữ “phải sống theo con” ở đây theo quan niệm vô hình chung là “bắt buộc”, bởi vì nếu sau khi chồng chết, người Phụ Nữ “đi thêm bước nữa” cho hạnh phúc riêng tư của mình, thì xã hội lên án. Cho dù, việc ‘tái giá” có trăm ngàn lý do hay mục đích chân chính nào đi nữa, thì cái nhìn của xã hội về phẩm cách đạo đức của người ấy dường như đã mất mát trong lòng những người thân và những người xung quanh. Hơn nữa, Cái giá trị của Người Phụ Nữ được định thức trong văn hoá phong kiến Bắc thuộc (Trung Hoa) là “Nhất Nam viết hữu, Thập Nữ viết vô”, tạm dịch là “Một Người Nam thì kể là có, còn mười Người Nữ thì kể là không” vẫn còn đứng vững một cách kiên cố trong tâm thức của Những Người Việt bảo thủ, nếu không muốn nói là hủ lậu.

Vào tháng 4 Năm 1990, tôi có hân hạnh tham dự Hội Nghị tại Ấn Ðộ của Tổ Chức Phát triển Hội Thánh Châu Á Thái Bình Dương, trực thuộc Hiệp Hội Nhà Thờ Thế Giới (WWC), về đề tài “Làm Thần Học Giải Phóng Phụ Nữ Châu Á Thái Bình Dương”. Chương trình thực hiện hai tuần lễ tại Một Trung Tâm Truyền Giáo của Hội Truyền Giáo Người Ðức tại Thành Phố Taminnadu, Tỉnh Madrat, phía nam Ấn độ. Hội nghị quy tụ Những Mục sư Trẻ, Chấp sự, Những Nhà Hoạt Ðộng Xã Hội từ 14 quốc gia trong khu vực. Các quốc gia được mời hầu hết đều có Nan đề về Phụ Nữ trong Hội Thánh và Xã Hội, thí dụ như Giá trị Người Phụ Nữ quá thấp trong Xã Hội Pakistan (chỉ 150 Rubi) thì có thể mua một người làm vợ, Và hủ tục đa thê vẫn còn hiện hữu trong nhiều quốc gia Châu Á. Hội nghị đi tìm cách giải quyết vấn đề này ra sao, khi một người Ðàn ông tin Chúa sẽ đưa cả đại gia đình nhiều vợ của mình vào Hội Thánh!?  Tuy không được hiểu hết toàn diện những vấn đề thần học vì hạn chế vốn luyến anh ngữ , nhưng qua người thông dịch chúng tôi cũng nắm được một số vấn đề căn bản. Từ đó, vấn đề Bình đẳng Nam Nữ trong Hội Thánh luôn luôn thoi thúc trong tôi, với mong ước nghiên cứu và học hỏi nhiều hơn để giúp đỡ cho Hội Thánh .

Nhìn lại, từ năm 1911, Tin lành đã đến Việt Nam, tính đến nay gần 100 năm, nhưng so với bề dày của Việt sử 4000 năm, thì thời gian một thế kỷ quả là ít ỏi cho Phúc Âm có thể Hội Nhập và thay đổi Văn Hoá, hay chí ít là ảnh hưởng đến Xã Hội Việt Nam. Trái lại, văn hoá phong kiến đã hằn sâu trong tâm thức Người Việt, nên với hành trang cố hữu ấy, Người Việt tin Chúa trong từng thời kỳ đã mang định kiến về giá trị Phụ Nữ thấp kém hơn Quý Ông vào trong Hội Thánh Tin lành Việt Nam từ xa xưa; và quan niệm về vai trò hy sinh của Người Phụ Nữ vẫn còn hiện hữu trong Cộng Ðồng Tin lành Việt nam ngày nay. Chúng tôi dùng từ “Cộng Ðồng” để mở rộng đề tài cho tất cả Hệ phái Tin lành hiện đang hoạt động giữa Người Việt trong Nước và Hải Ngoại. Quan niệm cổ hủ, phong kiến ấy đã vô hình chung, giới hạn vai trò Người Phụ Nữ Tin lành Việt nam trong nhiều lãnh vực, như “không được nói trước hội chúng, hạn chế cầu nguyện giữa đám đông, không được làm những chức vụ lãnh đạo chính hay chủ chốt, hạn chế số thành viên nữ trong Ban Chấp sự, và Phụ Nữ không được làm Mục sư. . .” Chúng tôi sẽ phân tích kỷ hơn trong phần Những vấn đề Bất Bình đẳng trong Cộng đồng Tin lành Việt nam trong chương sau.  Ðó cũng chính là vấn đề mà trong bài tiểu luận này chúng tôi đang đối diện và đi tìm giải pháp. Một giải pháp khả thi cho Vấn đề Nam Nữ Bình Ðẳng trong Cộng Ðồng Tin Lành tại Việt Nam hiện nay.

Ðặc biệt, trong khi nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy những vấn nạn nêu trên tương đồng với tình trạng của Hội Thánh Cô-rinh-tô ngày xưa, trong thế kỷ thứ nhất, như là Người Phụ nữ có được phép cầu nguyện và nói tiên tri không? Người Phụ nữ phải trùm đầu và cầu nguyện theo văn hoá không?(I Cô-rinh-tô 11:5-6). Người Phụ Nữ có được phép “nói huyên thuyên” trong Hội chúng không? Tại sao họ phải nín lặng? (I Cô-rinh-tô 14:9; 34-35). Tại sao trong khi sứ đồ Phao lô tuyên bố rằng: “Tại đây không còn chia ra người Giu đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Ðức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một.” (Ga-la-ti 3:28), thi Hội Thánh vẫn còn phân biệt nam nữ trong sinh nhoạt và thờ phượng Ðức Chúa Trời?
 Lịch sử thường tái lập. Bài học lịch sử luôn luôn có một giá trị nhất định, nhất là bài học lịch sử từ Thánh Kinh, là Lời Ðức Chúa Trời. Chúng tôi suy tư những vấn đề trên qua sự dạy dỗ của Chúa Jêsus. Chúng tôi nghiên cứu và đi tìm giải pháp qua các thư tín Tân Ước và đặc biệt thư tín Cô-rinh-tô của Sứ đồ Phao-lô, nhà Truyền Giáo lỗi lạc thời Hội thánh đầu tiên. Ước ao ứng dụng những bài học thực tiển từ Kinh Thánh để bênh vực những thiệt thòi và tìm giải pháp áp dụng cho vai trò Người Phụ Nữ Tin lành hiện nay; đồng thời phát triễn những chức năng nổi trội và tiềm ẫn trong Những Phụ Nữ Tin Kính để họ có môi trường, điều kiện phục vụ cho Hội Thánh của Ðức Chúa Trời .

B. PHẠM VI VẤN ÐỀ:

Tuy nhiên, trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này, chúng tôi chỉ đề cập đến bối cảnh xã hội Việt Nam trên bình diện truyền thống lịch sử.  Trên nền tảng đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn những vấn đề nhạy cảm trong quan hệ giữa nam giới và nữ giới, đặc biệt vấn đề bình quyền đối với nữ giới trong cộng đồng Tin Lành Việt Nam. Trong bối cảnh đó, đề cập đến luật pháp hiện hành là cơ sở mở đầu cho sự bình đẳng nam nữ trong xã hội hiện nay.  Qua đó, chúng ta cùng nhau suy nghĩ đến  giải pháp vấn đề bình đẳng nam nữ trong mối tương quan với các yếu tố khác của xã hội.
Phạm vi bài viết sẽ được giới hạn trong Cộng đồng Tin lành  để phân biệt với Nhà thờ Tin Lành hay Hội thánh Tin Lành trong ý nghĩa một tổ chức Tôn Giáo trong xã hội.  Hơn nữa, Khi nói đến Cộng đồng Tin Lành là chúng tôi có ý nói đến Hội thánh Ðức Chúa Trời, bao gồm những Tín nhân sống đạo không chỉ tại nhà thờ, hay trong nhà riêng, mà chúng tôi muốn đề cập đến vai trò Người Phụ Nữ Tin lành cần sống đạo giữa xã hội. Chúng tôi cẩn trọng luận đến sự bất bình đẳng nam nữ trong cấu trúc  gia đình Cơ Ðốc, Hội thánh địa phương và Tổ chức Giáo hội Tin Lành Việt nam. Qua đó, bài viết thử đi tìm một giải pháp thực nghiệm cho sự sống đạo và cải cách mục vụ Cơ Ðốc trong cơ cấu tổ chức của người Tin Lành, với mong ước được hoàn thiện hơn. Muốn thực hiện mục tiêu thuộc linh cao cả đó, chúng tôi nghiên cứu đến ý chỉ đạo đức của Ðức Chúa Trời về Nữ Quyền qua Kinh Thánh trong vấn đề này để làm kim chỉ nam cho mục vụ. Sự bình đẵng nam nữ của Cộng đồng Tin Lành là tiêu chuẩn sống đạo đức trong gia đình và là gương mẫu sinh động trong Cộng đồng Dân tộc, thu hút nhũng người khác trong xã hội đến với Chúa. 

Ðức Chúa Jêsus  dạy: “Sự sáng các con hãy chiếu sáng trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các con và ngợi khen Cha các con ở trên trời.” (Mathiơ 5:16) “Nếu các con yêu thương nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các con là môn đồ ta.” (Giăng 13:35).

Đăng bởi: nguoichanbay | 10/02/2010

Đăng bởi: nguoichanbay | 10/02/2010

MÊNH MÔNG VÙNG LŨ THÁP MƯỜI

 Chị – một thiếu nữ thành phố, vì yêu anh nên chị theo về quê chung sống để phục vụ Hội Thánh. Lương của Truyền Ðạo nghèo mà vui. Chị học làm ruộng, cày cấy như bao cô gái đảm đang của Ðồng Tháp Mười. Hạnh phúc anh chị bao la và nồng nàn trong hương lúa chín vàng đồng.
 Rồi, lũ năm nay về sớm hơn dự tính. Nông dân trở tay không kịp, mùa màng mất trắng. Mọi người đói trong mênh mông mùa lũ. Tôi nôn nã về Ðồng Tháp Mười trong niềm đau của người con xa xứ. 
 Vượt đường dài, tôi về đến Tháp Mười giữa biển nước mênh mông. Con người chợt cảm thấy nhỏ nhoi giữa thiên nhiên. Một ít quà tương trợ chớ không dám gọi là “cứu trợ”, gói ghém theo một chút tình cảm bạn bè thâm giao. Ghe anh đón tôi từ Tam Nông vào Phú Cường vì đường bộ đã ngập chìm trong biển nước. Tôi điếng người qua mấy dòng xoáy của biển lũ. Ðôi mắt xa xăm, anh vừa chèo ghe vừa kể chuyện mùa lũ năm xưa. Lũ đến cuồng nộ rồi hung hãn ra đi, mang theo đứa con đầu lòng của anh chị. Một chút im lặng,  tôi chỉ còn nghe tiếng dầm chèo xé nước ngọt lịm, hay là cảm giác  tái tê, xé lòng của một người cha. “Cảm ơn Chúa”, anh kể tiếp: Chúa lại cho đứa con trai khác, mình đặt lại tên giống như  đứa con đầu.  Anh kể tiếp những gian khổ trong cuộc đời phục vụ Chúa. Tâm chí anh chị thật bao la.
 . . .
 Mặt trời vội xuống phía tây rồi ngụp lặn cùng biển nước, báo hiệu giờ phút thăm nhau qua mau. Ghe rời căn nhà thờ bằng gỗ, lợp tôn xiêu vẹo, nhưng từng ngấn phén vàng sẫm đóng trên vách nhà thờ, chứng tích của mực nước những ngày qua vẫn hằn trong tâm trí chúng tôi bao kỷ niệm. Nhìn lại từ xa, tôi thấy chị vẫy tay nói vói theo, gửi lời thăm vợ tôi. Chị đứng đó dáng hao gầy in bóng giữa biển nước bao la – Ấn tượng quá!  Bất chợt tôi tự hỏi: “Ðiều gi đã giữ chân người thiếu nữ thành phố cứ ở lại mãi vùng biển nước mênh mông này”. Tôi không trả lời được, nhưng tôi cảm nhận được một cái gì đó thật “bao la vô biên”. Phải chăng đó là tấm lòng tận hiến, sống cho Chúa dấu yêu? Phải rồi!  cho dù nước  lũ dâng cao nhưng lý tưởng phục vụ của anh chị còn cao hơn cơn lũ. Lũ đáng ghét hay thân thương?! Mà sao người ta vẫn sống với lũ? Làm sao trả lời được, bởi vì trong hãi hùng cuồng cuộng đó, lại có bóng dáng người con yêu dấu của mình?!   Bâng quơ, tôi cúi người đưa tay xuống bên mạn ghe, vóc nước rửa mặt. Nước lũ mặn, hay là nước mắt tôi?!

Đăng bởi: nguoichanbay | 29/01/2010

Lạnh Ca-li


Ði công tác bằng máy bay trong những hành trình xa thì thật vất vả, vì chúng ta phải chuyển máy bay một đôi lần, nhưng điều ấy cũng có cái lý thú của nó. Thời gian chờ đợi chuyến bay kế tiếp là thời gian nhẹ nhàng và lý thú nhất của tôi. Một phần là thời gian ngắn nên không làm được gì cả, một phần khác thì đó là lúc tôi được tách ra khỏi hàng khối công việc bận rộn của văn phòng. Với thời gian đó, đôi khi tôi tận dụng sọan một văn thư, hoặc viết vội đôi dòng cảm nghĩ của chuyến hành trình.

Trong một chuyến công tác hải ngọai, tôi chuyển máy bay ở phi trường Los Angles của Tiểu bang California, Hoa Kỳ. Lần chờ đợi này có phần khác hơn thường lệ. Tôi phải mất bốn tiếng đồng hồ mới đến chuyến bay kế tiếp.  Nhưng tôi không phải ngồi chờ, vì lần này tôi hẹn gặp một đứa cháu đang là du học sinh tại Hoa kỳ.

Ðón tôi ở phòng chờ đợi, cháu mời tôi đi ăn ở một quán cơm Việt nam cách phi trường khỏang hai mươi phút lái xe. Chúng tôi tãn bộ đến bãi đậu xe, vừa đi vừa nói chuyện huyên thuyên, lại cười như vở chợ. Phi trường Ca-li rực rỡ ánh đèn, chúng tôi bước nhanh dưới cơn mưa lất phất, gió se lạnh. Cái lạnh khó chịu của tiết trời cuối đông, nhưng ấm lòng những con người tha hương trong những lần gặp gỡ người thân.

Cháu chở tôi đi bằng chiếc xe hơi cũ kỹ nhưng máy vẫn còn tốt. Tuy nhiên, có điều tức cười, cái cửa xe phía tôi ngồi bị hư phần kính. Cái kính xe không quay lên được, chỉ nằm chơ vơ một nửa. Thế là tôi lảnh trọn gói cái lạnh của Ca-li cuối đông.

Bửa cơm Việt nam tuy vẫn là những thức ăn cố hữu nhưng rất ngon miệng nơi đất lạ quê người. Canh chua cá thật nóng làm ấm lòng người xa quê, thịt kho tộ mặn mòi tình nghĩa, mấy lát cà chua đỏ thắm nỗi bậc trên dĩa rau xanh tươi tắn, tạo thành nét hài hòa màu sắc và dinh dưỡng theo triết lý thực phẫm Âm Dương của Dân Tộc Việt. Vừa ăn cháu kể tôi nghe chuyện cuộc sống, chuyện học hành. Sáu năm qua, cháu học xong chương trình cữ nhân và cao học, hiện đang cố gắng theo chương trình tiến sĩ với hòai bảo sớm hòan tất để về lại quê nhà. Cũng vì vừa học vừa làm thêm nên đời sống eo hẹp, thật vất vả. Gia đình cháu ở Việt nam cũng chẳng khá giả gì!

Cháu đưa tôi trở lại phi trường. Ðêm xuống đã lâu. Xe chạy trên xa lộ thật nhanh. Trời không còn mưa nữa, nhưng cái lạnh hình như tăng thêm, tôi lạnh buốt bên cái cửa kính xe nửa chừng đó. Chúng tôi tự dưng yên lặng, không ai nói một lời nào. Có lẽ đã nói quá nhiều hay là không còn gì để nói!  Tôi miên man suy nghĩ đến nổi cơ cực của một sinh viên trên đất lạ quê người, vừa học vừa kiếm tiền mưu sinh đâu phải dễ! Tôi nghĩ, có lẽ cháu buồn vì chúng tôi sắp chia tay. Ðến phòng chờ đợi, cháu chửng chạt bắt tay tôi từ giả, cháu nói:
– Cháu cám ơn chú đã thăm con.
– Chú cám ơn con mới đúng chứ, vì đã đải chú bửa cơm ngon lành. Tôi nói như vậy và xiết chặc bàn tay cháu.
– Thưa chú!  Giọng cháu trầm xuống và nói thật chậm.
– Con xin lỗi chú vì đã để chú bị lạnh trong xe. Ðáng lẽ con đã sửa xe rồi, nhưng con đã dành dụm tiền gởi về cho ba má bên nhà…

Nói xong nó nở một nụ cười rạng rỡ và quay lưng đi, cái dáng đi chửng chạt của người con trai trưởng thành. Nhưng nó đâu có thể giấu tôi được, khi nói đến ba mẹ ở quê nhà thì tôi thấy đôi mắt nó đã ứa lệ. Nó đã quay lưng bước đi để giấu tôi. Từ xa tôi thấy cháu rút khăn tay lau nước mắt.

Dõi theo bóng cháu cho đến khi mất hút, tôi mới ngồi xuống ghế nơi phòng chờ đợi chuyến bay. Tôi lấy giấy ra viết cảm nghĩ lòng mình, nhưng không thể viết được… có lẽ là do bàn tay tôi bị lạnh cóng hay là do những giọt nước mắt nóng hổi vô tình rơi xuống làm trang giấy nhạt nhòe…

« Newer Posts - Older Posts »

Chuyên mục